Tài liệu Hình tượng nhân vật tào tháo và lưu bị trong tác phẩm tam quốc diễn nghĩa của la quán trung

  • Số trang: 58 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 87 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ TRANG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TÀO THÁO VÀ LƯU BỊ TRONG TÁC PHẨM TAM QUỐC DIỄN NGHĨA CỦA LA QUÁN TRUNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ TRANG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TÀO THÁO VÀ LƯU BỊ TRONG TÁC PHẨM TAM QUỐC DIỄN NGHĨA CỦA LA QUÁN TRUNG Chuyên ngành: Văn học nước ngoài KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn: ThS. Hà Thị Hải Sơn La, năm 2013 LỜI CẢM ƠN Khóa luận được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo, ThS. Hà Thị Hải. Nhân dịp khóa luận này được hoàn thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua. Em xin gửi lời cảm ơn tới tổ Lí luận - Văn học nước ngoài, tập thể các thầy, cô khoa Ngữ văn, thư viện và phòng Đào tạo trường Đại học Tây Bắc, cùng cô giáo chủ nhiệm và tập thể lớp K50ĐHSP Ngữ văn đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận này. Em xin chân thành cảm ơn! Sơn La, tháng 5, năm 2013 Người thực hiện Nguyễn Thị Trang MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2 3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................. 5 4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 6 5. Đóng góp của khóa luận ................................................................................. 6 6. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................... 6 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ...................................................... 7 1.1. Tác giả La Quán Trung ............................................................................ 7 1.2. Tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa ............................................................... 8 1.2.1. Nguồn gốc của tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa .................................. 8 1.2.2. Khái quát về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa ........................................................................................................... 9 1.2.2.1. Khái quát về nội dung Tam quốc diễn nghĩa ................................ 9 1.2.2.2. Khái quát về nghệ thuật Tam quốc diễn nghĩa ........................... 10 1.3. Một số vấn đề lý luận ............................................................................. 12 1.3.1. Nhân vật văn học ............................................................................. 12 1.3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật .......................................................... 13 CHƯƠNG 2. NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA NHÂN VẬT TÀO THÁO VÀ LƯU BỊ ........................................................................................ 16 2.1. Nguồn gốc xuất thân .............................................................................. 16 2.2. Ngoại hình ............................................................................................. 17 2.3. Tính cách ............................................................................................... 20 2.3.1. Tính cách Tào Tháo ......................................................................... 20 2.3.1.1. Đa nghi, nham hiểm và tàn bạo ................................................. 20 2.3.1.2. Cơ trí và ngoan cường ............................................................... 26 2.3.2. Tính cách Lưu Bị ............................................................................. 29 2.3.2.1. Nhân nghĩa ................................................................................ 30 2.3.2.2. Tín nghĩa ................................................................................... 32 2.3.2.3. Khôn ngoan ............................................................................... 33 2.4. Tài năng ................................................................................................. 35 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TÀO THÁO VÀ LƯU BỊ ...................................................................... 39 3.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật ................................................................... 39 3.2. Miêu tả hành động nhân vật ................................................................... 42 3.3. Khắc họa ngôn ngữ nhân vật .................................................................. 44 3.3.1. Đối thoại .......................................................................................... 44 3.3.2. Độc thoại nội tâm............................................................................. 47 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 52 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Tam quốc diễn nghĩa là một kiệt tác của nền văn học Trung Quốc. Sự ra đời của Tam quốc diễn nghĩa đánh dấu bước phát triển vượt bậc của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Tác phẩm xứng đáng là “lá cờ đầu của tiểu thuyết lịch sử” [24, 23] Trung Hoa. Tam quốc diễn nghĩa miêu tả hơn bốn trăm nhân vật, mỗi người một vẻ, vô cùng sinh động và hấp dẫn, trong số đó Tào Tháo và Lưu Bị là hai trong số những nhân vật được La Quán Trung chú tâm xây dựng. Tào Tháo là người đứng đầu của tập đoàn phong kiến cát cứ Ngụy, Lưu Bị là người đứng đầu của tập đoàn phong kiến cát cứ Thục, còn Tôn Quyền là người đứng đầu của tập đoàn phong kiến cát cứ Ngô. Ba nước Ngụy, Thục, Ngô hình thành thế chân vạc trong quá trình đánh dẹp khởi nghĩa nông dân và trong cuộc hỗn chiến giữa các chư hầu với nhau. Bởi vậy việc chọn đề tài này giúp tôi hiểu được hiện thực xã hội phong kiến Trung Quốc và tài năng nghệ thuật của La Quán Trung đồng thời qua đó thấy được vị trí của Tam quốc diễn nghĩa trong lịch sử phát triển của văn học Trung Quốc. 1.2. Tam quốc diễn nghĩa được rất nhiều độc giả yêu mến và tác phẩm đã được dịch ra hơn hai mươi thứ tiếng trên thế giới như: Anh, Pháp, Nga, Đức, Ý, Hy Lạp, Triều Tiên, Ấn Độ, Việt Nam… Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim truyện và được công chiếu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài sự thu hút về nội dung mới mẻ, hấp dẫn, độc giả cũng không thể quên được hình tượng hai nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị. Đây là hai nhân vật để lại cho tôi cũng như độc giả rất nhiều tình cảm, không chỉ tài năng quân sự mà còn ở tính cách phức hợp mang chất thực của con người hiện tại. Tìm hiểu đề tài này giúp chúng ta thấy được tài năng nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật của tác giả. 1.3. Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm được giảng dạy trong trường Đại học và chọn trích giảng ở nhà trường phổ thông trung học. Trong chương trình Ngữ văn 10, các soạn giả SGK đã chọn trích đoạn “Hồi trống Cổ Thành” và “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng” để giảng dạy và đọc thêm. Nghiên cứu Tam quốc diễn nghĩa và lựa chọn đề tài này giúp tôi hiểu sâu hơn về tác phẩm, cũng như hiểu thêm về tác phẩm văn học Trung Quốc và phục vụ tốt hơn cho quá trình giảng dạy phần văn học nước ngoài ở nhà trường phổ thông sau này. Từ những lí do trên đã thúc đẩy tôi tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này. Hy vọng khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo có ích cho các bạn sinh viên yêu thích tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa và bộ môn văn học Trung Quốc. 1 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Ở Trung Quốc Trong cuốn Luận bàn Tam quốc, Mao Tôn Cương với những bàn luận sâu sắc vô song về một trăm hai mươi hồi của Tam quốc diễn nghĩa quả là xưa nay chưa mấy ai sánh kịp. Ông rất chú trọng bàn về tính cách của các nhân vật và bộc lộ thái độ của mình qua những hành động, việc làm của các nhân vật. Tác giả này đã đánh giá về nhân vật Tào Tháo như sau: “Tào Tháo suốt đời mượn cái này để chế cái khác. Tháo mượn Thiên tử để chế chư hầu, mượn chư hầu để diệt chư hầu. Đến lúc muốn an lòng quân lại mượn thủ cấp người khác để trấn an quân sĩ. Thậm chí lại mượn ngay búi tóc mình để bảo vệ luật pháp. Tháo quả là một tay: Thiên cổ đệ nhất gian hùng vậy” [5, 79]. Nhân vật Lưu Bị cũng được Mao Tôn Cương nhận xét như sau: “Trước đây, Khổng Minh bày kế cho Lưu Kì cũng khuyên nên chạy lánh nạn. Nhưng Huyền Đức chạy mấy chặng mà vẫn chưa thoát nạn. Ấy chỉ vì Huyền Đức đầy lòng nhân. Nếu Huyền Đức cướp đất của Lưu Biểu thì không phải chạy. Huyền Đức bỏ trăm họ đi một mình cũng không đến nỗi lâm nạn. Huyền Đức làm việc nhân đạo nên mang lụy chứ không phải Khổng Minh thấp mưu trí đâu” [5, 134]. Mặc dù không bàn nhiều về nghệ thuật xây dựng nhân vật, song cần khẳng định năng lực cảm thụ văn chương tuyệt vời của tác giả họ Mao. Ông đã đề cập đến những dòng mạch, hệ thống nhân vật, những phạm trù đối lập như động - tĩnh, hư - thực… nhằm làm cho độc giả thấy được tài năng sáng tạo, tổ chức nghệ thuật của La Quán Trung. Trong cuốn Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, tác giả Phạm Ninh chủ yếu quan tâm đến nguồn gốc lịch sử, nội dung tư tưởng, giá trị hiện thực của tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa và sở trường khắc họa nhân vật trong đấu tranh… mà ít quan tâm đến tính cách nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị cũng như nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này. Phạm Ninh cho rằng: “Tam quốc chí diễn nghĩa sở trường khắc họa nhân vật trong mâu thuẫn đấu tranh, sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật sống động như thật: Tào Tháo, Gia Cát Lượng, Quan Vũ, Trương Phi…” [13, 102]. Các nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, do Lê Huy Tiêu (dịch) đã đánh giá tổng quan giá trị tiêu biểu về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa: “Bộ tiểu thuyết này có hơn bốn trăm nhân vật, trong đó những nhân vật chính đều là những điển hình bất hủ có cá tính hết sức sinh động và rất sắc nét. Cùng là đứng đầu đám anh hùng, mà tư tưởng tính cách ba nhân vật Tôn Quyền, Lưu Bị và Tào Tháo mỗi người có đặc điểm riêng. Còn mưu sĩ như Gia Cát Lượng, Tuân Húc, Lỗ 2 Túc, chiến tướng như Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung, Hạ Hầu Đôn, Trương Liêu, Chu Du, Lục Tốn… thì không ai không có cá tính riêng của mình” [26, 388]. Các tác giả này cũng đánh giá khái quát về hình tượng Tào Tháo: “Hình tượng Tào Tháo hết sức điển hình và phổ biến trong giai cấp thống trị phong kiến. Qua hình tượng nhân vật này, mọi người có thể thấy rõ lòng tham và tham vọng quyền thế đã quyết định mối quan hệ vua tôi, anh em, chồng vợ, bạn bè trong xã hội phong kiến như thế nào. Nó bộc lộ rõ cách đối xử tàn khốc vô tình giữa bọn bóc lột với nhau, cũng phản ánh bộ mặt thực của giai cấp bóc lột phong kiến quen thói cướp đoạt” [26, 384]. Nhân vật Lưu Bị cũng được các tác giả này nhận xét như sau: “Lưu Bị trung hậu, nhân ái, các thành viên trong tập đoàn của ông tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ nhau, trung thành với nhau và sống chết có nhau” [26, 384]. Tác giả Trương Quốc Phong trong cuốn Tiểu thuyết sử thoại các thời đại Trung Quốc không chỉ quan tâm đến khuynh hướng tư tưởng, vấn đề miêu tả chiến tranh mà còn chú ý đến vấn đề miêu tả nhân vật. Ông có đề cập đến một số nét tính cách của nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị, Gia Cát Lượng, Quan Vũ… và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa. Trương Quốc Phong nhận định: “Rõ ràng tác giả đứng về phía Lưu Bị, Gia Cát Lượng; nhưng không vì thế mà khắc họa sơ sài tính cách Tào Tháo. Dưới con mắt người đọc, đó là một hình tượng kép: “Quan giỏi thời bình, gian hùng thời loạn”. Y lúc thì gian trá cực điểm, lúc thì độ lượng vô cùng…” [19, 119], hay “Lưu Huyền Đức ba lần tìm đến lều cỏ trong hồi 37 của tiểu thuyết là một ví dụ về sự thành công của thủ pháp khoa trương, đối sánh, ghép theo của tác giả” [19, 124]. 2.2. Ở Việt Nam Nguyễn Tử Quang trong cuốn Tam quốc bình giảng, cũng qua các sự kiện, các nhân vật Tam quốc mà nhận xét, phê phán… đóng góp thêm sự suy ngẫm cùng bạn đọc. Ông không phân tích tỉ mỉ từng sự kiện một mà tổng hợp những sự việc to ớn có liên quan đến nhau trong một “thế cờ” của ba nước để phân tích. Ông quan tâm đến nghệ thuật miêu tả chiến tranh hơn là nghệ thuật miêu tả nhân vật. Tuy nhiên ông có rất nhiều nhận xét sắc sảo về tính cách các nhân vật trong tác phẩm. Ông đánh giá về nhân vật Tào Tháo: “Tào Tháo là một người gian hùng” [21, 49]. Còn về nhân vật Lưu Bị, tác giả này cũng đã đánh giá như sau: “Người đời thường coi Lưu Bị là một nhân vật tiêu biểu xứng đáng về việc “trọng sĩ kính hiền”, và hành động “tam cố thảo lư” của họ Lưu đi cầu Gia Cát Lượng ở Ngọa Long Cương, được người đời luôn luôn nhắc nhở, coi là một khuôn vàng thước ngọc cho những kẻ muốn mưu đồ vương bá” [21, 53]. 3 Lương Duy Thứ trong cuốn Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc có đưa ra thi pháp tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Ông đưa ra những nhận định về nhân vật và hệ thống nhân vật của tiểu thuyết cổ điển: Bút pháp nắm bắt cái thần, cách miêu tả khoa trương, ước lệ… song chưa phân tích cụ thể biện pháp đó trong Tam quốc, chủ yếu ông quan tâm đến vấn đề Tam quốc là lá cờ đầu của tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc, từ đó đi đến phân tích và nêu bật một số nét tính cách của những nhân vật chính trong tác phẩm. Tác giả này đã có những nhận định hết sức xác đáng về nhân vật Tào Tháo: “Tào Tháo càng thông minh bao nhiêu thì càng đa nghi bấy nhiêu, càng cơ trí bao nhiêu càng nham hiểm bấy nhiêu, càng ngoan cường bao nhiêu càng tàn bạo bấy nhiêu” [24, 28]. Nhân vật Lưu Bị cũng được tác giả nhận xét như sau: “Lưu Bị trở thành biểu tượng của một ông vua tốt” [24, 30]. Trần Xuân Đề trong cuốn Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc quan tâm chủ yếu đến nội dung hiện thực và đặc điểm tính cách của các nhân vật chính như: Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, Khổng Minh… Tác giả này đã đánh giá về nhân vật Tào Tháo như sau: “Tào Tháo vốn là con người nham hiểm tàn ác, nhưng có lúc tỏ ra là con người có tài trí đặc biệt, có chí lớn ôm trùm thiên hạ, có nhãn quan sáng suốt và có tác phong chiêu hiền đãi sĩ” [6, 56]. Tác giả này cũng có những đánh giá về nhân vật Lưu Bị: “Lưu Bị nhờ có lòng nhân từ rộng lượng, thương dân yêu lính như thế nên từ hai bàn tay trắng, làm đến Hán Trung Vương, lên ngôi hoàng đế, chia ba thiên hạ. Nhân tố chủ yếu để Lưu Bị đoạt được thắng lợi chính là: Nhân hòa” [6, 52]. Nghệ thuật xây dựng hai nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị ít được tác giả này đề cập đến. Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, đã thông qua ngôn ngữ đối thoại, hành động của nhân vật và sự kiện để chỉ ra tính cách nhân vật trung tâm của tác phẩm như Tào Tháo, Lưu Bị, Khổng Minh, Quan Công, Trương Phi; bước đầu khái quát nét cá tính riêng biệt của từng nhân vật này, qua đó khẳng định phẩm chất anh hùng của từng nhân vật chính diện. Tác giả Nguyễn Khắc Phi đã chỉ ra một số nét tính cách của Tào Tháo như: đa nghi, nham hiểm, cơ trí, ngoan cường… nhưng những nét tính cách đó chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc. Nhân vật Lưu Bị cũng được tác giả nhận xét là “một vị vua sáng, biết lấy dân làm gốc, lấy tình nghĩa làm trọng, bôn ba bốn biển, chiêu hiền đãi sĩ, vì sự nghiệp chấn hưng cơ đồ nhà Hán đang thời nghiêng ngửa” [18, 50]. Trong đề tài nghiên cứu khoa học Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, tác giả Hà Thị Hải đã chỉ ra nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật và nghệ thuật xây dựng hệ thống 4 nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa. Tác giả đã nhận định về nhân vật Tào Tháo: “Hắn là kẻ nham hiểm quỷ quyệt miệng nói nhân nghĩa nhưng bụng lại gian trá đầy mưu mô chước quỷ không từ một thủ đoạn hèn hạ độc ác nào để thực hiện phương châm sống vị kỷ hại nhân của mình” [9, 53]. Tác giả cũng nhận xét về hình tượng Lưu Bị là “một ông vua lý tưởng của Nho giáo với đặc trưng “khoan dung nhân hậu”, nhẫn nại” [9, 54]. Trong khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu nhân vật anh hùng trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, tác giả Đoàn Thị Thu Phương đã có những đánh giá chi tiết, sắc sảo về tính cách của Lưu Bị và Ngũ hổ tướng, cũng như biện pháp nghệ thuật đặc sắc để xây dựng các nhân vật anh hùng đó. Tác giả này đã phân tích rất kỹ “Biện pháp đối lập tương phản” “để làm nổi bật sự mưu trí, bình tĩnh khéo léo của Huyền Đức trong việc che giấu ý đồ chính trị của mình trước giặc Tào gian xảo hiểm ác” [20, 103]. Nhìn chung lại, theo dòng chảy của thời gian, với nhiều góc độ tiếp nhận, các nhà nghiên cứu đã đạt được những thành quả rất đáng trân trọng trong việc nghiên cứu hai nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa. Tuy nhiên, từ những tài liệu chúng tôi bao quát được chưa thấy có chuyên luận nào đề cập tỉ mỉ, cụ thể đến sự khác nhau giữa hai nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị cũng như nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này. Khóa luận của chúng tôi sẽ đi sâu vào những vấn đề đó và tiếp thu có chọn lọc những ý kiến của các thế hệ đi trước ở tất cả những vấn đề có liên quan. 3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu sự khác nhau giữa hai nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị và một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này. Văn bản khảo sát là tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, ba tập, do nhóm dịch giả: Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, Lê Huy Tiêu, Lê Đức Niệm… dịch, NXB Văn hóa thông tin, 2002. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến khóa luận cũng được quan tâm tìm hiểu. 3.3. Mục đích nghiên cứu Làm nổi bật và khẳng định tài năng sáng tạo nghệ thuật của La Quán Trung thông qua việc tìm hiểu, phân tích, so sánh sự khác nhau giữa hai nhân 5 vật Tào Tháo, Lưu Bị và một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa. 3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu Nhiệm vụ chủ yếu của người nghiên cứu là phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để làm nổi bật đặc điểm khác nhau của nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị, đồng thời tìm hiểu đôi nét về nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này của La Quán Trung. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp khảo sát văn bản: Chúng tôi dựa vào việc khảo sát, thống kê, phân loại một số dữ liệu cần thiết, cụ thể để phân tích, chứng minh cho nhận định, đánh giá trong đề tài. Thống kê, phân loại những chi tiết để làm sáng tỏ những nét ngoại hình, tính cách khác biệt giữa nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị, thống kê những chi tiết gắn với các thủ pháp nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này. Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp quan trọng nhất để tìm ra những điểm khác biệt giữa nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị. So sánh đồng đại, so sánh lịch đại, đặt nhân vật trong mối quan hệ đa chiều để làm nổi bật sự sinh động, hấp dẫn và tính chất chân thực của các nhân vật. Phương pháp phân tích: Chúng tôi phân tích những đặc điểm về ngoại hình, tính cách và các thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng khi xây dựng hai nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị và phân tích nhân vật theo đặc trưng loại thể. 5. Đóng góp của khóa luận Khóa luận chỉ ra một cách cụ thể, chi tiết những điểm khác biệt của hai nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị cùng một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này, giúp bạn đọc hiểu thêm về tài năng sáng tạo nghệ thuật của La Quán Trung. 6. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm ba chương: Chương 1. Những vấn đề chung Chương 2. Những điểm khác nhau giữa nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị Chương 3. Một số biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị 6 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Nhân vật văn học là một hiện tượng thẩm mỹ mang đầy tính ước lệ tượng trưng. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật là để nhận thức con người và bộc lộ quan niệm của mình về con người trong cuộc sống. Đồng thời, nhân vật thường hiện lên trong tác phẩm dưới dạng những tính cách và thông qua một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu mà tác giả lựa chọn trong quá trình sáng tạo tác phẩm. Chính vì vậy, trước khi tìm hiểu những điểm khác nhau giữa nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị trong Tam quốc diễn nghĩa chúng ta cần làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận, những khái niệm quan trọng liên quan đến khóa luận như: nhân vật văn học, nghệ thuật xây dựng nhân vật… Thêm vào đó việc tìm hiểu về tác giả La Quán Trung và tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa, giúp chúng ta hiểu thêm cuộc đời, sự nghiệp của tác giả, hoàn cảnh sáng tác, nội dung ý nghĩa và giá trị nghệ thuật to lớn của tác phẩm cũng như đóng góp của tác giả trong nền văn học Trung Quốc, giúp cho bạn đọc có cái nhìn sâu, rộng, khách quan và đúng đắn về tác giả cũng như tác phẩm. 1.1. Tác giả La Quán Trung La Quán Trung (1330? - 1400?) là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, sống vào giai đoạn cuối Nguyên đầu Minh. Ông tên là La Bản, tự là Quán Trung, hiệu là Hồ Hải Tản Nhân, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây (cũ) sau chuyển đến sống ở Tiền Đường thành phố Hàng Châu (Chiết Giang) - một trong những trung tâm văn hóa thời bấy giờ. Là người học rộng, biết nhiều, trong mỗi sáng tác của ông người ta đều nhận thấy sự uyên thâm về tri thức và vốn sống văn hóa của nhiều lĩnh vực. Theo Giả Trọng Minh - bạn của ông cho biết: La Quán Trung tính tình cô độc, ít hòa hợp với mọi người, đặc biệt những người thuộc giai cấp thống trị. Vì thời thế nhiễu nhương, nhiều biến loạn nên ông thường hay ngao du bôn tẩu, phiêu bạt khắp nơi. Chính điều này góp phần tạo nên chất hiện thực phong phú, sinh động cho mỗi tác phẩm của ông. Đến khi Minh Thái Tổ thống nhất đất nước Trung Quốc, ông chuyển sang làm công việc dã sử, Tam quốc chí diễn nghĩa có lẽ được viết vào lúc này. Theo sách của những người cùng thời ông, La Quán Trung còn là người thiết tha với sự nghiệp phò vua giúp nước, mưu đồ vương bá nhưng bất đắc chí. Những lý tưởng chính trị ấy được ông gửi gắm trọn vẹn vào tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thông qua tập đoàn Lưu - Thục. Ngoài ra, ông từng làm mặc khách trong khởi nghĩa của Trương Sỹ Thành - một trong những người lãnh đạo phong trào khởi binh chống lại nhà Nguyên thời bấy giờ. 7 Là người có tài văn chương, giỏi “từ”, “khúc”, La Quán Trung có khả năng sáng tác kịch nhưng thành tựu chủ yếu về mặt thể loại văn học của ông chính là tiểu thuyết. Sáng tác của La Quán Trung phong phú đa dạng, trước hết phải kể đến bộ tiểu thuyết trường thiên Tam quốc diễn nghĩa, ngoài ra còn các sách Tùy Đường lưỡng triều chí truyện, Tấn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện và vở tạp kịch Tống Thái Tổ Long Hổ Phong Vân hội… 1.2. Tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa 1.2.1. Nguồn gốc của tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa Tam quốc diễn nghĩa là một bộ tiểu thuyết dài (gồm 120 hồi, 75 vạn chữ) được viết dựa theo tài liệu lịch sử và truyền thuyết dân gian. Câu chuyện Tam quốc được xây dựng trên cơ sở của sự thật lịch sử thời Tam quốc (220 - 280). La Quán Trung đã dựa vào cuốn sử Tam quốc chí của Trần Thọ viết vào đời Tấn và cuốn Tam quốc chí chú của Bùi Tùng Chi viết vào đời Tống để viết nên Tam quốc. Ông đã đọc rất kĩ hai cuốn sách này. Sau đó ông đọc rất nhiều những tác phẩm lịch sử viết về từng nước Ngụy, Thục, Ngô, từng nhân vật lịch sử tiêu biểu như: Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền; tiếp đó là các tướng lĩnh xuất sắc như: Khổng Minh, Quan Công, Trương Phi, Tư Mã Ý… để lựa chọn tư liệu cho việc sáng tác Tam quốc diễn nghĩa. Cuộc phân tranh giữa ba nước Ngụy, Thục, Ngô bắt đầu từ năm 220 khi Tào Phi phế bỏ Hán Hiến Đế lập nhà Ngụy cho đến năm 280, Tư Mã Viêm diệt Ngô xây dựng nhà Tấn. Câu chuyện La Quán Trung miêu tả trong Tam quốc bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn Vàng) và cũng kết thúc vào năm 280 khi Tư Mã Viêm diệt Ngô, thống nhất Trung Quốc. Những nhân vật chính trong tác phẩm Tam quốc đều là những nhân vật có thật trong lịch sử: Tào Tháo, Lưu Bị, Khổng Minh, Quan Công, Trương Phi... La Quán Trung đã từng đến những địa danh lịch sử vùng Ngô - Việt xưa, ông đã đến Đương Dương thăm cầu Tràng Bản, nơi tiếng thét như sấm rền của người anh hùng Trương Phi đã làm tướng giặc sợ quá lăn ra chết, quân Tào sợ hãi quay đầu bỏ chạy. Đặc biệt ông đã nhiều lần đến Xích Bích kề sát núi Nam Bình… cho nên ông viết về lịch sử với độ chính xác khá cao. Những truyện kể dân gian về các anh hùng thời Tam quốc được ghi chép lại trong tác phẩm Tam quốc chí bình thoại (thời cuối Tống đầu Nguyên - chưa rõ tác giả). Đây là cuốn sách ghi chép truyện dân gian hiện còn bản kể mà những tình tiết quan trọng trong Tam quốc diễn nghĩa đã có khá đầy đủ trong cuốn sách này. 8 Tất cả những truyền thuyết dân gian, rất nhiều câu chuyện của nhiều tác giả viết về những sự kiện và nhân vật thời Tam quốc đã trở thành nguồn tư liệu bổ ích và quý giá cho việc sáng tạo của La Quán Trung. Bằng những cảm nhận sâu sắc về lịch sử, con người, bằng tài năng sáng tạo bậc thầy, La Quán Trung đã lựa chọn, sàng lọc, tổ chức lại những nguồn tư liệu dân gian cực kì phong phú trên thành một tác phẩm nhất quán, nhân vật có tính cách rõ nét, hơn bốn trăm nhân vật đối lập, bổ sung, soi sáng cho nhau, làm nổi bật lẫn nhau… Sự ảnh hưởng của truyện kể dân gian khá rõ nét trong Tam quốc ở đặc điểm khắc họa tính cách nhân vật. Trong truyện dân gian, tính cách nhân vật được bộc lộ qua hành động và ngôn ngữ, tâm lý, suy nghĩ của nhân vật hầu như không được bộc lộ. Chịu ảnh hưởng của nguồn gốc dân gian, Tam quốc chủ yếu khắc họa tính cách nhân vật qua miêu tả hành động và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, tâm lý của nhân vật ít được miêu tả. 1.2.2. Khái quát về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa 1.2.2.1. Khái quát về nội dung Tam quốc diễn nghĩa Với gần trăm năm, không gian trải rộng trên đất nước Trung Hoa rộng lớn, nội dung Tam quốc diễn nghĩa vô cùng phong phú và đa dạng. Tác phẩm đã tái hiện được bức tranh xã hội Trung Quốc trong thời gian chín mươi bảy năm từ đời Linh Đế (Lưu Hoằng) nhà Đông Hán đến đời Vũ Đế (Tư Mã Viêm) lập nên nhà Tây Tấn. Đó là cuộc phân tranh giữa ba tập đoàn phong kiến quân phiệt: Ngụy - do Tào Tháo cầm đầu, chiếm giữ phía Bắc từ Trường Giang trở lên nên gọi là Bắc Ngụy; Thục - do Lưu Bị cầm đầu, chiếm giữ phía Tây Nam nên gọi là Tây Thục; Ngô - do Tôn Quyền cầm đầu, chiếm giữ phía Đông Nam nên gọi là Đông Ngô. Tam quốc diễn nghĩa phơi bày cục diện chính trị Trung Hoa mà đường nét nổi bật là “cát cứ phân tranh”, cá lớn nuốt cá bé, chiến tranh liên miên, nhân dân đói khổ, điêu linh. Trong một thời kì hỗn loạn như vậy, nhân dân mong muốn hòa bình, ổn định, thống nhất. Nguyện vọng đó được gửi gắm vào một triều đình có ông vua biết thương dân, có văn võ bá quan biết thực hiện đường lối “nhân chính”. Ông vua đó là Lưu Bị, triều đình đó là nhà Thục. Nhà Thục có vua Lưu Bị dòng dõi nhà Hán, biết thương dân và vì dân, tượng trưng cho chữ “nhân”, có các mưu sĩ giỏi như Khổng Minh, tượng trưng cho chữ “trí”, lại có năm tướng giỏi (ngũ hổ tướng) như: Quan Công, Trương Phi, Mã Siêu, Triệu Vân, Hoàng Trung, tượng trưng cho chữ “dũng”. Họ lại trên dưới một lòng vì sự nghiệp chung mà biểu tượng là ba anh em kết nghĩa Lưu, Quan, Trương thề sống chết bên nhau vì sự nghiệp khôi phục nhà 9 Hán. Đối lập với họ là phía Tào Tháo và triều đình Tào Ngụy. Tào Tháo là điển hình của kẻ thống trị tàn bạo và giảo quyệt. Châm ngôn của Tào Tháo là: “Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta” [27, I, 98]. Châm ngôn này chỉ đạo những hành động tội ác của hắn: lấy oán trả ân giết cả nhà Lã Bá Sa, thiếu lương thực mượn đầu quan coi kho Vương Hậu để yên lòng quân sĩ, vờ ngủ say giết cả lính hầu, giết tướng tài Dương Tu vì Tu biết được bí mật của mình; để báo thù cho cha, làm cỏ cả thành Từ Châu… Thế lực đối đầu với Tào Tháo và Lưu Bị là Tôn Quyền. Cái khí khái anh hùng của Tôn Quyền không bằng Lưu Bị và Tào Tháo nhưng ngồi giữ sự nghiệp cha anh để lại thì thật là một nhân tài xuất sắc. Trong truyện tuy miêu tả cuộc chiến tranh của ba nước Ngụy, Thục, Ngô nhưng tác giả giành nhiều bút mực miêu tả cuộc đọ sức của hai phái Ngụy - Thục, còn phái Ngô, khi thì đứng về phía Thục chống Ngụy, khi thì ngả về phía Ngụy chống Thục. Trong cuộc chiến tranh giữa ba nước Ngụy, Thục, Ngô, nước Ngô chỉ là đệm. Khi nào nước Ngô ủng hộ nước Thục thì tác giả ca ngợi nước Ngô, khi nào nước Ngô ủng hộ nước Ngụy, tác giả phê phán nước Ngô. Tư tưởng của La Quán Trung trong Tam quốc diễn nghĩa là “ủng Lưu phản Tào”… Là lá cờ mở đường cho tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc, Tam quốc diễn nghĩa đem lại giá trị hiện thực rất lớn, làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ hơn về lịch sử tổ quốc mình. Tác phẩm cung cấp nhiều tin tức về chính trị, là cuốn binh thư sinh động trong chiến đấu; đồng thời tác phẩm còn cung cấp kinh nghiệm “đào viên kết nghĩa” để quần chúng đoàn kết, tổ chức chống lại giai cấp thống trị… Những giá trị hiện thực đó đã đem lại sức sống lâu bền cho tác phẩm. 1.2.2.2. Khái quát về nghệ thuật Tam quốc diễn nghĩa Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết hiện thực xuất sắc được xếp vào một trong tứ đại kì thư Trung Hoa. Tam quốc diễn nghĩa thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà văn thiên tài La Quán Trung. Kết cấu tác phẩm hùng vĩ nhưng mạch lạc rõ ràng; kể chuyện trăm năm, ghi chép muôn việc nhưng không rối. Tính mạch lạc thể hiện ở khuynh hướng yêu ghét rõ ràng: ủng Lưu phản Tào, thể hiện ở quan niệm triết học về lịch sử: hợp lâu tất phân, phân lâu tất hợp. Đọc Tam quốc người ta thấy có sáu dòng mạch chính được đan cài vào nhau hết sức nhuần nhuyễn, như diện mạo thực của lịch sử. Đó là sự kết thúc của triều đại Đông Hán, sự ra đời và kết thúc của nước Ngụy, nước Thục và nước Ngô, và hai tuyến về nhân vật “Tam kết nghĩa” Lưu, Quan, Trương từ hồi mở đầu đến khi Lưu Bị người cuối cùng của ba anh em bị chết, một tuyến nữa là nhân vật Khổng Minh, từ khi xuống núi phò tá Lưu Bị đến khi dâng sao ở gò Ngũ Trượng. Sáu dòng mạch lớn này chẳng những đan xen vào nhau, còn kéo theo không biết bao nhiêu 10 dòng mạch nhỏ khác, nhưng tác giả vẫn không bị rối loạn mà thúc đẩy đến cùng các mâu thuẫn, khiến cho nhân vật và sự kiện diễn biến lúc dồn dập, lúc khoan thai làm cho người đọc bị cuốn hút từ sự kiện này đến sự kiện khác bởi sự li kì, biến ảo. Kế thừa truyền thống truyện kể dân gian và bị khuôn định bởi nội dung lịch sử của tác phẩm, La Quán Trung đã khéo léo vận dụng, dàn dựng sự kiện phát triển theo mạch thời gian, một chiều, một hướng, khiến người đọc dễ theo dõi sự kiện và dễ nhớ nhân vật. Nghệ thuật miêu tả chiến tranh trong Tam quốc rất đặc sắc, tác phẩm tái hiện hơn bốn trăm trận đánh lớn, nhỏ mà không trận nào giống trận nào. Trận nào cũng được tác giả đề cập tới nguyên nhân, diễn biến và kết thúc trận đấu. Những trận đánh lớn, tiêu biểu như: trận Xích Bích, Quan Độ, Di Lăng, Hào Đình… Ở trận Xích Bích, tác giả miêu tả vừa có thủy chiến, hỏa công, vừa có chiến tranh ngoại giao, gián điệp và chiến tranh tâm lý. Đó không phải là chiến tranh giữa hai phe Tào Ngụy một phía và Ngô - Thục liên minh một phía, mà còn là chiến tranh cân não giữa Ngô và Thục mà đại diện là Chu Du và Khổng Minh. Tác giả đã dùng sáu hồi để miêu tả quá trình chuẩn bị trận đánh, chỉ mấy dòng nói về trận đánh. Đó là cái tài tình của ngòi bút La Quán Trung. Rõ ràng chuẩn bị cho trận đánh lớn thì phải rất lâu, phải chọn thời cơ, xét tương quan lực lượng… còn diễn biến thì rất nhanh, một mặt thể hiện cái dữ dội, mạnh mẽ của hỏa công khi có thêm gió đông, mặt khác, việc nhanh chóng thì bút cũng không thể chậm chạp tả ra được, cho nên diễn biến trận đánh chỉ cần hai câu là đã đủ… Viết về chiến tranh sinh động và chân thực, điều đó phản ánh sự am hiểu tường tận kiến thức lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội của tác giả cùng sự hiểu biết binh pháp và sự trải nghiệm thực tế chiến trường. Về nghệ thuật xây dựng nhân vật (chúng tôi sẽ phân tích kĩ ở chương 3), khắc họa nhân vật cũng là một nét tài năng của La Quán Trung. Nhân vật được khắc họa theo quan niệm tướng số - kỳ hình dị tướng là người tài. Dùng ngôn ngữ và hành động để thể hiện tính cách nhân vật là thủ pháp thường thấy trong tiểu thuyết cổ điển. Ngoài ra phải kể tới sự lựa chọn tình tiết ly kỳ, éo le, càng ngày càng tô đậm tính cách nhân vật. Việc chuẩn bị đưa nhân vật tham gia vào cốt truyện được tác giả quan tâm, giới thiệu tính cách nhân vật vừa hợp lý, vừa kì lạ, tạo ra được sức hấp dẫn lôi cuốn của tác phẩm… Vận dụng nhiều thủ pháp độc đáo trong việc khắc họa tính cách nhân vật, La Quán Trung đã tạo cho nhân vật trong tác phẩm của mình có được sức sống lâu bền trong lòng độc giả. Tóm lại, Tam quốc diễn nghĩa là bộ truyện dài đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, là bộ tiểu thuyết lịch sử mở đầu cho một trường phái văn học mới mẻ, đưa Trung Quốc trở thành nước có số lượng tiểu thuyết phong phú nhất trên thế giới 11 thời bấy giờ. Tam quốc diễn nghĩa ra đời kéo theo sự xuất hiện của nhiều tác phẩm cùng thể loại, có thể kể đến: Đông tây Tấn diễn nghĩa, Tiền hậu Đường diễn nghĩa, Nam bắc Tống diễn nghĩa, Thanh sử diễn nghĩa, Tam quốc ngoại truyện… Tuy nhiên không tác phẩm nào trong số đó có thể sánh ngang tầm với Tam quốc cả về giá trị nội dung và nghệ thuật. Tác phẩm vì thế được đông đảo mọi người tìm đọc và có giá trị lâu bền. Sức hấp dẫn của tác phẩm đã vượt qua ranh giới của một nước, đi vào đời sống văn hóa nhiều dân tộc, nhất là ở vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. 1.3. Một số vấn đề lý luận 1.3.1. Nhân vật văn học Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học. Dù là tác phẩm tự sự, trữ tình hay kịch, dù gián tiếp hay trực tiếp thì văn học đều miêu tả con người. Nhân vật văn học là “con người được miêu tả trong văn học bằng các phương tiện văn học” [14, 277]. Có thể nói, con người tồn tại trong cuộc sống đa dạng và phức tạp bao nhiêu thì nhân vật trong tác phẩm văn học cũng đa dạng và phức tạp bấy nhiêu. Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng: Thúy Kiều, Kim Trọng, Mị, A Phủ, Chí Phèo, Lục Vân Tiên, anh Pha, chị Dậu… cũng có thể xuất hiện với tên chung chỉ nghề nghiệp: người đưa tin, thằng bán tơ, phu xe, phu gạo, thẳng mõ, con sen, bác nông dân, anh thợ cạo, chị hàng nước… xuất hiện với tên chung chỉ giới (anh chỉ nam giới, chị chỉ nữ giới) hoặc xuất hiện với tên gọi theo đơn vị, chức vụ xã hội: lính lệ, thầy thơ lại, chú bộ đội, anh công an, ông quan huyện, viên quản ngục… Nhân vật văn học có thể là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa của con người như: Dế Mèn, Dế Trũi trong Dế Mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài); Văn Ngan trong Cuộc phiêu lưu của Văn Ngan tướng công (Vũ Tú Nam)… Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ con người cụ thể nào, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Chẳng hạn, người ta có thể nói: “định mệnh” là nhân vật đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung triết lý của Truyện Kiều (Nguyễn Du), “chữ” là nhân vật chính trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân); “nhân dân” là nhân vật chính trong Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc) hay trong Chiến tranh và hòa bình (L. Tônxtôi)… Nhân vật được miêu tả bằng nhiều hình thức khác nhau. Có thể nhân vật được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có tiểu sử như nhân 12 vật trong tác phẩm tự sự và kịch. La Quán Trung giới thiệu Lưu Bị: “Dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng, cháu năm đời vua Cảnh Đế nhà Hán, họ Lưu, tên Bị, tự là Huyền Đức” [27, I, 32] hoặc ngược lại nhân vật văn học có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, chỉ có giọng điệu, tiếng nói, cái nhìn, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình. Nhân vật văn học được biểu hiện bằng phương tiện văn học. “Trong thơ trữ tình, ta có nhân vật trữ tình, tức con người xuất hiện để tự bộc lộ nỗi niềm trước cuộc sống. Đó là con người mang hình thức vô danh, tự bộc lộ mình bằng cảm xúc, ý nghĩ, cái nhìn bằng chính thế giới nội cảm. Trong tác phẩm kịch, nhân vật là những con người bộc lộ mình qua hành động và lời nói của chính mình hoặc tự vạch mặt mình” [23, 27]. Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong cuộc sống, thường mang những dấu hiệu để ta dễ nhận ra. Đó có thể là tên gọi: Trạch Văn Đoành, Trương Rự, Chí Phèo, Lãm, Nguyệt… đến các dấu hiệu tiểu sử nghề nghiệp hoặc đặc điểm riêng như: chàng mồ côi, hai anh em sinh đôi, thằng ngốc, chú lính… dự báo trước tương lai nhân vật cũng như diễn biến câu chuyện. 1.3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng nhân vật tức là nói đến các phương thức biểu hiện nhân vật và các biện pháp thể hiện nhân vật. Văn học đa dạng đến đâu, các phương thức, phương tiện thể hiện nhân vật đa dạng đến đó. Trước hết “nhân vật được miêu tả bằng chi tiết. Đó là những biểu hiện mọi mặt của con người mà người ta có thể căn cứ để cảm biết về nó. Hêghen xem chi tiết như những con mắt trổ những cửa sổ để người ta nhìn vào nhân vật” [14, 291]. Chi tiết miêu tả đôi mắt của Maria (Chiến tranh và hòa bình - L. Tônxtôi) đã thể hiện thế giới nội tâm của nàng. Chi tiết Chí Phèo gặp Thị Nở là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển thay đổi cuộc đời Chí (Chí Phèo - Nam Cao). Nhân vật được miêu tả qua những nét cụ thể: chân dung, ngoại hình, tả hành động và tâm trạng, thể hiện những quá trình nội tâm. Những chi tiết quan trọng về ngoại hình giúp ta nhận biết về tính cách nhân vật. Ví dụ: Thông qua ngoại hình của nhân vật Phượng Thư trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần ta nhận ra sự sắc sảo, thông minh, giỏi giang nhưng cũng ẩn chứa đầy sự nham hiểm, độc ác của cô. 13 Ngoại hình nhân vật có thể được miêu tả trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua cảm nhận của nhân vật khác. Đó có thể là ngôn ngữ trực tiếp của nhà văn khi miêu tả nhân vật như khi Nam Cao miêu tả Lang Rận: “Anh chàng có cái mặt trông dơ dáng thật. Mặt gì mà nặng chình chĩnh như mặt người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm những tàn nhang. Cái trán ngắn ngủn, lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề. Môi rất nở cong lên, bịt gần kín hai cái lỗ mũi con con, khiến anh ta thở khò khè” [8, 259]. Ngoại hình nhân vật khi miêu tả gián tiếp có thể thông qua cảm nhận hoặc qua cái nhìn của nhân vật khác trong tác phẩm, như: Nét hào hoa phong nhã của chàng Kim hiện lên qua sự cảm nhận của Thúy Kiều từ buổi gặp gỡ đầu tiên trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, hoặc ngoại hình của Khổng Minh trong con mắt của Huyền Đức: “Huyền Đức thấy Khổng Minh mình cao tám thước, mặt đẹp như ngọc, đầu đội khăn lượt, mình bận áo cánh hạc, hình dáng thanh thoát như tiên” [27, II, 8]. Nhân vật thường bộc lộ mình nhiều nhất qua hành động, ý nghĩ. Đó chính là những việc làm cụ thể của nhân vật trong quan hệ ứng xử với các nhân vật khác và trong những tình huống khác nhau của cuộc sống. Việc miêu tả hành động của nhân vật có thể được thực hiện thông qua ngôn ngữ người kể chuyện hoặc qua ngôn ngữ của nhân vật khác. Đáng chú ý là hành động của nhân vật phải được miêu tả một cách nhất quán và ở điểm này lời khuyên của L. Tônxtôi rất có ý nghĩa: “Hãy sống cuộc sống của các nhân vật được miêu tả và tự các nhân vật sẽ làm những gì họ cần phải làm do tính cách của họ” [7, 134]. Vùng lên, phản kháng chống lại tên cai lệ để chúng không đánh anh Dậu nữa, đã thể hiện quy luật “tức nước vỡ bờ” và lòng thương yêu chồng của chị Dậu (tiểu thuyết Tắt đèn - Ngô Tất Tố). Các nhà văn cũng rất chú ý khắc họa nhân vật thông qua ngôn ngữ. Đây là căn cứ quan trọng để biểu đạt phẩm chất và tính cách của mỗi người, nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình cá biệt hóa nhân vật. Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm được thể hiện ở hai dạng: ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại. Đối thoại là lời nói của nhân vật hướng vào nhau trong giao tiếp. Thông qua những cuộc đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm góp phần bộc lộ tính cách, tâm lý và thế giới tâm hồn của nhân vật. Ví dụ: Thông qua những lời đối thoại giữa Huấn Cao và thầy thơ lại ta thấy tính cách của Huấn Cao đã được lột tả qua lời nói của ông, một con người có nhân cách cao cả, coi thường danh lợi, vật chất, không qụy lụy trước uy quyền (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân). Độc thoại nội tâm là thủ pháp nghệ thuật độc đáo giúp nghệ sĩ họa lại chính xác những sắc màu tinh tế của đời sống tâm hồn, tính cách nhân vật bởi đây là ngôn ngữ nhân vật tự nói với mình một cách thầm kín, chân thực. Thông qua lời độc thoại tính cách của nhân vật hiện lên chân thực và khách quan, có 14 tính độc lập tương đối. Ví dụ: Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao qua dòng độc thoại nội tâm thể hiện tấm lòng nhân hậu, thương con của lão. Nhân vật còn được thể hiện qua mâu thuẫn, xung đột, sự kiện. Các mâu thuẫn, xung đột bao giờ cũng tác động làm cho nhân vật bộc lộ phần bản chất sâu kín của nó. Chẳng hạn nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân được đặt vào tình huống gay gắt để bộc lộ những mâu thuẫn nội tâm: Ông Hai yêu làng, tự hào về cái làng Chợ Dầu của mình. Khi nghe tin làng theo giặc ban đầu ông sững sờ chưa tin nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gằm mặt xuống mà đi. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lý tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng Chợ Dầu. Sự thể hiện nhân vật bao giờ cũng nhằm khái quát nội dung đời sống xã hội và một quan điểm sâu sắc, một cảm hứng tình điệu tha thiết với cuộc đời. Vì vậy, sự thể hiện nhân vật phải được xem xét trong sự phù hợp với kiểu loại nhân vật. Phương thức, biện pháp thể hiện đối với nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân chính diện, nhân vật phản diện không giống nhau.Yêu cầu thể hiện nhân vật mặt nạ (nhân vật chức năng), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng mỗi lúc một khác. Và sự thể hiện này luôn luôn gắn liền với phương thức sáng tác, truyền thống văn học dân tộc, phong cách nhà văn và đặc trưng thể loại. Tiểu kết Nhân vật văn học là trung tâm, là linh hồn của tác phẩm. Thế giới nhân vật càng phong phú, đa dạng càng thể hiện tài năng sáng tạo của tác giả. Với số lượng hơn bốn trăm nhân vật, La Quán Trung đã để cho những đứa con tinh thần của mình hiện lên vô cùng sinh động và hấp dẫn. Tác phẩm không chỉ thành công trong việc xây dựng nhân vật, mà còn thành công ở mặt nội dung và nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Đặc biệt sự mới mẻ trong cách viết, cách xây dựng nhân vật vô cùng chân thật Tam quốc diễn nghĩa đánh dấu bước phát triển mới của thể loại tiểu thuyết cổ điển. Nhân vật văn học là hình thức để nhà văn khái quát đời sống. Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người. Nhân vật văn học là người dẫn dắt độc giả thâm nhập vào thế giới đời sống, thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người. Nhân vật được thể hiện qua chi tiết, qua hành động, ngôn ngữ, qua xung đột, sự kiện… Việc tìm hiểu khái niệm nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật giúp ta có cơ sở lý luận chắc chắn, chính xác để phân tích, đánh giá nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa một cách cụ thể, khách quan, sâu sắc, có căn cứ và đem lại hiệu quả thiết thực hơn. 15
- Xem thêm -