Tài liệu Hình thành và phát triển ngôn ngữ hóa học ở lớp 8 cho học sinh dân tộc các trường trung học cơ sở tỉnh sơn la

  • Số trang: 174 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 69 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

PHẦN I : MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Trong xu thế hội nhập toàn diện của đất nước, nền giáo dục của nước nhà phải là một trong những mũi nhọn tiên phong, trong đó đổi mới giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học có hiệu quả cao cần trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản vững chắc. Trên cơ sở đó học sinh biết vận dụng sáng tạo kiến thức giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn cuộc sống. Mục tiêu của giáo dục THCS là cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học. Ngôn ngữ hóa học là một thành phần rất quan trọng trong quá trình dạy học và nghiên cứu hóa học. Việc hiểu, nắm bắt và vận dụng tốt ngôn ngữ hóa học có tính chất quyết định đến chất lượng lĩnh hội kiến thức hóa học của học sinh. Như vậy giúp các em hiểu rõ ngôn ngữ hóa học cơ bản nhằm xây dựng cho các em nền tảng phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các cấp bậc học cao hơn, đi vào cuộc sống lao động, giao tiếp xã hội. Môn hoá học là một môn học rất mới mẻ đối với học sinh lớp 8 trung học cơ sở, nên việc hiểu, nắm bắt và vận dụng tốt ngôn ngữ hóa học đối với đa số học sinh còn nhiều hạn chế và thụ động, đặc biệt là đối với học sinh người dân tộc việc nghe và hiểu tiếng Việt đã khó. Hiểu và vận dụng ngôn ngữ hóa học càng khó khăn hơn đối với các em. Từ đó gây tâm lý ngại học môn hoá học, dẫn đến kết quả học tập không cao. Do đó việc nghiên cứu, đề xuất những biện pháp dạy học theo hướng tích cực nhằm phát triển năng lực nhận thức, nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói chung, học sinh dân 1 tộc nói riêng, với môn hoá học nói chung và vấn đề về dạy ngôn ngữ hoá học nói riêng là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Chính vì những lí do trên tôi đã chọn đề tài: “ Hình thành và phát triển ngôn ngữ hóa học ở lớp 8 cho học sinh dân tộc các trường Trung học cơ sở tỉnh Sơn La ”. 2. Lịch sử nghiên cứu. - NNHH và sử dụng NNHH trong dạy học không phải là vấn đề hoàn toàn mới ở Việt Nam. Các nhà khoa học đã có những công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về nội dung của NNHH (như ngôn ngữ của một ngành khoa học cụ thể) qua các báo cáo, công trình đăng trên các tạp chí: - Vấn đề “Lịch sử đặt tên các nguyên tố hóa học” được tác giả Nguyễn Duy Ái tập hợp và hệ thống lại đăng trên Tạp chí Hóa học ngày nay (số 21.12/1994; số 22 – 1/1995), tác giả Phúc Đường có bài viết “Du lịch qua tên gọi các nguyên tố hóa học “đăng trên tạp chí Thế giới mới số 511 (trang 53 – 54) và 512 (trang 58 – 60) cung cấp những tư liệu về nguồn gốc tên gọi của phần lớn các nguyên tố trong Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học. - Về thuật ngữ hóa học nói chung có một số tư liệu tập trung nghiên cứu về nội dung các thuật ngữ (gắn với các khái niệm hóa học) nhằm mục đích tra cứu: từ điển hóa học phổ thông, thí nghiệm hóa học dành cho thiếu nhi, của nhà xuất bản (NXB) Văn hóa – Thông tin. Về thuật ngữ và tên gọi các hợp chất vô cơ được tác giả Đào Quý Chiêu đề cập về những nguyên tắc và mối liên hệ với bản thân các chất, sự phân loại các chất. - Năm 2000, NXB Giáo dục đã xuất bản cuốn sách “Danh pháp hợp chất hữu cơ” của tác giả Trần Quốc Sơn (chủ biên) và Trần Thị Tửu, được tái bản tháng 11 năm 2003. Trong lời nói đầu tác giả đã viết: “Vấn đề thuật ngữ và danh pháp hóa học ở nước ta đang được nhiều người quan tâm đặc biệt, không những vì tầm quan trọng của nó trong giảng dạy hóa học mà còn vì chưa có sự thống nhất về nguyên tắc xây dựng thuật ngữ hóa học bằng tiếng 2 Việt và về cách luân phiên chuyển tiếng nước ngoài thành tiếng Việt”. - Tháng 3/2009, Hội hoá học Việt Nam báo cáo tổng kết đề tài tại Hà Nội “Xây dựng hệ thống danh pháp và thuật ngữ hoá học Việt Nam”. - Vấn đề NNHH chỉ được trình bày trong tài liệu: Ngôn ngữ hóa học phương tiện nhận thức trong DHHH, gồm những nội dung: - Ngôn ngữ hóa học, PP nhận thức hóa học trong khoa học và trong dạy học - Vị trí, chức năng của NNHH trong hệ thống các phương tiện dạy học - Những cơ sở lý luận của sự hình thành NNHH - Nội dung kiến thức và kỹ năng NNHH trường trung học - những giai đoạn cơ bản của quá trình hình thành NNHH trong DHHH - Những điều kiện để lĩnh hội nội dung và sử dụng ngôn ngữ hóa học. “Ngôn ngữ hóa học” là cách gọi ngắn gọn của “ngôn ngữ của khoa học hóa học”, bao gồm: thuật ngữ hóa học, danh pháp và biểu tượng hóa học, trong đó thuật ngữ hóa học là thành phần cơ sở của NNHH. Ngôn ngữ hóa học thực hiện các chức năng nhận thức hóa học trong hệ thống các phương tiện nhận thức và phương tiện dạy học hóa học. - Một số luận án Tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khóa luận của sinh viên đã nghiên cứu vấn đề này như : +) Luận án Tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Chiên : “Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học (về thuật ngữ hoá học) cho sinh viên miền núi trong trường sư phạm các tỉnh phía Bắc” bảo vệ năm 2005 tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. +) Luận án Thạc sĩ của tác giả Huỳnh Thiên Lương “Hình thành những khái niệm hóa học cơ bản cho học sinh người dân tộc Khmer ở trường Trung học cơ sở tỉnh Trà Vinh” bảo vệ năm 2007 tại trường Đại học Sư phạm, Hà Nội. 3 +) Luận án Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Mai: “Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học cho học sinh lớp 11 trung học phổ thông ở tỉnh Đăk Nông” bảo vệ năm 2010 tại trường Đại học Sư phạm Huế. Tuy nhiên việc nghiên cứu NNHH và sử dụng NNHH trong dạy học hóa học ở trường phổ thông đặc biệt ở cấp THCS nhất là ở lớp 8, lần đầu tiên học sinh học môn hóa học nên vấn đề rèn luyện ngôn ngữ hóa học lại càng cần thiết và quan trọng hơn. Mặt khác đối với học sinh các tỉnh miền núi nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng càng cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “ Hình thành và phát triển ngôn ngữ hóa học ở lớp 8 cho học sinh dân tộc các trường Trung học cơ sở tỉnh Sơn La ” là cần thiết và quan trọng. 3. Mục đích nghiên cứu - nhiệm vụ nghiên cứu. 3.1. Mục đích nghiên cứu. Nghiên cứu, lựa chọn, đề xuất các biện pháp dạy học giúp học sinh người dân tộc nắm vững và vận dụng tốt ngôn ngữ hóa học lớp 8 ở trường THCS theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lý luận của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ hoá học, nội dung, kiến thức của ngôn ngữ hoá học cơ bản trong chương trình sách giáo khoa hóa học lớp 8 THCS. Các quan điểm và nội dung định hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học hoá học nói riêng theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. - Phân tích sự hình thành và phát triển ngôn ngữ hoá học ở lớp 8 THCS. - Điều tra thực trạng việc nắm vững ngôn ngữ hoá học của học sinh chỉ ra những khó khăn của giáo viên và học sinh dân tộc khi dạy học ngôn ngữ hóa học. 4 - Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp dạy học nhằm: hình thành có hiệu quả ngôn ngữ hóa học cho học sinh người dân tộc ở trường THCS tỉnh Sơn La. - Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm xác nhận tính khả thi, sự phù hợp và hiệu quả của các biện pháp, phương pháp được đề xuất. Rút ra những kết luận và khuyến nghị cần thiết. 4. Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. - Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THCS. - Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề hình thành và phát triển một số khái niệm ngôn ngữ hoá học cơ bản trong chương trình Hoá học lớp 8. Một số khái niệm hoá học cơ bản, thuật ngữ hoá học cơ bản, danh pháp hoá học và biểu tượng hoá học trong các chương 1,2,3 SGK Hoá học lớp 8. 5. Giả thuyết khoa học. Nếu đề xuất và có thử nghiệm một cách nghiêm túc các biện pháp dạy học phù hợp với đặc điểm học sinh người dân tộc, sẽ giúp các em nắm vững ngôn ngữ hóa học cơ bản, từ đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn hoá học ở các trường THCS tỉnh Sơn la. 6. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu lí luận + Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết. + Phương pháp phân loại, hệ thống hoá lí thuyết. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, trò chuyện, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm ... - Phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục. 7. Những đóng góp của đề tài. 5 Nghiên cứu, đề xuất cách sử dụng phối hợp các biện pháp dạy học theo hướng tích cực nhằm hình thành ngôn ngữ hóa học cho học sinh trường THCS ở tỉnh Sơn La nói chung, cho học sinh dân tộc nói riêng. 8. Cấu trúc của luận văn Mở đầu Nội dung Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề hình thành và phát triển ngôn ngữ hóa học ở THCS. Chương 2: Một số biện pháp hình thành và phát triển ngôn ngữ hóa học cơ bản trong chương trình hóa học lớp 8 THCS. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Kết luận chung và kiến nghị. 6 NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ HOÁ HỌC Ở THCS 1.1. Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức [37] 1.1.1. Kinh nghiệm xã hội được tồn tại và truyền đạt lại cho thế hệ sau được là nhờ ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt dùng làm phương tiện giao tiếp và công cụ tư duy. Ngôn ngữ là phương tiện hình thành, giữ gìn và chuyển giao thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác, là phương tiện giao tiếp giữa mọi người, là hiện tượng xã hội đặc biệt. Ngôn ngữ là hình thức vật chất của các quy luật và hình thức tư duy, là hệ thống thông tin kí hiệu đặc biệt đảm bảo chức năng hình thành, giữ gìn và chuyển giao thông tin. Ngôn ngữ là một hiện tượng bao hàm nhiều mặt, nhiều nhân tố không thể tách rời nhau, mà trước khi xuất hiện học thuyết về chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhà ngôn ngữ học F. De Sausure đã quan niệm “là bộ phận xã hội của hoạt động ngôn ngữ, tồn tại bên ngoài cá nhân”, nó là một sản phẩm xã hội lưu trữ trong óc mỗi người. Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy. Tuy ngôn ngữ không phải là tư duy nhưng tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Không có ngôn ngữ thì không có tư duy. Những tư tưởng và những sự trừu tượng hóa không thể tồn tại độc lập được và chúng nhất thiết phải được vật chất hóa ra dưới dạng các âm thanh (ngôn ngữ nói) hay các ký hiệu chữ viết (ngôn ngữ viết). Mác cho rằng ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, tư tưởng chỉ có thể thể hiện một cách hiện thực trong ngôn ngữ. Tư duy trừu tượng gián tiếp, khái quát, không thể tồn tại bên ngoài 7 ngôn ngữ, nó phải dùng ngôn ngữ làm phương tiện cho mình. Nếu không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận. Ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy và nhờ đó làm khách quan hóa chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy. Ngôn ngữ được chia thành ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nhân tạo. Ngôn ngữ tự nhiên - hệ thống thông tin ký hiệu âm thanh đặc biệt và chữ viết - được hình thành trong lịch sử xã hội, biểu thị các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Ngôn ngữ nhân tạo là hệ thống ký hiệu hỗ trợ được tạo ra bằng cách riêng trên cơ sở của ngôn ngữ tự nhiên nhằm chuyển giao chính xác và kinh tế các thông tin khoa học và thông tin khác. Ngôn ngữ nhân tạo được sử dụng rộng rãi trong khoa học và kỹ thuật hiện đại như toán học, hóa học, vật lý lý thuyết, kỹ thuật tính toán, máy tính điện tử. Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người, là thành tố quan trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc tâm lý người đặc biệt là quá trình nhận thức. 1.1.2. Ngôn ngữ làm cho các quá trình của nhận thức cảm tính ở người mang một chất lượng mới [13]. Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Nó được thể hiện dưới ba hình thức là cảm giác, tri giác, biểu tượng. Cảm giác là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốc mọi sự hiểu biết của con người. Cảm giác là sự phản ánh từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vật vào các giác quan con người, là kết quả của sự tác động vật chất của sự vật vào các giác quan con người, là sự chuyển hóa năng lượng kích thích bên ngoài thành yếu tố của ý thức. Cảm giác, theo Lênin, là 8 hình ảnh của thế giới khách quan. Ngôn ngữ ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng nhạy cảm của cảm giác, làm cho cảm giác được thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn. Tri giác là sự tổng hợp nhiều cảm giác, nó đem lại hình ảnh hoàn chỉnh hơn về sự vật. Tri giác nảy sinh trên cơ sở các cảm giác, là sự kết hợp các cảm giác. So với cảm giác, tri giác là hình thức cao hơn của nhận thức cảm tính, nó đem lại cho chúng ta tri thức về sự vật đầy đủ hơn, phong phú hơn. Ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn và làm cho những cái tri giác được trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn. Ví dụ việc tách đối tượng ra khỏi bối cảnh (quy luật về tính lựa chọn của tri giác), việc xây dựng một hình ảnh trọn vẹn về đối tượng tùy theo nhiệm vụ của tri giác (quy luật về tính trọn vẹn của tri giác) nếu được kèm theo bằng lời nói thầm hay nói thành tiếng thì diễn biến sẽ nhanh hơn và kết quả sẽ rõ hơn. Vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình quan sát càng cần thiết hơn, vì quan sát là tri giác tích cực, có chủ định và có mục đích (tức là có ý thức). Tính có ý thức, có mục đích, có chủ định đó được biểu đạt và điều khiển, điều chỉnh chính nhờ ngôn ngữ. Không có ngôn ngữ thì tri giác của con người vẫn là tri giác của động vật. Tính có ý nghĩa trong tri giác của con người là một chất lượng mới làm cho tri giác người khác xa tri giác của con vật. Chất lượng mới này chỉ được hình thành và được biểu đạt thông qua ngôn ngữ. Biểu tượng là hình ảnh của sự vật được giữ lại trong trí nhớ. Sự tiếp xúc trực tiếp nhiều lần với sự vật sẽ để lại trong chúng ta những ấn tượng, những hình ảnh về sự vật đó. Những ấn tượng, hình ảnh này đậm nét và sâu sắc đến mức có thể hiện lên trong ký ức của chúng ta ngay cả khi sự vật không còn ở trước mắt. Trong biểu tượng chỉ lưu giữ lại những nét chủ yếu, nổi bật nhất của sự vật do cảm giác, tri giác đem lại trước đó. Biểu tượng 9 thường được hiện ra khi có những tác nhân tác động, kích thích đến trí nhớ con người. Hình thức cao nhất của biểu tượng là sự tưởng tượng, sự tưởng tượng đã mang tính chủ động sáng tạo. Tưởng tượng có vai trò rất lớn trong hoạt động sáng tạo khoa học. Ngôn ngữ cũng giữ một vai trò to lớn trong tưởng tượng. Nó là những phương tiện để hình thành biểu đạt và duy trì các hình ảnh của tưởng tượng. Ngôn ngữ giúp ta làm chính xác hóa các hình ảnh của tưởng tượng đang nảy sinh, tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gắn chúng lại với nhau, cố định chúng lại bằng từ và lưu giữ chúng trong trí nhớ. Ngôn ngữ làm cho tưởng tượng trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tích cực, có kết quả và chất lượng cao. Ngôn ngữ cũng có ảnh hưởng quan trọng đối với trí nhớ của con người. Nó tham gia tích cực vào các quá trình trí nhớ, gắn chặt với các quá trình đó. Việc ghi nhớ sẽ dễ dàng và có kết quả tốt hơn nếu ta nói lên thành lời điều cần ghi nhớ. Không có ngôn ngữ thì không thể thực hiện sự ghi nhớ có chủ định, sự ghi nhớ có ý nghĩa và kể cả sự ghi nhớ máy móc (học thuộc lòng)… ngôn ngữ là một phương tiện để ghi nhớ, là một hình thức để lưu giữ những kết quả cần nhớ. Nhờ ngôn ngữ con người có thể chuyển hẳn những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc con người. Chính bằng cách này con người lưu giữ và truyền đạt được kinh nghiệm của loài người cho thế hệ sau. 1.1.3. Vai trò của ngôn ngữ là không thể thiếu trong nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó xảy ra trên cơ sở nhận thức cảm tính. Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người sẽ rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà hiểu được những cái như: tốc độ ánh sáng, giá trị hàng hóa, quan hệ giai cấp,… Muốn hiểu 10 được những cái đó phải nhờ đến sức mạnh của tư duy trừu tượng. Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan. Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, được biểu đạt thành ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy. Tư duy có tính năng động sáng tạo, nó có thể phản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong của sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn. Muốn tư duy, con người phải sử dụng các PP như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa,… Nhận thức lý tính, hay tư duy trừu tượng, được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy lý. Khái niệm là một hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những mối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của một tập hợp các sự vật, các hiện tượng nào đó. Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong tư duy khoa học, là những vật liệu tạo thành ý thức, tư tưởng. Khái niệm là những phương tiện để con người tích lũy thông tin, suy nghĩ và trao đổi tri thức với nhau. Khái niệm được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ các từ. Ngôn ngữ như là một phương tiện thể hiện khái niệm làm cho sự học của con người thoát khỏi sự ràng buộc với những kinh nghiệm cảm tính, với những đồ vật riêng lẻ được tri giác trực tiếp và cho phép đưa vào sự học những mối quan hệ, liên hệ chung, trừu tượng của sự vật, hiện tượng. Nhờ ngôn ngữ mà các mối quan hệ đó của sự vật, hiện tượng được cố định lại và tồn tại một cách khách quan, do đó được truyền lại cho người khác và cho các thế hệ tiếp theo. Nắm được ngôn ngữ, con người nắm được một phương tiện học tập vô cùng hiệu nghiệm, nhờ đó, con người nắm được những kinh nghiệm quý báu trong nền văn hóa loài người, làm cơ sở quan trọng cho việc biến đổi hành vi và hoạt động của mình phù hợp với việc giải quyết các nhiệm vụ của cuộc sống trước mắt và lâu dài. Chính có ngôn ngữ như phương tiện học tập độc đáo, con người học được tư duy, có được ý thức và những 11 phẩm chất tâm lý cao cấp và có được những hoạt động thực tế và lý luận. Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng vận dụng các khái niệm để khẳng định hoặc phủ định một thuộc tính, một mối liên hệ nào đó của hiện thực khách quan. Phán đoán là hình thức liên hệ giữa những khái niệm, phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong ý thức của con người. Tuy nhiên, phán đoán không phải là tổng số giản đơn của những khái niệm tạo thành mà là quá trình biện chứng trong đó các khái niệm có sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Phán đoán được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ là các mệnh đề theo những quy tắc văn phạm nhất định. Suy lý là một hình thức của tư duy trừu tượng trong đó xuất phát từ một hay nhiều phán đoán làm tiền đề để rút ra phán đoán mới làm kết luận. Suy lý là sự liên hệ giữa các phán đoán, là công cụ hùng mạnh của tư duy trừu tượng thể hiện quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã biết đến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp. Có thể nói, toàn bộ các khoa học được xây dựng trên hệ thống suy lý và nhờ suy lý mà con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiện thực khách quan. Ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với tư duy con người. Ngôn ngữ và tư duy không có mối quan hệ song song. Ngôn ngữ không phải là tư duy và ngược lại tư duy cũng không phải là ngôn ngữ. Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ với tư duy là ở chỗ tư duy dùng ngôn ngữ làm phương tiện, công cụ của tư duy, chính nhờ điều này tư duy của con người khác về chất so với tư duy con vật: con người có tư duy trừu tượng. Không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy trừu tượng và khái quát được. Mối quan hệ không tách rời của tư duy và ngôn ngữ được thể hiện trong ý nghĩa của các từ. Mỗi từ điều có quan hệ với một lớp sự vật, hiện tượng nhất định và gọi tên sự vật, hiện tượng đó. Khi gọi tên các sự vật, từ tựa như thay thế chúng và nhờ đó tạo ra những điều kiện vật chất cho những hành động hay thao tác đặc biệt đối với các vật ấy kể 12 cả khi vật ấy vắng mặt (tức là thao tác với các vật thay thế, với ký hiệu từ ngữ hay là với ngôn ngữ). Tuy nhiên, từ không chỉ gọi tên sự vật, nhờ vậy, tư duy ngôn ngữ trừu tượng hóa được những thuộc tính, những bản chất của sự vật và khái quát hóa được những thuộc tính bản chất của nó. Không có ngôn ngữ thì không thể có tư duy khái quát - logic được. Lời nói bên trong là công cụ quan trọng của tư duy, nhất là khi phải giải quyết các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Nếu nhiệm vụ quá phức tạp thì ngôn ngữ bên trong chuyển thành lời nói bên ngoài. Người ta nói to lên thì thấy tư duy rõ ràng và thuận lợi hơn. Nhưng điều đó chứng tỏ không có ngôn ngữ, đặc biệt không có lời nói bên trong thì ý nghĩ, tư tưởng không hình thành được, tức không thể tư duy trừu tượng được. 1.2. Khái niệm ngôn ngữ hóa học. 1.2.1. Ngôn ngữ hóa học là một phương tiện nhận thức trong khoa học và dạy học. Mỗi khoa học đều diễn đạt những kết quả nhận thức bằng ngôn ngữ thuận tiện cho việc mô tả những kiến thức, phản ánh cái cơ bản và đặc trưng của khoa học đó. Ngoài ngôn ngữ thông thường là những từ và câu, trong thành phần của ngôn ngữ khoa học hóa học còn những phần rất đặc trưng: các thuật ngữ hóa học, danh pháp và biểu tượng, thường gọi là “ngôn ngữ hóa học”. Ngôn ngữ hoá học là sự tổng hoà của của các thuật ngữ, kí hiệu và danh pháp, qui tắc thiết lập chung, sự giải thích thuyết minh và sử dụng chúng trong việc mô tả, nhận thức các kiến thức hoá học. Thuật ngữ hóa học là thành phần cơ sở của ngôn ngữ hóa học [38] Thuật ngữ: từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định [Nguyễn Như Ý (chủ biên), (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, trang 1599]. 13 Thuật ngữ: Từ, ngữ biểu đạt các khái niệm chuyên môn khoa học, kỹ thuật [Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Đà nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà nội – Đà nẵng. 2002. Trang 962]. Như vậy “Thuật ngữ hóa học dùng biểu thị một cách ngắn gọn các khái niệm hóa học bằng ngôn ngữ riêng biệt. Thuật ngữ hóa học là hình thức ngôn ngữ biểu thị các khái niệm hóa học. Dạng biểu thị cụ thể của thuật ngữ hóa học là những từ và cụm từ”. Là hình thức của tư duy, khái niệm liên hệ mật thiết với từ,… Từ là cơ sở vật chất của khái niệm, không có từ không thể hình thành và sử dụng khái niệm,… Trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật khác nhau người ta phải sử dụng các hệ thống thuật ngữ riêng biệt để biểu thị chính xác các khái niệm”. Hệ thống các thuật ngữ hóa học biểu thị chính xác các khái niệm hóa học. Danh pháp hóa học: là những qui tắc gọi tên những nguyên tố, chất, những hạt vi mô,… trong khoa học hóa học. Biểu tượng hóa học: là những hình ảnh tượng trưng trong khoa học hóa học (ký hiệu hóa học, công thức, phương trình, hình vẽ,…) là hệ thống những quy ước khoa học nhằm khái quát hóa các đối tượng, hiện tượng, quy luật hóa học, vạch ra một cách tổng quan những dấu hiệu cơ bản của các hiện tượng, quá trình hóa học, chỉ ra mối liên hệ giữa mặt định tính và định lượng của chúng. Nhờ các biểu tượng mà ngôn ngữ hóa học có thể diễn đạt những nội dung tri thức phong phú một cách ngắn gọn, chính xác, thể hiện mức độ khái quát cao trong việc phản ánh một cách tổng quát những khái niệm cơ bản, những kiến thức đặc trưng của hóa học. 1.2.2. Ngôn ngữ hóa học là một phương tiện tích cực để nhận thức hóa học. Những kết quả được mô tả bằng ngôn ngữ hóa học đều thể hiện những 14 nội dung quan trọng, cơ bản của khoa học hóa học và mối quan hệ giữa chúng. Thay vì phải dùng nhiều ngôn từ miêu tả các sự vật, hiện tượng, quá trình hóa học, diễn biến các phản ứng hóa học,… ngôn ngữ hóa học biểu thị chúng một cách ngắn gọn dưới dạng những công thức, ký hiệu, phương trình, sơ đồ, phản ánh nhiều mối quan hệ khác nhau giữa các đối tượng của hóa học bằng những ký hiệu. Trong ngôn ngữ hóa học, đặc biệt là các biểu tượng có thể phản ánh cùng một lúc kết quả của tri thức và con đường để nhận thức các tri thức đó. Ngôn ngữ hóa học còn sử dụng các ký hiệu của nó với ngôn ngữ của khoa học khác: ký hiệu toán học, logic học, các đại lượng vật lý, các thuật ngữ, khái niệm khoa học nói chung… tạo điều kiện thuận lợi cho sự mô tả các đối tượng hóa học và các quy luật giữa chúng. 1.2.3. Các chức năng và nhiệm vụ nhận thức của ngôn ngữ hoá học. 1.2.3.1. Chức năng nhận thức của ngôn ngữ hoá học. Những đặc trưng của ngôn ngữ hoá học cùng với sự định hướng có tính chất phương pháp luận của nó cho phép ngôn ngữ hoá học thực hiện được nhiều chức năng khác nhau trong nhận thức hóa học: Cung cấp những thông tin về các chất và hiện tượng hóa học bằng các từ ngữ và những dấu hiệu quy ước biểu thị các kết quả của nhận thức hóa học, hình thành các khái niệm cơ bản về hóa học, cụ thể hóa các đại lượng trừu tượng, không có trong ngôn ngữ thông thường (các loại liên kết hóa học, hóa trị, số oxi hóa…). Khái quát hóa, hệ thống hóa các tri thức, dự đoán các chất mới và mô hình hóa con đường tìm ra chúng. 15 Đơn giản hóa các thao tác của hoạt động trí óc, giảm bớt khối lượng ghi nhớ, tổ chức một cách hợp lý các thao tác tư duy, kích thích việc tìm tòi sáng tạo. Cho phép các nhà hóa học có được trình độ giao tiếp ở trình độ quốc tế do sự quốc tế hóa của ngôn ngữ hoá học. 1.2.3.2. Các nhiệm vụ của ngôn ngữ hoá học. - Thay thế đối tượng hoá học và thể hiện, truyền đạt thông tin về chúng. - Đánh dấu đối tượng một cách ngắn gọn và có một nghĩa. - Biểu thị định lượng và định tính kết quả nhận thức. - Hình thành khái niệm, khái quát, hệ thống hoá kiến thức. - Giảm nhẹ trí nhớ, đơn giản hoá hoạt động trí tuệ của học sinh. - Thiết lập các mối quan hệ liên môn, phát triển tư duy cho học sinh. - Giúp cho việc tối ưu hoá quá trình nắm vững kiến thức, tích cực hoá hoạt động tư duy của học sinh. - Ngôn ngữ hoá học là phương tiện quan trọng của việc dạy học hoá học góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học. 1.2.4. Đặc điểm của ngôn ngữ hoá học. - Ngắn gọn, có một nghĩa, chính xác, có khả năng sáng tạo lớn. - Là phương tiện mô tả sự nhận thức và kết quả nhận thức hoá học. - Cho phép mô tả các mặt khác nhau và quan hệ của các đối tượng nghiên cứu của hoá học một cách ngắn gọn. - Cho phép phản ánh kết quả sự nhận thức và con đường nhận thức hoá học. - Ngôn ngữ hoá học còn đồng hoá các dấu hiệu của khoa học khác: kí hiệu của toán học, vật lí ... 1.2.5. Vai trò của ngôn ngữ hoá học trong trong chương trình hoá học phổ thông[23]. 16 Ngôn ngữ hoá học cần phản ánh ba mặt sau : Ngữ nghĩa của từ : Thiết lập mối quan hệ giữa kí hiệu và đối tượng hoá học mà chúng biểu thị. Về mặt ngữ pháp : Các kiến thức về qui tắc, cách viết, sự phát âm các kí hiệu, công thức, phương trình, thuật ngữ và tên gọi hoá học. Về mặt thực tiễn : Trang bị phương pháp, cách thức trình bày kiến thức hoá học bằng ngôn ngữ hoá học và đảm bảo sự giao tiếp bằng ngôn ngữ ở các dạng giao dịch (đọc, viết, nghe, nói ...) 1.2.5.1. Ngôn ngữ hoá học làm tối ưu hóa quá trình lĩnh hội môn hóa học, phát triển tư duy. Vai trò của ngôn ngữ hoá học trong nhiệm vụ giáo dục tư tưởng đạo đức học sinh. Ngôn ngữ hoá học được sử dụng trong toàn bộ các giai đoạn của quá trình dạy học môn hóa học với các chức năng đa dạng. Với sự hỗ trợ của ngôn ngữ hoá học, nội dung hóa học nhà trường được truyền đạt và lĩnh hội, hình thành những khái niệm hóa học, những phương pháp nhận thức đặc trưng của bộ môn, hình thành mối liên hệ nội môn và liên môn, phát triển tư duy của học sinh và hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh. Ngôn ngữ hoá học tham gia vào tri thức kinh nghiệm, vào sự khái quát hóa và hệ thống hóa các kết quả của khoa học hóa học, có vai trò to lớn trong phương pháp nhận thức hóa học. Để khái quát các tri thức lý thuyết, các biểu tượng, các ký hiệu như: sơ đồ liên kết của phân tử các chất, hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học, những ghi chép về tính chất chung, những công thức chung của các hợp chất, các ion, các phương trình phản ứng hóa học,… được sử dụng rộng rãi. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và vận dụng chúng trong những tình huống khác nhau là tiêu chuẩn không chỉ của việc nắm vững kiến thức 17 hóa học mà còn là tiêu chuẩn của sự phát triển tư duy học sinh. Tất cả các kỹ năng hoạt động với ngôn ngữ hoá học đều liên quan đến hoạt động trí tuệ. Sự so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, mã hóa bằng các ký hiệu, mô hình hóa,… đều thuộc về các trình độ nắm vững ngôn ngữ hoá học. Các kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ hoá học cho phép thực hiện các hoạt động nhận thức một cách có hiệu quả: tìm hiểu tính chất các chất, các khuynh hướng của phản ứng hóa học, giải thích bản chất các hiện tượng, quá trình hóa học, giải các bài toán hóa học và mô hình hóa các kết quả thu được. Cùng với các hoạt động tự lập trong học tập, trên cơ sở nắm vững ngôn ngữ hoá học sinh còn làm quen với hoạt động sáng tạo trong nhận thức hóa học. Ngôn ngữ hoá học chứa đựng trong nó những khả năng lớn trong việc thực hiện chức năng giáo dục trong dạy học hoá học. Ngôn ngữ hoá học có thể sử dụng như một phương tiện hữu hiệu để hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh. Để thực hiện được nhiệm vụ này, quá trình dạy học hóa học phải đảm bảo sự thống nhất giữa ý nghĩa về mặt nội dung và hình thức của hệ thống ký hiệu của ngôn ngữ hoá học. Nếu không có sự thống nhất này thì những nghiên cứu TN của thế giới vật chất và sự phát triển của nó sẽ mâu thuẫn với các nội dung trừu tượng của các khái niệm, dẫn đến sai lệch về thế giới quan trong nhận thức của HS. Ngôn ngữ hoá học được hình thành một cách đúng đắn sẽ là phương tiện có hiệu quả, tiện lợi để khẳng định những thuộc tính của thế giới vật chất: tính thống nhất, tính đa dạng, các quy luật vận động, sự phát triển biện chứng,… Ngôn ngữ hoá học giúp học sinh nhận thức được ý nghĩa khách quan và khả năng phán đoán của lý thuyết trong việc nhận thức thế giới khách quan. Việc vận dụng ngôn ngữ hoá học giáo dục cho học sinh nhiều phẩm chất con người như: hình thành kỹ năng học tập, hình thành hứng thú với môn học, 18 giáo dục cho học sinh cách diễn đạt suy nghĩ của mình một cách chính xác, từ đó, giúp học sinh hình thành nhiều tính cách tốt như có thói quen tự lực trong học tập và lao động, tính chính xác, yêu khoa học,… Những điều trình bày trên đây cho phép kết luận: Ngôn ngữ hoá học là một trong những phương tiện quan trọng nhất trong dạy học hoá học, tham gia tích cực vào việc trang bị kiến thức, giáo dục tư tưởng và phát triển những năng lực nhận thức cho học sinh. 1.2.5.2. Ngôn ngữ hoá học làm tối ưu hóa quá trình lĩnh hội môn hóa học, phát triển tư duy. Vai trò của ngôn ngữ hoá học trong nhiệm vụ giáo dục tư tưởng đạo đức học sinh. Ngôn ngữ hoá học được sử dụng trong toàn bộ các giai đoạn của quá trình dạy học môn hóa học với các chức năng đa dạng. Với sự hỗ trợ của ngôn ngữ hoá học, nội dung hóa học nhà trường được truyền đạt và lĩnh hội, hình thành những khái niệm hóa học, những phương pháp nhận thức đặc trưng của bộ môn, hình thành mối liên hệ nội môn và liên môn, phát triển tư duy của học sinh và hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh. Ngôn ngữ hoá học tham gia vào tri thức kinh nghiệm, vào sự khái quát hóa và hệ thống hóa các kết quả của khoa học hóa học, có vai trò to lớn trong phương pháp nhận thức hóa học. Để khái quát các tri thức lý thuyết, các biểu tượng, các ký hiệu như: sơ đồ liên kết của phân tử các chất, hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học, những ghi chép về tính chất chung, những công thức chung của các hợp chất, các ion, các phương trình phản ứng hóa học,… được sử dụng rộng rãi. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và vận dụng chúng trong những tình huống khác nhau là tiêu chuẩn không chỉ của việc nắm vững kiến thức hóa học mà còn là tiêu chuẩn của sự phát triển tư duy học sinh. Tất cả các kỹ 19 năng hoạt động với ngôn ngữ hoá học đều liên quan đến hoạt động trí tuệ. Sự so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, mã hóa bằng các ký hiệu, mô hình hóa,… đều thuộc về các trình độ nắm vững ngôn ngữ hoá học. Các kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ hoá học cho phép thực hiện các hoạt động nhận thức một cách có hiệu quả: tìm hiểu tính chất các chất, các khuynh hướng của phản ứng hóa học, giải thích bản chất các hiện tượng, quá trình hóa học, giải các bài toán hóa học và mô hình hóa các kết quả thu được. Cùng với các hoạt động tự lập trong học tập, trên cơ sở nắm vững ngôn ngữ hoá học học sinh còn làm quen với hoạt động sáng tạo trong nhận thức hóa học. Ngôn ngữ hoá học chứa đựng trong nó những khả năng lớn trong việc thực hiện chức năng giáo dục trong dạy học hoá học. Ngôn ngữ hoá học có thể sử dụng như một phương tiện hữu hiệu để hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh. Để thực hiện được nhiệm vụ này, quá trình dạy học hóa học phải đảm bảo sự thống nhất giữa ý nghĩa về mặt nội dung và hình thức của hệ thống ký hiệu của ngôn ngữ hoá học. Nếu không có sự thống nhất này thì những nghiên cứu TN của thế giới vật chất và sự phát triển của nó sẽ mâu thuẫn với các nội dung trừu tượng của các khái niệm, dẫn đến sai lệch về thế giới quan trong nhận thức của HS. Ngôn ngữ hoá học được hình thành một cách đúng đắn sẽ là phương tiện có hiệu quả, tiện lợi để khẳng định những thuộc tính của thế giới vật chất: tính thống nhất, tính đa dạng, các quy luật vận động, sự phát triển biện chứng,… Ngôn ngữ hoá học giúp học sinh nhận thức được ý nghĩa khách quan và khả năng phán đoán của lý thuyết trong việc nhận thức thế giới khách quan. Việc vận dụng ngôn ngữ hoá học giáo dục cho học sinh nhiều phẩm chất con người như: hình thành kỹ năng học tập, hình thành hứng thú với môn học, giáo dục cho học sinh cách diễn đạt suy nghĩ của mình một cách chính xác, từ 20
- Xem thêm -