Tài liệu Hình phạt tử hình trong luật hình sự việt nam luận văn ths. luật

  • Số trang: 126 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 419 |
  • Lượt tải: 5
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TRẦN HỮU NAM HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – NĂM 2003 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TRẦN HỮU NAM HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật hình sự, luật tố tụng hình sự Mã số : 5.05.14 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Hồng Dương HÀ NỘI – NĂM 2003 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Trần Hữu Nam BẢNG CHỮ VIẾT TẮT BLHS Bộ luật hình sự CHND Cộng hòa nhân dân CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân GS. Giáo sư Nxb Nhà xuất bản PGS. Phó Giáo sư TAND Tòa án nhân dân TANDTC Tòa án nhân dân tối cao Tp. Thành phố tr. Trang TS. Tiến sĩ XHCN Xã hội chủ nghĩa VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao 2 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 4 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH 9 PHẠT TỬ HÌNH 1.1. Khái niệm hình phạt tử hình và ý nghĩa của việc quy định 9 hình phạt tử hình trong hệ thống hình phạt 1.2. Lịch sử hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình 17 sự quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 34 TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1 Những quy định về hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự 34 năm 1999 2.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình 64 Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY 92 ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện những quy định về hình phạt 92 tử hình 3.2. Nguyên tắc hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự 94 về hình phạt tử hình 3. 3. Giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự 97 về hình phạt tử hình KẾT LUẬN 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 3 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực và được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Nhiều chủ trương, chính sách mới về kinh tế được ban hành, đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Mặt khác, với việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ, việc trở thành thành viên của ASEAN và nhiều tổ chức quốc tế khác, đã tạo ra môi trường thuận lợi, thúc đẩy sản xuất, hoạt động xuất, nhập khẩu phát triển. Bên cạnh những mặt tích cực của cơ chế thị trường, những mặt trái của nó cũng đã phát sinh, phát triển, trong đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, đa dạng với các thủ đoạn ngày càng tinh vi. Tình hình tội phạm không chỉ phá hoại nền kinh tế, cản trở việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà còn làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước. Tình hình tội phạm nói chung, tội phạm có tổ chức nói riêng trong những năm gần đây đã tới mức báo động, đang thực sự trở thành mối lo ngại sâu sắc của Đảng, Nhà nước ta. Các vụ án giết người, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cướp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các tội phạm về ma túy xảy ra nhiều. Đáng chú ý, số người phạm các tội với mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình ngày càng nhiều, đặc biệt là tội giết người và các tội phạm về ma túy. Tòa án các cấp đã tuyên phạt tử hình hàng trăm trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Việc áp dụng hình phạt tử hình đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đã có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm, phục vụ các yêu cầu chính trị, đề cao sự cần 4 thiết phải áp dụng hình phạt tử hình trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay. Trong hệ thống hình phạt ở nước ta, hình phạt tử hình là hình phạt chính nghiêm khắc nhất. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy, hình phạt tử hình đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự, kỷ cương pháp luật và xã hội, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã hội lành mạnh. Đồng thời, hình phạt tử hình cũng đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đòi hỏi khoa học luật hình sự phải nghiên cứu, giải quyết để làm sáng tỏ về mặt lý luận như: khái niệm hình phạt tử hình, phạm vi, đối tượng áp dụng hình phạt tử hình, mối liên hệ giữa hình phạt tử hình với các hình phạt khác, với tâm lý học tội phạm, lịch sử hình thành và phát triển của hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam... mà xung quanh những vấn đề này, còn có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam” nhằm giải quyết các vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn về hình phạt tử hình, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tử hình, hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định đó là vấn đề mang tính cấp bách, không những về mặt lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu Hình phạt tử hình là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp, đã được nhiều nhà luật học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu. Tác giả Giang Sơn - Văn phòng Chủ tịch nước đã có công trình “Một số vấn đề về thi hành án tử hình” (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9 năm 1996); TANDTC có công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ “Áp dụng và thi hành hình phạt tử hình Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (TANDTC, Hà Nội, 2002); TS. Nguyễn Sơn có luận án tiến sĩ đề tài “Các hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam” (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2002) ... 5 Tuy nhiên, các tác giả nói trên chỉ đề cập đến một số khía cạnh về hình phạt tử hình. Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống, toàn diện về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam. 3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Mục đích của luận văn Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những vấn đề về hình phạt tử hình, đánh giá đúng thực trạng những quy định về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự hiện hành, thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình, xác định đúng nguyên nhân của những thiếu sót, bất cập trong thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình và trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tử hình. Nhiệm vụ Để đạt được mục đích trên, tác giả của luận văn đã đặt ra cho mình các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: - Làm sáng tỏ khái niệm hình phạt tử hình, vị trí của hình phạt tử hình trong hệ thống hình phạt. - Phân tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về hình phạt tử hình ở Việt Nam. - Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật về hình phạt tử hình của một số nước trên thế giới. - Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hình sự hiện hành và thực trạng áp dụng hình phạt tử hình ở nước ta. 6 - Đề xuất phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về hình phạt tử hình. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về hình phạt tử hình, các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình. Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu đề tài dưới góc độ luật hình sự. Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình từ năm 1993 đến 2002. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân, về chính sách hình sự nói chung, về hình phạt tử hình nói riêng. Luận văn được thực hiện trên cơ sở quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án có tuyên hình phạt tử hình, các báo cáo tổng kết, số liệu của TANDTC về hình phạt tử hình. Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch sử, lôgíc, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật... để hoàn thành các nhiệm vụ mà tác giả luận văn đã đề ra. 5. Những cái mới của luận văn Trong luận văn này, lần đầu tiên: 7 - Làm sáng tỏ được những vấn đề lý luận về hình phạt tử hình và đánh giá đúng vị trí của hình phạt này trong hệ thống hình phạt. - Phân tích, làm rõ thực trạng những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về hình phạt tử hình. - Đánh giá đúng thực trạng áp dụng hình phạt tử hình của TAND các cấp trong thời gian từ 1993 đến 2002. - Kiến nghị phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về hình phạt tử hình. 5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, việc áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nói riêng. Thông qua kết quả nghiên cứu và các đề xuất, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của kho tàng lý luận pháp lý hình sự về hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam. Với việc đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về hình phạt tử hình, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự về lĩnh vực này. Vì vậy, luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự, tội phạm học nói riêng, cũng như trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên ngành về đấu tranh phòng, chống tội phạm thuộc các ngành Tòa án, Viện kiểm sát, Công an. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: 8 - Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hình phạt tử hình. - Chương 2: Những quy định về hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng. - Chương 3: Phương hướng hoàn thiện những quy định về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam. 9 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 1.1. KHÁI NIỆM HÌNH PHẠT TỬ HÌNH VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG HỆ THỐNG HÌNH PHẠT 1.1.1. Khái niệm hình phạt tử hình Trong tất cả các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất, được áp dụng phổ biến và có lịch sử lâu đời nhất. Hình phạt luôn được coi là công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức và công dân như C. Mác đã từng nói: “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” [57, tr. 20]. Trong khoa học luật hình sự và thực tiễn pháp lý có những quan điểm khác nhau về khái niệm hình phạt, trong đó nổi lên hai quan điểm chủ yếu: Quan điểm thứ nhất cho rằng, hình phạt là công cụ để trả thù người phạm tội. Đây là quan điểm phổ biến ở những nước phương Tây thế kỷ thứ 18, 19. Hình phạt theo quan điểm này rất hà khắc, mang tính nhục hình, đầy đọa thể xác, chà đạp lên phẩm giá của con người. Quan điểm thứ hai cho rằng, hình phạt là công cụ đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây là quan điểm của những nhà luật học tiến bộ trên thế giới và được TS. Uông Chu Lưu, cố TS. Nguyễn Đức Tuấn ủng hộ [57, tr. 21]. Theo quan điểm này, ngoài mục đích trừng trị người phạm tội, hình phạt còn là công cụ hữu hiệu cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội. Trong BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, định nghĩa pháp lý của khái niệm hình phạt được quy định tại Điều 26: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. 10 Hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định”. Từ khái niệm trên, có thể rút ra những đặc điểm của hình phạt như sau: Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, có nhiều loại biện pháp cưỡng chế khác nhau như biện pháp cưỡng chế hành chính, biện pháp cưỡng chế dân sự, biện pháp cưỡng chế kinh tế, biện pháp cưỡng chế lao động, biện pháp cưỡng chế hình sự (hình phạt, các biện pháp tư pháp, các biện pháp pháp lý hình sự khác)... Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế này, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị kết án bị tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền tự do, quyền về tài sản, về chính trị, tinh thần, thậm chí bị tước đi cả quyền sống. Ngoài ra, hình phạt còn để lại hậu quả pháp lý là án tích cho người bị kết án. Nói cách khác, trừng trị là nội dung, bản chất và là thuộc tính của hình phạt. Khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, Nhà nước thể hiện thái độ phản ứng chính thức, lên án hành vi phạm tội và người phạm tội. Tính nghiêm khắc của hình phạt được các Nhà nước quy định không giống nhau, mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý và truyền thống của mỗi nước. Thứ hai, hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án áp dụng. Trong các BLHS năm 1985 và 1999, hình phạt được quy định cả trong Phần chung và Phần các tội phạm. Phần chung của BLHS quy định những vấn đề có tính nguyên tắc như: khái niệm hình phạt (Điều 26), mục đích của hình phạt (Điều 27), các hình phạt (Điều 28), cảnh cáo (Điều 29), phạt tiền (Điều 30), cải tạo không giam giữ (Điều 31), trục xuất (Điều 32), tù có thời hạn (Điều 33), tù chung thân (Điều 34), tử hình (Điều 35)... Phần các tội 11 phạm của BLHS quy định các loại hình phạt và mức hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể. Trong mọi trường hợp không được áp dụng hình phạt đối với người thực hiện hành vi mà BLHS không quy định là tội phạm và cũng không được áp dụng loại, mức hình phạt nào đó, nếu hình phạt này không được quy định trong BLHS. Ngoài ra, chỉ có Tòa án là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền tuyên bố một người là có tội và áp dụng hình phạt đối với người đó. Các cơ quan tiến hành tố tụng khác như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có quyền áp dụng hình phạt mà chỉ có quyền đề xuất với Tòa án. Thứ ba, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội. Một trong những nguyên tắc được thừa nhận của luật hình sự Việt Nam hiện nay là trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với cá nhân người phạm tội, trách nhiệm hình sự không được đặt ra đối với pháp nhân phạm tội. Dựa trên nguyên tắc này, trách nhiệm hình sự không thể được áp dụng đối với các thành viên trong gia đình cũng như đối với những người thân khác của người phạm tội. Cũng theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam không thừa nhận việc chấp hành án thay cho người phạm tội, cho dù sự chấp hành án thay này là hoàn toàn tự nguyện. Hình phạt tịch thu tài sản cũng chỉ được áp dụng đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của người phạm tội mà không được tịch thu tài sản của các thành viên khác trong gia đình hay của những người thân khác của người phạm tội. Ngoài ba đặc điểm trên, hình phạt còn có tính giai cấp. Tính giai cấp của hình phạt được quy định bởi bản chất giai cấp của Nhà nước. Tùy thuộc vào nhiệm vụ của luật hình sự bảo vệ lợi ích của giai cấp nào, mà có thể xác định bản chất giai cấp của hình phạt. 12 Từ định nghĩa pháp lý của khái niệm hình phạt đã nói ở trên, có thể đưa ra định nghĩa của khái niệm hình phạt tử hình như sau: tử hình là hình phạt đặc biệt, tước bỏ quyền sống của người bị kết án, chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Do tử hình là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt theo luật hình sự Việt Nam, cho nên, tử hình cũng có đầy đủ những đặc điểm của hình phạt như đã phân tích ở trên. Ngoài ra, tử hình còn có một số đặc điểm mà chỉ hình phạt này mới có như sau: Thứ nhất, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án. Quyền sống là quyền tự nhiên quan trọng nhất của con người. Hình phạt tử hình tước đi quyền sống của người bị kết án, do vậy, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt. Tử hình là một trong những hình phạt có lịch sử lâu đời, nhưng xung quanh nó, dưới góc độ lý luận luật hình sự, còn có những ý kiến khác nhau, trong đó nổi lên hai quan điểm trái ngược nhau về việc nên duy trì hay hủy bỏ hình phạt này. Những người theo quan điểm đòi phải hủy bỏ hình phạt tử hình cho rằng, sự sống của con người là cái quý giá nhất mà tạo hóa ban cho, con người không nên sử dụng pháp luật để tước đi cái đó. Ngoài ra, họ còn lập luận rằng, Tòa án có thể mắc sai lầm trong việc quyết định hình phạt tử hình, mà khi đã thi hành xong hình phạt tử hình, thì không thể sửa chữa được nữa. Những người theo quan điểm duy trì hình phạt tử hình, thì cho rằng, để đảm bảo an ninh cho xã hội, cần thiết phải duy trì hình phạt tử hình đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [45, tr. 38]. 13 Thứ hai, tử hình là hình phạt không đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo người bị kết án. Theo quan điểm được thừa nhận rộng rãi ở nước ta, hình phạt tử hình không đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo người bị kết án, bởi vì tính chất đặc biệt nghiêm trọng của hành vi phạm tội và những đặc điểm nhân thân của người phạm tội đã phủ nhận khả năng thực hiện mục đích đó. Việc quy định và áp dụng hình phạt tử hình nhằm “loại bỏ hoàn toàn khả năng thực hiện tội phạm” ở người bị kết án, có tác dụng răn đe những người không vững vàng dễ sa vào con đường phạm tội, đồng thời động viên nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm [47, tr. 217]. Thứ ba, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi phạm tội là những đối tượng đặc biệt của chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Quy định tại Điều 35 BLHS năm 1999 chủ yếu xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự. Những đặc điểm tâm - sinh lý của người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, khả năng giáo dục, cải tạo của họ và đây cũng là điều được các nhà làm luật quan tâm đến. Trong luật hình sự Việt Nam, ngoài hình phạt tử hình, chỉ có hình phạt tù chung thân được quy định không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, còn các hình phạt khác đều không có đặc điểm này. 1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định hình phạt tử hình trong hệ thống hình phạt 14 Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất được cấu thành bởi các ngành luật khác nhau; gắn liền với các ngành luật đó là những biện pháp trách nhiệm pháp lý với những chế tài cụ thể khác nhau. Gắn liền với luật hình sự là các biện pháp pháp lý hình sự, trong đó có hình phạt. Hệ thống hình phạt là tổng thể các loại hình phạt do Nhà nước quy định trong luật hình sự, có sự liên kết chặt chẽ với nhau theo một trật tự nhất định được quy định bởi tính chất nghiêm khắc của từng loại hình phạt. Trong BLHS năm 1999, Điều 28 quy định hệ thống hình phạt, từ Điều 29 đến Điều 40 quy định nội dung và điều kiện áp dụng của từng loại hình phạt cụ thể. Các hình phạt trong hệ thống hình phạt rất đa dạng, bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, hình phạt tước tự do, hình phạt không tước tự do, hình phạt tước quyền sống của người bị kết án. Việc nhà làm luật xây dựng một hệ thống hình phạt với nội dung mang tính cưỡng chế, giáo dục khác nhau là cần thiết, phù hợp với sự đa dạng về tính chất, mức độ của các loại tội phạm trên thực tế và phù hợp với chính sách hình sự nhân đạo, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta. Chính sự đa dạng các hình phạt trong hệ thống hình phạt là điều kiện bảo đảm cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật và cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong thực tiễn xét xử. Trong hệ thống hình phạt theo luật hình sự Việt Nam, tử hình là hình phạt chính nghiêm khắc nhất. Việc BLHS năm 1999 còn quy định hình phạt tử hình là xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội của nước ta yêu cầu phải có hình phạt tử hình nhằm trừng trị những kẻ phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm đến tính mạng, nhân phẩm của con người, xâm phạm sở hữu, trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm tham nhũng, các tội phạm về ma túy, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. Ngoài ra, việc quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự còn thể hiện thái 15 độ kiên quyết của Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Hình phạt tử hình không đặt ra mục đích giáo dục và cải tạo bản thân người phạm tội, mà chủ yếu có mục đích trừng trị, loại bỏ hoàn toàn khả năng phạm tội mới từ phía họ. Ý nghĩa lớn nhất của hình phạt tử hình là răn đe những người không vững vàng trong xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời động viên, khuyến khích quần chúng nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong hệ thống hình phạt, hình phạt tử hình đóng một một vai trò quan trọng. Nó bảo đảm cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi, thể hiện sự chuyên chính của Nhà nước XHCN trong việc đấu tranh chống tội phạm, nhất là đối với những kẻ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Việc quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn, vững mạnh của chế độ XHCN, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt tử hình một cách tùy tiện lại bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bởi lẽ nó xâm phạm đến quyền thiêng liêng nhất của con người, đó là quyền được sống. Những hành vi vi phạm này không chỉ xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, xâm hại quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sinh mạng chính trị của công dân mà còn làm giảm uy tín của Nhà nước, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan thi hành pháp luật. Như vậy, việc quy định một cách chặt chẽ hình phạt tử hình trong luật hình sự và thủ tục thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự còn bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN. Việc quy định và áp dụng đúng đắn hình phạt tử hình chính là sự bảo đảm chắc chắn cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của các cơ quan bảo vệ pháp 16 luật là phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời, chính xác mọi hành vi phạm tội, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội, ngăn chặn không cho người phạm tội tiếp tục phạm tội hoặc phạm tội mới; đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Việc quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp hình sự, còn có ý nghĩa phục vụ việc nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng về sự cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử những vụ án phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Việc nắm vững nội dung, bản chất pháp lý của hình phạt tử hình, cũng như những thủ tục, điều kiện áp dụng hình phạt này, sẽ giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng đúng pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; giúp công dân có cơ sở pháp lý tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tội phạm; đồng thời tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, việc quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự còn có ý nghĩa đặt ra nhu cầu hoàn thiện chế định các hình phạt nói chung và hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự quy định loại hình phạt này nói riêng. Ngoài ra, việc quy định hình phạt tử hình còn có ý nghĩa là cơ sở pháp lý cho một số ngành khoa học pháp lý có liên quan chặt chẽ với khoa học luật hình sự như tội phạm học, thi hành án hình sự... Đối với tội phạm học, việc quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự là cơ sở quan trọng để phục vụ việc phân loại người phạm tội, nhân thân người phạm tội, từ đó tìm ra quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, trong đó có những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc quy định hình phạt tử hình còn có ý nghĩa làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, tồn tại của các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa hữu hiệu. 17 Đối với thi hành án hình sự, việc quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự là cơ sở pháp lý quan trọng để quy định các trình tự, thủ tục thi hành hình phạt này. Đối với tâm lý học tư pháp, việc quy định hình phạt tử hình có ý nghĩa trong việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý người phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu tâm lý những loại người này sẽ phục vụ trở lại cho công tác điều tra, truy tố, xét xử người thực hiện các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đối với xã hội học luật hình sự, việc quy định hình phạt tử hình có ý nghĩa trong việc làm sáng tỏ tính quyết định xã hội đối với các quy phạm pháp luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt, cũng như các giải pháp đưa các quy phạm này vào cuộc sống. Nói tóm lại, việc quy định hình phạt tử hình trong hệ thống hình phạt của luật hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN hiện nay. 1.2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.2.1. Những quy định về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê Ngay từ năm 939, sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chính quyền phong kiến dân tộc đã sử dụng nhiều biện pháp chuyên chính bạo lực với các hình phạt nghiêm khắc, trong đó có hình phạt tử hình. Dưới thời Đinh, Lê, việc quy định hành vi nào là tội phạm và hình phạt tương ứng đều tùy ý của Vua. Đinh Bộ Lĩnh đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi và quy định: “Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc 18
- Xem thêm -