Tài liệu Hình tượng tác giả trong cung oán ngâm khúc của nguyễn gia thiều

  • Số trang: 124 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 467 |
  • Lượt tải: 1
tructuyentailieu

Tham gia: 25/05/2016

Mô tả:

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ THU HẰNG HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC CỦA NGUYỄN GIA THIỀU Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM Mã số: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRƯƠNG XUÂN TIẾU Vinh – 2010 2 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS. Trương Xuân Tiếu, người đã hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn. Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ về tài liệu và những ý kiến đóng góp chân thành, quý báu của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn Trường Đại học Vinh, của các nhà khoa học, cũng như sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới thầy giáo Trương Xuân Tiếu, các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Vinh, các nhà khoa học, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Vinh, tháng 12, năm 2010. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng 3 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ……………………………………………………………….. 1 1. Lí do chọn đề tài …………………………………………………….. 2. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………….. 3. Mục đích yêu cầu ……………………………………………………. 3.1. Mục đích …………………………………………………………… 3.2. Yêu cầu …………………………………………………………….. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………………………………….. 4.1. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………... 4.2. Phạm vi nghiên cứu ……………………………………………… 5. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………… 6. Đóng góp của luận văn ……………………………………………… 7. Cấu trúc của luận văn ………………………………………………. Chương 1: THỂ LOẠI NGÂM KHÚC VÀ VẤN ĐỀ HÌNH TƯỢNG 1 1 8 8 9 9 9 9 9 10 10 TÁC GIẢ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC CỦA NGUYỄN GIA THIỀU ………………………………………………... 1.1. Thể loại ngâm khúc ……………………………………………….. 1.1.1. Khái niệm ………………………………………………………... 1.1.2. Các đặc trưng của thể loại ngâm khúc ………………………… 1.1.2.1. Về nội dung ……………………………………………………. 1.1.2.2. Về hình thức …………………………………………………… 1.2. Vấn đề hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều ……………………………………………………... 1.2.1. Những cơ sở để tìm hiểu hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều …………………………………….. 1.2.1.1. Về thời đại Nguyễn Gia Thiều sinh sống …………………….. 1.2.1.2. Về bản thân cá nhân Nguyễn Gia Thiều …………………….. 1.2.2. Nguyễn Gia Thiều với tác phẩm Cung oán ngâm khúc ……….. 1.2.2.1. Đề tài cung oán ………………………………………………... 1.2.2.2. Tác phẩm Cung oán ngâm khúc ………………………………. 1.3. Giới thuyết về hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học …….. 1.3.1. Tác giả văn học ………………………………………………….. 1.3.2. Hình tượng tác giả văn học …………………………………….. Chương 2: CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VÀ SỰ TỰ THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC CỦA NGUYỄN GIA THIỀU …………………………………………. 11 11 11 14 14 15 17 17 17 19 21 21 23 25 25 27 30 4 2.1. Cái nhìn nghệ thuật trong Cung oán ngâm khúc ………………… 2.1.1. Giới thuyết về cái nhìn nghệ thuật …………………………….. 2.1.2. Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc ………………………………………………………………. 2.1.2.1. Cái nhìn về cuộc đời …………………………………………... 2.1.2.2. Cái nhìn về con người ………………………………………… 2.2. Sự tự thể hiện trong Cung oán ngâm khúc ……………………….. 2.2.1. Giới thuyết về sự tự thể hiện …………………………………… 2.2.2. Sự tự thể hiện của Nguyễn Gia Thiều …………………………. 2.2.2.1. Một cái tôi khẳng định sắc đẹp, tài năng …………………….. 2.2.2.2. Một cái tôi hoài niệm quá khứ ……………………………….. 2.2.2.3. Một cái tôi bất mãn, chán chường trước thực tại …………… 2.2.2.4. Một cái tôi với khát vọng hạnh phúc mong manh…………... Chương 3: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC 30 30 31 31 41 47 47 49 49 54 57 62 68 THỂ HIỆN QUA GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 3.1. Giọng điệu nghệ thuật trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia 68 Thiều ………………………………………………………………. 3.1.1. Giới thuyết về giọng điệu nghệ thuật …………………………... 3.1.2. Giọng điệu của Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc 3.1.2.1. Giọng điệu triết lí trữ tình …………………………………… 3.1.2.2. Giọng điệu oán hờn, chua chát ………………………………. 3.1.2.3. Giọng điệu cảm thông sâu sắc ……………………………….. 3.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia 68 70 71 75 80 83 Thiều ………………………………………………………………. 3.2.1. Giới thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật …………………………… 3.2.2. Ngôn ngữ của Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc ... 3.2.2.1. Những đặc điểm nổi bật của thể song thất lục bát trong Cung 83 85 85 oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều …………………………. 3.2.2.2. Sự kết hợp điêu luyện trong việc sử dụng từ ngữ ở Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều từ hai nguồn văn hóa bác học và bình dân ………………………………………………………………... 3.2.2.3. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm giác …………………………... 3.2.2.4. Ngôn ngữ đậm sắc màu Phật giáo …………………………… KẾT LUẬN ……………………………………………………………. TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………. 94 102 106 110 116 5 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều là một nhà thơ – một danh nhân văn hóa của dân tộc. Cùng với Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, … Nguyễn Gia Thiều đã có đóng góp to lớn vào thời kì hoàng kim của văn học Việt Nam trung đại (giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX) với tác phẩm xuất sắc Cung oán ngâm khúc được nhiều người biết đến. Cho nên, việc tìm hiểu tác giả Nguyễn Gia Thiều và tác phẩm Cung oán ngâm khúc luôn có ý nghĩa và là sự cần thiết. 1.2. Cung oán ngâm khúc là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho thể loại Ngâm khúc, đồng thời cũng là tác phẩm có giá trị nhiều mặt trong nền văn học Nôm, thuộc dòng văn học cổ điển Việt Nam. Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu khi tiếp cận tác phẩm đã tìm ra nhiều cái đẹp từ Cung oán ngâm khúc. 1.3. Trong chương trình Ngữ Văn hiện nay, Cung oán ngâm khúc được đưa vào giảng dạy ở các cấp học. Vì thế, việc nghiên cứu hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều ít nhiều góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học Ngữ Văn trong nhà trường. 6 Từ những lí do cơ bản trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Hình tượng tác giả trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều để thực hiện luận văn này. 2. Lịch sử vấn đề Từ khi ra đời, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong đời sống văn học Việt Nam trung đại. Có khá nhiều các chuyên luận, các công trình lớn nhỏ lần lượt đi sâu nghiên cứu cả mặt nội dung, cũng như nghệ thuật của tác phẩm. Trong đó có một số giáo trình, tạp chí chúng tôi thấy đã đề cập đến vấn đề hình tượng tác giả. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng, đằng sau tâm tình ai oán của người cung nữ thực chất là tâm trạng của Nguyễn Gia Thiều gửi gắm vào trong đó. Nhân kỉ niệm 250 năm năm sinh của Nguyễn Gia Thiều (1741- 1991), cuốn Kỉ yếu hội nghị khoa học về Nguyễn Gia Thiều đã có 20 bài viết liên quan trực tiếp đến tác giả, tác phẩm, trong đó có những ý kiến, nhận định rất xác đáng. Chúng tôi xin trích dẫn một số ý kiến, nhận định tiêu biểu sau: Trong lời khai mạc lễ dâng hương tại nhà thờ họ Nguyễn Gia, giám đốc Sở văn hóa thông tin và thể thao Hà Bắc, ông Nguyễn Đình Bưu, đã khẳng định: “Ông không chỉ thông cảm trong lòng mà còn viết nên khúc ngâm nói hộ nỗi lòng của những người cung nữ khao khát hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình” [19, tr.8]. Ở bài viết Tiếng khóc nhân loại trong tiếng khóc Nguyễn Gia Thiều, Vũ Khiêu cho rằng: “Ông hiểu sâu sắc về hoàn cảnh những người cung nữ, và nêu lên những nét rất tinh vi về tâm trạng họ. Tâm trạng này không chỉ của riêng người cung nữ. Đó là tâm trạng của Nguyễn Gia Thiều, không phải trước cảnh ngộ của riêng ông như người ta tưởng mà là trước cảnh phù sinh của cả cõi nhân gian” [19, tr.19]. Với bài viết Cung oán ngâm khúc trên bước đường phát triển của thể song thất lục bát, sau khi đi sâu vào nghệ thuật thể loại, Đặng Thanh Lê đã khái quát: “Nếu ở Chinh phụ ngâm tác giả đã nhập thần với hình tượng trữ 7 tình thì ở Cung oán ngâm con người tác giả “xuất đầu lộ diện” khá rõ. Khi tự bộc lộ qua tác phẩm, Nguyễn Gia Thiều có tư thế như một triết gia” [19, tr.47]. Trong bài tham luận Câu chuyện Tài tử giai nhân là nợ sẵn hay Nguyễn Gia Thiều và số phận người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc, khi bàn về mối quan hệ giữa hoàn cảnh xã hội, tác giả và tác phẩm trong trường hợp cụ thể Nguyễn Gia Thiều và Cung oán ngâm khúc, tác giả Nguyễn Duy Kha cũng đã đi đến kết luận: “Nguyễn Gia Thiều không có ý định tố cáo, phơi bày những bất công thối nát của xã hội phong kiến lúc đó, ông chỉ muốn bày tỏ tâm trạng của mình. Ông đã xây dựng hình ảnh người cung nữ với tư cách một con người của thời đại, có tâm trạng tâm hồn giống ông và như ông đã trải nghiệm, đã biết” [19, tr.87]. Bàn về nghệ thuật Cung oán ngâm khúc, sau khi nói về phong cách nghệ thuật của tác phẩm, Nguyễn Văn Hoàn đã chỉ ra: “Nếu như đằng sau tâm trạng người cung nữ, tuy có chỗ bộc lộ khát vọng nồng nhiệt, ta vẫn thấy hình tượng một người phụ nữ dịu dàng, đoan trang, thì đằng sau tâm trạng bất bình, tức tối, gay gắt dữ dội của người cung nữ, đúng là người đọc thấy cả một hình ảnh nam nhi bất mãn đau đớn, thậm chí tuyệt vọng trước nỗi đau trần thế. Và chính ở đây đã bộc lộ ra phong cách văn chương Nguyễn Gia Thiều” [19, tr.126-127]. Ở một đoạn khác, Nguyễn Văn Hoàn nêu: “Viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều không chỉ nói lên cái buồn, cái khổ của người cung nữ, mà còn nhân đó như đã tìm thấy một cái cớ, một cơ hội để phát tiết nỗi bất bình của chính mình trước “cuộc thành bại”, hơn nữa của cả thân phận làm người trong cuộc đời tạo hóa” [19, tr.127]. Đặc biệt, trong công trình Đến với Cung oán ngâm khúc, Nxb Thanh niên (2001), với độ dày hơn 600 trang, Ngô Viết Dinh đã tuyển chọn và biên tập được gần 40 bài viết của các tác giả, trong đó có nhiều bài đã có trong quyển kỉ yếu, chúng tôi chỉ lựa chọn trích dẫn một vài ý kiến tiêu biểu. 8 Tác giả Khai Minh Duy Diễn với bài Tâm trạng cung phi hay tâm trạng Nguyễn Gia Thiều cho rằng: “Nguyễn Gia Thiều có một tâm sự đau thương. Tâm trạng hoàn cảnh ông có nhiều điểm giống tâm trạng và hoàn cảnh của người cung phi nên ông đã mượn lời người ấy để giải tỏ nỗi lòng” [6, tr.93]. Thuần Phong khi viết về Cung oán ngâm khúc, đã nhận xét: “Cung oán ngâm là một phương tiện mà Nguyễn Gia Thiều sử dụng hầu diễn đạt tâm tình của mình, có nhà phê bình cho rằng Nguyễn Gia Thiều đã hiện hình dưới làn son tàn phấn lạt của cung phi để khéo tỏ nỗi oán hờn của mình đối với Chúa Trịnh” [6, tr.189]. Nhóm tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Luận, Lê Hoài Nam trong Lịch sử Văn học Việt Nam, (T3), Nxb Giáo dục, (1978) đưa ra ý kiến: “Viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều bộc lộ tư tưởng tình cảm của mình trước cuộc đời. Đoạn từ câu 45 đến câu 116 không phải là tâm sự của người cung nữ mà chỉ là Nguyễn Gia Thiều trực tiếp phát biểu những cảm nghĩ của cá nhân mình” [57, tr.86]. Với công trình Thi pháp Truyện Kiều, trong sự đối sánh thể loại ngâm khúc với Truyện Kiều, tác giả Trần Đình Sử viết: “Đặng Trần Côn đã nhập vai người chinh phụ để viết Chinh phụ ngâm khúc, cũng như Nguyễn Gia Thiều đã thác lời người cung nữ để nói lên cảm xúc hư huyễn về cuộc đời” [45, tr. 79]. Trong Cung oán ngâm khúc Ôn Như Hầu – Nguyễn Gia Thiều, Nxb Đồng Nai, (2000), các tác giả kết luận: “Cung oán ngâm là khúc ngâm về nỗi oán hờn của cung nhân mà Ôn Như Hầu - Nguyễn Gia Thiều đã mượn tình cảnh này để phản ánh những bất công của chế độ phong kiến đồng thời nói lên tâm sự, thân phận của chính mình” [4, tr.82]. Ở cuốn Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX Lại Nguyên Ân (chủ biên), Nxb Giáo dục (1997), cũng khẳng định: “Tác giả nhập vai một cung nữ nào đó đang sống những ngày khắc khoải trong cung vì hầu như bị vua (một ông vua nào đó) lãng quên, chính từ cảnh ngộ này (như tình 9 thế làm nảy sinh những tâm trạng nhất định ở nữ nhân vật) tác giả thác lời người cung nữ ấy diễn tả ít nét về thân thế và nhất là những suy nghĩ, tâm trạng, ý nguyện của nàng, đây đồng thời cũng là cách thể hiện cảm nghĩ của chính tác giả về thân thế, về nhân sinh” [1, tr.191]. Và: “Nét riêng biệt của Cung oán ngâm khúc (ví dụ so với Chinh phụ ngâm) là dù tác giả nhập vai để thác lời người cung nữ, nhưng trong tác phẩm (nhất là đoạn các câu từ 43 đến 130) ông vẫn thoát vai để phát ngôn cho chính mình” [1, tr.193]. Trong số những cây bút phê bình văn học có uy tín, những ý kiến của Nguyễn Lộc về tác phẩm Cung oán ngâm khúc, là những ý kiến hết sức sắc sảo. Ở cuốn Cung oán ngâm khúc, do ông khảo đính, chú giải, Nxb văn học, (1986), tác giả đã đánh giá: “Nguyễn Gia Thiều viết về người cung nữ, đồng thời cũng là viết về tâm sự của cá nhân mình” [24, tr.17]. Sau đó ông nhận định: “Trong Cung oán ngâm khúc, nhiều lúc có cảm giác ông đứng ra miêu tả tâm trạng người cung nữ theo quan niệm của ông đúng hơn là người cung nữ tự bộc bạch tâm trạng của mình” [24, tr.18]. Và cuối cùng ông kết luận: “Nguyễn Gia Thiều có sự tự thể hiện mình trong khi thể hiện người cung nữ” [24, tr19]. Hay trong Những khúc ngâm chọn lọc (tập1), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1987), tác giả Nguyễn Lộc cũng bày tỏ quan niệm của mình: “Viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều vừa muốn tố cáo cuộc sống ăn chơi trụy lạc của bọn vua chúa, đã gây ra biết bao đau khổ cho người cung nữ nhưng đồng thời lại vừa muốn bộc bạch tâm sự của mình trước thời cuộc” [7, tr.112]. Và trong cuốn Phê bình bình luận văn học Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nxb Tổng hợp Khánh Hòa (1992), một lần nữa Nguyễn Lộc khẳng định: “Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc dưới hai sức thôi thúc, vừa muốn tố cáo tính chất vô nhân đạo của chế độ 10 cung nữ trong xã hội phong kiến, vừa muốn thông qua đó bộc bạch tâm sự của bản thân về cuộc đời” [33, tr.108]. Trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục, (1990), khi nghiên cứu về tác phẩm Cung oán ngâm khúc, Phạm Luận viết: “Nguyễn Gia Thiều viết về đề tài cung oán, không phải chỉ để nói nỗi buồn khổ của người cung nữ mà qua đó nói lên nỗi chán chường, bực dọc của mình đối với cuộc đời. Có điều là tác giả đã không thống nhất được tâm sự của mình đối với tâm sự của nhân vật. Thành thử có khi ông quên cả người cung nữ, tự mình đứng ra phát biểu những cảm nghĩ của bản thân, đặc biệt là trong đoạn dài từ câu 49 đến câu 116, gần bằng 1/5 tác phẩm” [21, tr.69]. Và ở một đoạn khác, ông viết: “Cung oán ngâm không chỉ là lời than của một người cung nữ, nó còn là những suy nghĩ, cảm xúc của tác giả trước thời cuộc. Nguyễn Gia Thiều không dừng ở số phận thảm thương của người cung nữ mà muốn khái quát về những kiếp người trong một xã hội bế tắc, nghẹt thở” [21, tr.74]. Trong cuốn Cung oán ngâm khúc, tác giả Vân Bình Tôn Thất Lương đã hiệu đính, chú giải rất tỉ mỉ, rõ ràng. Và ông cho rằng: “Cung oán ngâm khúc là một khúc ngâm về nỗi oán hờn của cung nhân mà Ôn Như Hầu tiên sinh đã mượn tình trạng cung phi để tự ví thân mình” [26, tr.5-6]. Những tác giả trong Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004, cũng đưa ra kiến giải: “Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc một mặt nhằm tố cáo thực trạng chế độ cung nữ thời vua Lê chúa Trịnh, mặt khác cũng muốn gửi gắm tâm sự của ông về thời cuộc lúc bấy giờ. Bởi vậy, là lời tự bạch của người cung nữ trong tác phẩm, vừa là tiếng nói tâm tình của một nhân vật cung nữ do Nguyễn Gia Thiều sáng tạo ra, lại vừa là lời thác ngụ những nỗi niềm sâu kín và những suy ngẫm tổng quát về vũ trụ nhân sinh của bản thân tác giả với tư cách chỉnh thể thẩm mĩ” [48, tr.333]. 11 Một trong những người đã khắc họa chân dung Nguyễn Gia Thiều rõ nét nhất là tác giả Nguyễn Duy Hợp. Trong công trình Văn sĩ Việt Nam, danh nhân Nguyễn Gia Thiều, ông đã đi sâu vào tìm hiểu cụ thể cuộc đời Nguyễn Gia Thiều từ khi mới lọt lòng đến khi tác giả mất. Và đi đến nhận xét: “Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc là để gửi gắm tâm sự của nhà thơ về cuộc đời, về con người và số phận con người. Mà con người ở đây không ai khác chính là nhà thơ bị bỏ rơi, như bao người cung nữ bị bỏ rơi. Đó là điều khẳng định” [17, tr.187-188]. Sách Ngữ Văn 10 (nâng cao, tập 2), trong bài giới thiệu đoạn trích Nỗi oán sầu của người cung nữ, các soạn giả cho rằng: “Cung oán ngâm là bài ca ai bi của người cung nữ có tài có sắc, trước được vua yêu chuộng, nhưng chẳng bao lâu bị ruồng bỏ. Ở trong cung, nàng xót thương cho thân phận mình và oán trách nhà vua phụ bạc. Qua khúc ngâm, tác giả còn gửi gắm quan niệm của ông về cuộc đời bạc bẽo, phù du” [3, tr.120]. Nguyễn Hữu Sơn cũng là người quan tâm đến tác phẩm Cung oán ngâm khúc, có nhiều bài viết đề cập đến khúc ngâm này. Đáng chú ý là bài Cung oán ngâm khúc – Thời gian nghệ thuật và những khái quát triết lí trữ tình, in trong tạp chí Văn học số 4, năm 2001, tác giả nhận xét: “Phù hợp với tâm trạng cô đơn, khổ đau vô vọng của người cung nữ là tiếng nói triết lí trữ tình, những lời chiêm nghiệm, đúc kết khái quát có ý nghĩa triết học nhân sinh. Tiếng nói triết lí trữ tình đó có thể nhằm bộc lộ tâm sự người cung nữ, song cũng có thể là lời bình luận trữ tình ngoại đề của chính tác giả” [39, tr.72-73]. Ở bài khác: Nỗi sầu oán của người cung nữ in trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 12, năm 2006, tác giả thừa nhận: “Viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều không chỉ viết riêng về cuộc đời bất hạnh của người cung nữ mà thông qua đó bộc lộ những phẫn uất, bất bình của mình trước xã hội đương thời. Tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều lớn lao bởi chính tác giả đã cảm nhận được nỗi đau của thời đại, gián tiếp phát hiện và 12 khẳng định quyền được sống, được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này” [40, tr.150]. Tác giả Huỳnh Phan Anh với bài viết: Cung oán ngâm khúc hay là tiếng thở dài ảo não của con người trước ý nghĩa của kiếp nhân sinh, in trong Tủ sách văn học trong nhà trường cũng có nhận định: “Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, tác giả Cung oán ngâm khúc, đã mượn lời của một cung phi để nói lên một cái nhìn về thân phận con người và viễn quan về cuộc đời” [14, tr.115]. Với bài Nguyễn Gia Thiều – người đối thoại với bóng, in trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 6, năm 2004, Đỗ Lai Thúy sau khi khẳng định người cung nữ chỉ là cái bóng của Nguyễn Gia Thiều cũng đã đi đến kết luận: “Cung oán ngâm khúc vốn nằm trong thể tài Cung oán thi của văn học trung đại Việt Nam và Trung Hoa. Thi nhân mượn đời cung nữ để nói đời mình, “tài tử với giai nhân nợ sẵn” là vậy” [54, tr.4]. Bài viết Nguyễn Gia Thiều và nỗi đau nhân thế, in trên tạp chí Văn học, số 4 của tác giả Vũ Minh Tâm, đã đưa ra ý kiến: “Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc đã mượn lời một cung nữ nhằm phản ánh một mặt của hiện thực đương thời. Với tinh thần phẫn nộ, oán hờn, cùng với tâm trạng chán chường của một lớp người thời đại” [46, tr.39]. Qua những ý kiến, nhận định trên, có thể nói, các nhà nghiên cứu phê bình văn học đã bàn đến Cung oán ngâm khúc khá nhiều, Tuy nhiên, họ chỉ mới dừng lại ở việc khái quát, hoặc nêu vấn đề một cách chung chung về người cung nữ và tác giả Nguyễn Gia Thiều chứ chưa tạo nên một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và triệt để. Về vấn đề Hình tượng tác giả vốn đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng vì mục đích của người viết, tính chất của công trình, cho nên nó chưa giải quyết được một cách trọn vẹn, thấu đáo. Chính vì vậy, ở luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu trên cơ sở tham khảo, chắt lọc và học hỏi những tác giả đi trước để làm nổi bật được vấn đề Hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. 3. Mục đích yêu cầu 13 3.1. Mục đích Cung oán ngâm khúc là một trong những khúc ngâm để lại nhiều dấu ấn nghệ thuật trong tâm hồn độc giả Việt Nam. Với sự thể hiện tài tình của tác giả, Cung oán ngâm khúc trở thành viên ngọc sáng chói trong nền văn học chữ Nôm viết bằng thể song thất lục bát. Mặc dù vậy, tác phẩm nghệ thuật này vẫn còn là một ẩn số đối với chúng tôi. Và đây là cơ hội, là thử thách để chúng tôi tìm hiểu về một tác phẩm được hàng triệu con tim yêu mến. Chính vì thế, khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm hướng đến những mục đích sau: 3.1.1. Xác lập cơ sở lí luận để tìm hiểu hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. 3.1.2. Khảo sát tác phẩm qua 356 dòng thơ để xác định những đặc trưng cơ bản của hình tượng tác giả thể hiện trên 3 phương diện: cái nhìn, sự tự thể hiện và giọng điệu, ngôn ngữ. 3.1.3. Nhằm góp phần thiết thực vào việc dạy và học Cung oán ngâm khúc được tốt hơn. 3.2. Yêu cầu Để đề tài phát huy được tác dụng và có ý nghĩa thực tiễn, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng trình bày một cách có hệ thống về vấn đề hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Hình tượng tác giả là một thuật ngữ văn học, chính vì thế cần hiểu chính xác khái niệm của nó để từ đó đi sâu vào tìm hiểu hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc một cách đúng đắn, kĩ càng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Hình tượng tác giả trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều. 4.2. Phạm vi nghiên cứu 14 Luận văn tập trung tìm hiểu hình tượng tác giả với tư cách là một phạm trù văn học (tức là phạm trù thi pháp) được thể hiện trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Văn bản Cung oán ngâm khúc hiện nay có nhiều, và có khá nhiều dị bản. Tuy nhiên, chúng tôi chọn văn bản Cung oán ngâm khúc Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, của tác giả Lê Văn Hòe (2001), Nxb Thế giới để nghiên cứu. 5. Phương pháp nghiên cứu Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng và phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các phương pháp chính: - Phương pháp khảo cứu - Phương pháp phân tích tổng hợp - Phương pháp so sánh – đối chiếu Ngoài ra, chúng tôi còn dựa trên nguyên tắc duy vật lịch sử, duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là đặt tác phẩm vào trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ để thấy được đặc sắc của nó, hay nói cách khác, đặt trong chiều lịch đại, đồng đại để nghiên cứu, nhằm nhìn nhận vấn đề trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. 6. Đóng góp của luận văn 6.1. Là công trình đầu tiên khảo sát Hình tượng tác giả trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều một cách toàn diện, khẳng định đây là một yếu tố cơ bản quan trọng hàng đầu hình thành nên phong cách nhà thơ. 6.2. Với phương pháp nghiên cứu như đã nêu trên, có thể gợi mở hoặc làm sáng tỏ ít nhiều hướng tiếp cận mang tính hữu hiệu về Hình tượng tác giả trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều. 6.3. Tác phẩm không chỉ được nhiều bạn đọc chú ý, mà còn được đưa vào chương trình các cấp học từ phổ thông đến đại học. Kết quả của luận văn có thể vận dụng làm tài liệu tham khảo giúp cho việc dạy - học tác giả, tác phẩm trong nhà trường được tốt hơn. 15 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1. Thể loại ngâm khúc và vấn đề hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Chương 2. Cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của hình tượng tác giả trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Chương 3. Hình tượng tác giả thể hiện qua giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Sau cùng là Tài liệu tham khảo. Chương 1 THỂ LOẠI NGÂM KHÚC VÀ VẤN ĐỀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC CỦA NGUYỄN GIA THIỀU 1.1. Thể loại ngâm khúc Trong nền văn học trung đại Việt Nam, có thể nói truyện thơ và ngâm khúc là hai thành tựu rực rỡ, nổi bật. Ngâm khúc là một thể loại sáng tạo độc đáo của thi ca Việt Nam, hình thành vào cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII. Đây là một thể thơ thuần túy dân tộc, được viết bằng chữ Nôm theo hình thức song thất lục bát, có ý nghĩa rất đáng kể về mặt phát triển thể loại trữ tình, với nhiều khúc ngâm đặc sắc như: Chinh phụ ngâm (tác giả Đặng Trần Côn, dịch giả Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân), Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ),… Sự xuất hiện thể loại này đánh dấu một nội dung biểu đạt mới, đó là khả năng biểu hiện nội tâm, với nỗi đau triền miên, dai dẳng. Vì thế, đây cũng là thể loại được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. 1.1.1. Khái niệm 16 Về khái niệm thể loại ngâm khúc, có một số tác giả đã đề cập đến. Cụ thể như sau: Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các soạn giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “Ngâm khúc là thể thơ trữ tình dài hơi, thường được làm theo thể thơ song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền, đau xót triền miên day dứt” [13, tr 198]. Trần Đình Sử cũng là tác giả chú ý nhiều đến thể loại ngâm khúc. Trong Thi pháp Văn học trung đại Việt Nam, ở chương 2, khi bàn về các thể thơ trữ tình, Trần Đình Sử quan niệm: “Người ta thường nói hình thức của ngâm khúc là song thất lục bát. Nhưng điều đó chưa đủ. Ngâm khúc đã phát triển đến tột độ quan niệm tự tình của thơ trữ tình trung đại. Chính việc kể lể tình cảm mới tạo khả năng sáng tác ngâm khúc dài mà không cần đến cốt truyện” [44, tr.159]. Tiếp đến ông khẳng định: “có thể nói khúc ngâm có nhiệm vụ phơi trải tấm lòng đau xót, sầu tủi, tiếc hận của mình. Và chính ở đây thể hiện thi pháp trữ tình trung đại” [44, tr.160]. Đặc biệt, trong công trình Thi pháp Truyện Kiều, mặc dù tác giả không trực tiếp đưa ra một khái niệm cụ thể nào về thể loại ngâm khúc, nhưng ở chương 3, mục 1, khi bàn về Ngâm khúc và Truyện Kiều, tác giả đã đề cao thể loại này qua việc chứng minh Truyện Kiều “chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ của thể ngâm song thất lục bát” [45, tr.70]. Theo ông, “những người sáng tác khúc ngâm, là những người mở đầu cho khuynh hướng văn học nhân đạo: thức tỉnh ý thức về quyền sống và số phận con người, cất lên tiếng khóc đau thương oán hận thương thân, xót mình thống thiết của những người trong cuộc” [45, tr.7172]. Và: “các khúc ngâm đã đưa ra một quan niệm khác về con người. Họ khẳng định quyền sống và quyền hưởng hạnh phúc của con người. Họ đau xót vì trời tranh mất quyền họa phúc. Họ xót xa than tiếc cho cái thân tài, tuổi trẻ bị phá hoại bởi số phận. Họ khẳng định hạnh phúc lứa đôi là một chân lí tự nhiên không thể tước đoạt” [45, tr.72]. Đồng thời, tác giả cũng nhận thấy: 17 “không một thể loại văn học nào có nhiều câu hỏi chất vấn về số phận và về thế giới như là thể ngâm” [45, tr.73] và: “Điểm quan trọng nhất là các khúc ngâm đã tạo thành một kiểu trữ tình mới, có tính chất tự sự, có thể làm phong phú cho ngôn ngữ tự sự. Đó là lối trữ tình nhập vai” [45, tr.79]. Cuối cùng, ông đi đến khẳng định: “trên rất nhiều phương diện, từ tư tưởng, cảm hứng đến các phương thức tu từ, hình thức lời văn các khúc ngâm đã thể hiện vai trò đi trước” [45, tr. 83]. Trong Nội dung xã hội học - tuồng đô, Phan Ngọc, Lê Hữu Cầu cũng đã bàn đến thể loại ngâm khúc. Và hai tác giả cho rằng: “Ngâm khúc là thể loại thích hợp với những con người cô độc, bộc lộ những tâm trạng của mình bằng sự đối chiếu hiện tại với quá khứ, hoặc tương lai để trả lời câu hỏi hạnh phúc ở đâu: ở hiện tại, ở quá khứ hoặc tương lai” [30, tr.181]. Với việc đi sâu vào nghiên cứu về Ngâm khúc – quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng thể loại, tác giả Ngô Văn Đức nhận định: “Ngâm khúc là những ca khúc trữ tình dài hơi phản ánh tâm trạng bi kịch của con người đã có ý thức về quyền sống, về hạnh phúc cá nhân trong một giai đoạn lịch sử nhất định được viết bằng ngôn ngữ dân tộc (chữ Nôm) và thể thơ song thất lục bát” [10, tr.76]. Ở bài viết Về thể loại ngâm khúc, in trong tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2, 2005, tác giả Đào Thị Thu Thủy cho rằng: “Ngâm khúc là tác phẩm có tính chất tự tình, diễn tả tâm trạng cô đơn, buồn đau sầu muộn triền miên, hoặc giãi bày một nỗi sầu oan khiên của một nhân vật trữ tình, viết bằng chữ quốc ngữ (cổ hoặc hiện đại), theo thể thơ song thất lục bát với số lượng câu tương đối lớn” [53, tr.144]. Theo Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, thì: “Ngâm là một bài văn tả những tình cảm ở trong lòng, thứ nhất là những tình buồn, sầu, đau thương” [12, tr.166]. Còn N.I.Niculin đã tiếp cận thể loại ngâm khúc theo chiều dài của lịch sử văn học qua sự so sánh đối chiếu với các tác phẩm và thể loại trữ tình khác. 18 Ở bài viết Thể loại ngâm và cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều, N.I.Niculin cho rằng, định nghĩa của Dương Quảng Hàm về thể loại ngâm khúc là “chỉ dựa theo mặt nội dung, mà cũng chỉ dựa theo từng phần là hoàn toàn chưa đầy đủ” [19, tr.120]. Từ đó, ông đưa ra quan điểm của mình: “Ngâm tập trung vào việc miêu tả con người cá nhân riêng lẻ mà số phận của nó do bức tranh toàn cảnh xã hội rộng lớn được phản ánh trong tác phẩm quy định” [19, tr.120]. Ở đoạn khác, ông viết: “Ngâm là bản độc thoại của nữ nhân vật bày tỏ những suy nghĩ và tình cảm của mình. Trong đó, mạch trữ tình bện chặt với câu chuyện kể theo mạch tự sự về những biến cố mà tiếng vọng đáp lại chúng chính là bản thân tác phẩm” [19, tr.120]. Như vậy, về khái niệm thể loại ngâm khúc, cho tới nay vẫn chưa thật sự thống nhất. Dựa trên những quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi thấy khái niệm của các soạn giả trong Từ điển thuật ngữ văn học là hợp lí hơn cả. Bởi đã chỉ ra được đặc trưng cụ thể của thể loại ngâm khúc về mặt nội dung cũng như hình thức. 1.1.2. Các đặc trưng của thể loại ngâm khúc Cũng như các thể loại khác, ngâm khúc là một thể loại có những đặc trưng riêng biệt với một nội dung và hình thức độc đáo. 1.1.2.1. Về nội dung Ngâm khúc là thể loại phát triển trong một thời gian tương đối dài, nối tiếp nhau qua nhiều thế kỉ, tuy số lượng không nhiều (theo Đào Thị Thu Thủy khảo sát trong bài viết Về thể loại ngâm khúc, thì có khoảng 13 tác phẩm) nhưng quy mô của mỗi tác phẩm tương đối lớn. Cũng theo Đào Thị Thu Thủy, tác phẩm ngắn nhất gồm 164 câu, dài nhất 608 câu, tác phẩm trung bình trên dưới 200 câu [53, tr.145]. Vì thế, thể loại ngâm khúc được xem là “trường ca trữ tình”, đi sâu vào khai thác miêu tả nội tâm con người, đặc biệt miêu tả những bi kịch quằn quại, đau thương, tuyệt vọng,… qua đó đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa rộng lớn, sâu sắc. 19 Phạm vi phản ánh của thể loại ngâm khúc là thế giới tâm trạng của những số phận bé nhỏ trong xã hội, nhất là những người phụ nữ có hoàn cảnh éo le, bất hạnh. Chẳng hạn: Ai tư vãn viết về cảnh ngộ éo le của công chúa Ngọc Hân, chồng mất sớm để lại hai con thơ dại, Chinh phụ ngâm là sự chờ đợi mỏi mòn của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến, Tự tình khúc miêu tả nỗi đau xót của người dân lương thiện bị oan khiên,… Thông qua những cảnh ngộ ấy, ngâm khúc đi vào những bi kịch tâm trạng, nỗi buồn mang tính thời đại. Các bi kịch hầu hết xoay quanh vấn đề hôn nhân, những nếm trải cay đắng của cuộc đời, qua đó nói lên tiếng nói đòi được yêu, được hạnh phúc. Ngâm khúc giãi bày đến từng “chân tơ kẽ tóc” sâu kín nhất, uẩn khúc nhất của những con người đã ý thức được bản thân, từ đó gián tiếp nói lên số phận mong manh đau khổ của mình và tố cáo xã hội đã gây ra những bất công ấy. Với chủ đề đi sâu vào bi kịch cá nhân của con người trong tình yêu, hạnh phúc gia đình, cho nên nhân vật trữ tình của thể loại này chủ yếu là nữ, với những cái “tôi” khác nhau, với những hoàn cảnh riêng tư không ai giống ai, song đều có chung một nỗi niềm đeo đẳng, kéo dài, ám ảnh suốt cuộc đời họ. Đặng Thai Mai gọi đó là tâm trạng “ngưng đọng lại trên một khối sầu”. Như vậy, khúc ngâm ra đời và phát triển là sự đáp ứng nhu cầu tình cảm của con người, là tiếng nói riêng tư về nhu cầu riêng tư của con người. Nó không xa xôi bóng gió, mà trực tiếp đề cập đến niềm vui và nỗi buồn của cá nhân, đó là khi con người bắt đầu ý thức rằng hạnh phúc và nỗi đau là những gì rất cụ thể. Do đó, nội dung của các khúc ngâm là niềm thương tiếc, oán hận những giá trị nhân sinh đã mất (như tuổi trẻ chóng phai, tình yêu bị chia cắt, …), từ đó nhân vật hồi tưởng, lật lại từng trang kỉ niệm, phơi trải tấm lòng đau xót, sầu tủi của mình. 1.1.2.2. Về hình thức Nói đến thể loại ngâm khúc là nói đến thể song thất lục bát, dù viết bằng chữ Nôm hay chữ Hán, thì thể thơ song thất lục bát vẫn được xem là cơ sở tạo 20 nên các tiểu thể loại vãn, ngâm, khúc, vịnh. Đúng như Dương Quảng Hàm đã khẳng định: “các ngâm khúc trong văn ta làm theo thể song thất lục bát, thường gọi tắt là song thất” [12, tr.166]. Thể song thất lục bát xuất hiện vào thế kỉ XV, đạt đến hình thức hoàn mĩ của nó vào nửa cuối thế kỉ XVIII, có tác động không nhỏ đến toàn bộ thơ Việt Nam nói chung và các khúc ngâm nói riêng, tạo nên một chuyển biến rất to lớn về mặt thi pháp. Với nghĩa đen là “hai bảy, sáu tám”, phép đặt câu của thể loại này là, cứ hai câu bảy chữ (ngắt nhịp 3/4), rồi đến một câu sáu chữ, một câu tám chữ (ngắt nhịp chẵn), tạo thành một khổ 4 câu tương ứng với nội dung, dụng ý cụ thể. Các khổ thơ nối tiếp nhau tạo thành một âm hưởng có tính chất chu kì, do đó thể song thất lục bát thường mang cảm giác đều đều, buồn buồn. Có thể nói, tương ứng với một nội dung sẽ có một hình thức nhất định. Với lối kiến trúc thành từng khổ 4 câu, thể song thất lục bát rất thuận tiện cho việc bộc lộ tâm trạng. Trong khi đó, ngâm khúc lại được xem là những bản “trường ca” thiên về diễn tả những nỗi niềm uẩn khúc hơn là miêu tả sự vật, hiện tượng. Nhìn chung, các khúc ngâm không chú trọng tới tình tiết, cốt truyện, nhân vật như truyện thơ, mà chú ý đến dòng mạch cảm xúc trữ tình, những tâm trạng day dứt, xót xa, những hoài niệm buồn thương thất vọng. Nó thường là lời ca bi ai, hay lời than khóc sầu oán. Đây cũng là tâm trạng chung của các ngâm khúc, và tâm trạng đó đòi hỏi một hình thức diễn đạt riêng. Vì thế, song thất lục bát trở thành thể thơ thích hợp hơn cả bởi “cần phải có hình thức ấy thì tình cảm mới có thể mang hình thái một đợt sóng đi lên với 2 câu thất, dừng lại ở câu lục ngắn gọn để tỏa ra trong câu bát dài nhất, rồi lại vươn lên trong một khổ thơ mới, cứ thế đợt sóng tình cảm lên xuống ăn khớp với hình thức ngôn ngữ” [32, tr.264]. Được viết bằng thể thơ song thất lục bát, là thể thơ phù hợp với nghệ thuật xây dựng tâm trạng dưới mọi khía cạnh, sắc thái tình cảm phong phú, phức tạp, khi buồn, khi vui, khi mộng ước, khi chợt tỉnh,… và luôn khao khát
- Xem thêm -