Tài liệu Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng cấp thoát nước số 1 - viwaseen

  • Số trang: 54 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Khái quát chung 1.1.1. Khái niệm, đặc trưng của vốn Khái niệm về vốn: Vốn được biểu hiện là giá trị của toàn bộ tài sản do doanh nghiệp quản lý và sử dụng tại một thời điểm nhất định. Mỗi đồng vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của doanh nghiệp, nhưng chưa hẳn có tiền là có vốn. Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì tiền phải đưa vào sản xuất kinh doanh với mục đích sinh lời. Theo quan điểm của K.Marx, dưới góc độ của các yếu tố sản xuất, vốn (tư bản) là “Giá trị đem lại thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất”, “vốn không phải là vật, là tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê”. Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Đây là khái niệm mang ý nghĩa bao quát lớn vì đã bao hàm được cả bản chất và vai trò của vốn. Vai trò của vốn là dù được thể hiện dưới hình thức nào thì giá trị của chúng mang lại là giá trị thặng dư được tăng lên thông qua quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do nền kinh tế thời đó còn nhiều hạn chế nên K.Marx chỉ thấy được có khu vực sản xuất vật chất mới đem lại giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là hạn chế trong khái niệm về vốn của Marx. Paul.A.Sammelson, một nhà kinh tế học theo trường phái “tân cổ điển” đã kế thừa các quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành ba loại: đất đai, lao động và vốn. Ông cho rằng, vốn là các hàng hóa sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho quá trình sản xuất mới của doanh nghiệp: máy móc, trang thiết bị,…Tuy nhiên, trong quan niệm của mình, Sammelson đã không đề cập đến các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá có thể đem lại lợi ích cho doanh nghiệp. Từ đó, ta có thể đi đến định nghĩa tổng quan về vốn: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.[1, tr.139] 1 Đặc trưng của vốn: Để quản lý và sử dụng cần có hiệu quả nhất đòi hỏi doanh nghiệp phảo nhận thức đúng đắn các đặc trưng của vốn. Dưới đây là một số đặc trưng của vốn:  Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định hay vốn là đại diện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp.  Vốn phải vận động để sinh lời xuất phát từ nguyên tắc: tiền tệ chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào sản xuất kinh doanh, chúng vận động biến đổi hình thái biểu hiện. Nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là giá trị tiền phải lớn hơn khi xuất phát.  Vốn được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới phát huy tác dụng.  Vốn có giá trị về mặt thời gian, điều nay có nghĩa khi xem xét vốn phải xét đến yếu tố thời gian bới sức mua của tiền chịu ảnh hưởng của lạm phát, khoa học công nghệ…  Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu: khi gắn liền với một chủ sở hữu nhất định thì vốn mới được chi tiêu hợp lý và có hiệu quả. 1.1.2. Nguồn vốn 1.1.2.1. Nguồn hình thành vốn Trong mỗi doanh nghiệp, vốn có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Bởi vậy, mỗi doanh nghiệp cũng chỉ có thể khai thác, huy động trên những nguồn cung cấp ở một giới hạn nhất định. Từ đó cho thấy, việc huy động các nguồn vốn đã là điều khó, nhưng việc sử dụng có hiệu quả đồng vốn ấy lại càng khó khăn. Việc nghiên cứu, tìm tòi và để đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sư dụng Vốn của mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Huy động được nguồn vốn để kinh doanh không thì chưa đủ mà phải có hình thức quản lý và sử dụng nguồn vốn ấy vào việc sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả, làm cho vốn ngày càng sinh lợi và đạt được chiến lược kinh tế cao. Đối với doanh nghiệp, tổng số tài sản lớn hay nhỏ thể hiện quy mô hoạt động là rất quan trọng. Song nền kinh tế thị trường điều quan trọng là giá trị tài sản do doanh nghiệp đang nắm giữ và sử dụng được hình thành từ những nguồn vốn nào. Nguồn vốn của doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với từng loại tài sản của doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không chỉ sử dụng vốn của bản thân mà còn sử dụng các nguồn vốn khác, trong đó nguồn vốn vay đóng một vai trò khá quan trọng. Do đó, nguồn vốn trong doanh nghiệp thường được hình thành từ hai nguồn sau: Nợ phải trả và Nguồn vốn chủ sở hữu 2 Thang Long University Library 1.1.2.2. Phân loại nguồn vốn Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Để biến những ý tưởng kinh doanh thành hiện thực thì đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định để hình thành nên các tài sản cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Do vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý là làm thế nào để có thể tổ chức và sửu dụng vốn một cách hiệu quả nhất. Muốn làm được điều đó thì đòi hỏi doanh nghiệp cần nắm rõ nguồn hình thành vốn. Vốn được phân ra và sử dụng tùy thuộc vào mục đích và loại hình doanh nghiệp. Thông thường, trong công tác quản lý thường phân loại vốn theo ba phương pháp sau:  Phương pháp thứ nhất: dựa vào quan hệ sở hữu nguồn vốn:  Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền sử dụng, chi phối lâu dài vào các hoạt động kinh doanh của mình.[2,tr.244]  Nợ phải trả: phản ánh số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác nhưng doanh nghiệp lại có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định vào các hoạt động kinh doanh của mình. [2, tr.244] Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này tạo nên cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Việc lựa chọn được cơ cấu nguồn vốn hợp lý là yếu tố sống còn với doanh nghiệp vì thế đòi hỏi nhà quản lý cần cân nhắc kỹ trước khi lựa chọn cơ cấu cho doanh nghiệp mình.  Phương pháp thứ hai: dựa vào thời gian huy động và sử dụng nguồn vốn:  Nguồn vốn dài hạn (hay gọi là vốn thường xuyên): là các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn (lớn hơn 1 năm) vào các hoạt động kinh doanh. [2, tr.134]  Nguồn vốn ngắn hạn (hay gọi là vốn tạm thời): là nguồn vốn có thời hạn trng một năm, bao gồm các khoản vay ngắn hạn của ngân hàng và các tổ chức tns dung, các khoản nợ ngắn hạn khác phát sinh trong quá trình kinh doanh như nợ người cung cấp, nợ tiền lương của người lao động…[2, tr.135] Việc phân loại này giúp các nhà quản lý xem xét huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian và có cơ sở để lập kế hoạch tài chính.  Pương pháp thứ ba: Căn cứ theo phạm vi huy động vốn:  Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn được huy động từ chính hoạt động của doanh nghiệp, gồm: lợi nhuận giữ lại, khấu hao TSCĐ, thu thanh lý. Sử dụng nguồn vốn bên trong doanh nghiệp có thể chủ động cũng như độc lập về tài chính, tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn [2,tr.136] 3  Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn doanh nghiệp phải đi huy động từ bên ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm: vay ngân hàng và các tổ chức tài chính, thuê tài chính, nhận vốn liên doanh, tín dụng thương mại, huy động vốn bằng phát hành chứng khoán…[2,tr.136] Viêc phân loại này giúp người quản lý có kế hoạch khai thác tận dụng tối đa khả năng các nguồn vốn bên trong và sử dụng hợp lý nguồn vốn bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp. 1.1.3. Vai trò của vốn Một doanh nghiệp có thể sử dụng một hay nhiều nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể dùng vốn ngắn hạn hay dài hạn, dùng nợ hay vốn chủ sở hữu, tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thiết lập một cơ cấu vốn tối ưu dựa trên cơ sở định tính và định lượng những nhân tố tác động đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Chừng nào cơ cấu vốn của doanh nghiệp chưa đạt đến mức tối ưu, doanh nghiệp có thể tiếp tục sử dụng thêm nợ. Ngược lại, khi cơ cấu vốn của doanh nghiệp đã vượt quá điểm tối ưu, việc sử dụng thêm nợ sẽ bất lợi đối với doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp xây dựng có chu kỳ sản xuất (tiến độ thi công công trình) kéo dài, vì vậy vốn sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu trong các khối lượng xây dựng dở dang, dẫn đến việc dễ gặp các rủi ro về vốn theo thời gian. Do đó, doanh nghiệp phải đưa ra các quyết định tài trợ vốn bằng nguồn Nợ phải trả hay Vốn chủ sở hữu một cách hợp lý nhất sao cho chi phí sử dụng vốn là thấp nhất, đồng thời hạn chế được các rủi ro sẽ nảy sinh trong giai đoạn này. Mặt khác, sản xuất xây dựng được tiến hành thông qua các hợp đồng kinh tế được ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu sau khi có kết quả lựa chọn nhà thầu. Tùy theo các hình thức lựa chọn nhà thầu, trong đó hồ sơ mời thầu sẽ yêu cầu các điều kiện các nhà thầu phải đáp ứng về năng lực máy móc thiết bị thi công, quy mô về vốn, tình hình công nợ,… Đặc điểm này bắt buộc các doanh nghiệp phải chú ý một cách thỏa đáng trong chiến lược xây dựng cơ cấu TSCĐ, các khoản nợ, quy mô vốn chủ sở hữu … để luôn đảm bảo khả năng tham gia các gói thầu. Có thể nhận thấy được vai trò quan trọng của vốn đối vứi các doanh nghiệp. Nhờ có nó mà các doanh nghiệp có thể thay đổi được trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất…trong thời gian ngắn. Nó mang lại cho doanh nghiệp được nhiều lợi thế như: cải tiến được máy móc, giảm giá thành sản phẩm, giảm được sức lao động cho nhân công… mà vẫn đáp ứng được chất lượng của các sản phẩm và nhu cầu thị trường, điều mà các doanh nghiệp luôn mong muốn. Nhờ đó mà các doanh nghiệp sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao uy tín của mình trên thương trường mà vẫn mang lại 4 Thang Long University Library hiệu quả kinh tế cho các nhà đầu tư. Vì vậy việc lựa chọn một mô hình để xây dựng cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp xây dựng là hết sức cần thiết. 1.2. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn: Trong doanh nghiệp, hiệu quả của việc kinh doanh không chỉ dừng lại là thước đo phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn. Nhìn thấy được thách thức hết sức khó khan, doanh nghiệp muốn trụ vững, trèo lái qua cuộc khủng hoảng kinh tế thì việc kinh doanh phải đem lại hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất. Như vậy, “hiệu quả chính là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào trong một chu kỳ kinh doanh nhất định”[3]. Cũng nằm trong hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu kinh tế phản ảnh thực tế công tác quản lý và nâng cao nguồn lực tài chính. Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của vốn chủ sở hữu. Sử dụng vốn hợp lý, hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển và đứng vững trên thị trường. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là nhu cầu bức thiết và là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay bới các nguyên nhân chủ yếu sau đây:  Thứ nhất, xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp: Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận hay tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Đề làm được điều đó không thể không có vốn bởi vốn là tiền đề và có tính chất quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhưng để có thể thu được lợi nhuận cao không chỉ có vốn là đủ mà vấn đề là đồng vốn đó được sử dụng hiệu quả, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp làm ăn có lãi, bảo toàn và phát triển đươc vốn và đó là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành mở rộng quy mô sản xuất. 5  Thứ hai, xuất phát từ thực trạng sử dụng vốn ở nhiều doanh nghiệp hiện nay: Trong thời kỳ bao cấp, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp là do nhà nước cấp hoặc vay tín dụng ưu đãi của ngân hàng vì thế vấn đề khai thác và sửu dụng một cách có hiệu quả vốn không được chú trọng, điều này vố tình đã tiệt tiêu tính chủ động và sang tạo của doanh nghiệp. Nhưng hiện nay, đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tự do kinh doanh và bình đẳng với nhau nên sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Sự cạnh tranh này tạo ra sự thúc đẩy các doanh nghiệp và sử dụng vốn hiệu quả hơn nhưng bên cách đó không ít những doanh nghiệp còn sử dụng vốn kém, hiệu quả không bảo toàn và không phát triển được vốn. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.  Thứ ba, xuất phát từ ý nghĩa với xã hội: Khi các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả đồng vốn đồng nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi sẽ làm ngân sách nhà nước tăng lên, thể hiện qua số thuế phải nộp sẽ tăng. Bên cạnh đó khi quy mô doanh nghiệp được mở rộng thì đòi hỏi lượng lao động nhiều nên giải quyết được vấn đề việc làm – vấn đề rất bức xúc hiện nay của xã hội, thu nhập bình quân đầu người cũng tăng lên… 1.3. Phƣơng pháp phân tích Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích như phương pháp so sánh, phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế, phương pháp phân tích số tỷ lệ, phương pháp DuPont, phương pháp số chênh lệch,phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp liên hệ cân đối và các phương pháp khác. Qua quá trình học tập ở trường cùng việc tìm hiểu trong thực tế, em đã quyết định sử dụng phương pháp phân tích so sánh, phương pháp đồ thị, phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp Dupont trong chuyên đề của mình. Vì đây là những phương pháp phổ biến và thường được thưc hiện trong việc phân tích. 1.3.1.1. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Đây là phương pháp được sử dụng lâu đời, rộng rãi và phổ biến nhất trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hành được cần xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để so sánh, mục tiêu để so sánh. Để áp dụng phương pháp so sánh, cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán,…) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân. 6 Thang Long University Library Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, gọi là gốc so sánh. Việc xác định số gốc để so sánh là tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích. Gốc để so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian và không gian. Kỳ phân tích được chọn là kỳ thực hiện hoặc là kỳ kế hoạch, hoặc là kỳ kinh doanh trước. Giá trị so sánh có thể chọn là số tuyệt đối, số tương đối, hoặc là số bình quân. Điều kiện so sánh Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất. Trong thực tế điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế cần được quan tâm cả về thời gian và không gian.  Về mặt thời gian: Các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian, hạch toán phải thống nhất trên ba mặt sau:  Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu.  Phải đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu.  Phải đảm bảo sự thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (kể cả hiện vật, giá trị và thời gian).  Về mặt không gian: Các chỉ tiêu cần được quy định về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau. Để đảm bảo tính đồng nhất người ta cần phải quan tâm tới phương diện được xem xét mức độ đồng nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác cần phải có, thời gian phân tích được cho phép … Mục tiêu so sánh Mục tiêu so sánh trong phân tích là nhằm xác định mức biến động của chỉ tiêu phân tích (năng suất tăng, giá thành giảm):  Mức biến động tuyệt đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ. Kỳ thực tế với kỳ kế hoạch, hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước …  Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu ở kỳ này với trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉ tiêu phân tích. Nội dung so sánh bao gồm:  So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng tưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 7  So sánh giữ số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp.  So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được.  So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp. Hình thức so sánh  So sánh theo chiều ngang: So sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên từng báo cáo tài chính. Thực chất của việc phân tích này là phân tích sự biến động về quy mô của từng khoản mục, trên từng báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Qua đó, xác định được mức biến động (tăng hay giảm) về quy mô của chỉ tiêu phân tích.  So sánh theo chiều dọc: Sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Thực chất của việc phân tích này là phân tích sự biến động về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp.  So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu: Các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chúng và chúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh rõ hơn xu hướng phát triển của các hiện tượng kinh tế – tài chính của doanh nghiệp. 1.3.1.2. Phương pháp đồ thị Phương pháp đồ thị là phương pháp nhằm phản ánh trực quan các số liệu phân tích bằng biểu đồ hoặc đồ thị. Qua đó, mô tả xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích, hoặc thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể nhất định. Phương pháp đồ thị có tác dụng minh hoạ kết quả tài chính đã tính toán được và được biểu thị bằng biểu đồ hay đồ thị, giúp cho việc đánh giá bằng trực quan, thể hiện rõ ràng và mạch lạc diễn biến của chỉ tiêu phân tích qua từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, xác định rõ những nguyên nhân biến động của chỉ tiêu phân tích. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tài chính doanh nghiệp. 8 Thang Long University Library Phương pháp đồ thị có thể phản ánh dưới những góc độ sau:  Biểu thị quy mô (độ lớn) các chỉ tiêu phân tích qua thời gian, như: Tổng tài sản, tổng doanh thu, sản lượng, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng chi phí, tỷ suất lợi nhuận ... hoặc có thể biểu hiện tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích theo thời gian, như: tốc độ tăng tài sản, tốc độ tăng chủ sở hữu, tốc độ tăng hiệu quả sử dụng vốn, tốc độ tăng vốn đầu tư...  Biểu thị mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các chỉ tiêu nhân tố như: tỷ suất sinh lời của tổng tài sản chịu ảnh hưởng của tỷ suất sinh lời của tổng doanh thu thuần và tốc độ chu chuyển của tổng tài sản hoặc sức sinh lời của tài sản dài hạn phụ thuộc vào hệ số của tài sản dài hạn với sức sinh lời của vốn chủ sở hữu. 1.3.1.3. Mô hình Dupont Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định. Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau: ROE = Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu = Doanh thu Tổng tài sản x Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu Hiệu suất sử dụng Tổng tài sản x Đòn bẩy tài chính X Tỷ suất lợi nhuận biên X Trong đó, ROE là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Thông qua mô hình Dupont, ta thấy ROE phụ thuộc vào ba nhân tố:  Tỷ suất lợi nhuận biên: Phản ánh công tác chi phí của doanh nghiệp.  Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Mức độ sử dụng tài sản cho hoạt động sản xuất kinh doanh.  Đòn bẩy tài chính: Trung bình một đồng tài sản tài trợ được từ bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu. 9 Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE như sau:  Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.  Tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản.  Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động. Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Dựa vào những lý thuyết trên, ta có thể đề ra được hệ thống các biện pháp một cách tỉ mỉ và xác thực để quá trình cải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp, góp phần không ngừng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức trong tương lai. 1.3.1.4. Phương pháp thay thế liên hoàn Phương pháp thay thế liên hoàn là tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theo một trình tự nhất định. Mô hình chung phương pháp thay thế liên hoàn được xác định như sau: Trƣờng hợp 1: Các chỉ tiêu nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích X được biểu hiện dưới dạng tích số Đối tượng phân tích:  Số tuyệt đối: ΔX = X1 - Xk  Số tương đối: X = ΔX .100 Xk Các nhân tố ảnh hưởng:  Do ảnh hưởng của nhân tố a: ΔXa = a1.bk.ck - ak.bk.ck  Do ảnh hưởng của nhân tố b: ΔXb = a1.b1.ck - a1.bk.ck  Do ảnh hưởng của nhân tố c: ΔXc = a1.b1.c1 - a1.b1.ck Sau cùng là tổng hợp, phân tích và kiến nghị. 10 Thang Long University Library Trƣờng hợp 2: Các chỉ tiêu nhân tố có quan hệ kết hợp dưới dạng cả tích số và thương số với chỉ tiêu phân tích X Đối tượng phân tích:  Số tuyệt đối: ΔX = X1 - Xk  Số tương đối: ΔX .100 Xk Các nhân tố ảnh hưởng:  Do ảnh hưởng của nhân tố a: ΔXa = a1.bk.ck - ak.bk.ck  Do ảnh hưởng của nhân tố b: ΔXb = a1.b1.ck - a1.bk.ck  Do ảnh hưởng của nhân tố c: ΔXc = a1.b1.c1 - a1.b1.ck Tổng hợp, phân tích và kiến nghị 1.4. Tổng quan nghiên cứu thực tiễn về phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Nền kinh tế phát triển ngày càng mạnh mẽ, kinh doanh là môt trong những mục tiêu hàng đầu quốc gia. Từ khi nước ta bước vào nền kinh tế thị trưởng, chính sách mở cửa, nhà nước khuyến khích các đơn vị đầu tư kéo theo đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Do vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì điều kiên đầu tiên là nguồn vốn. Vốn là nhân tố chi phối hầu hết các nhân tố khác. Vốn là chìa khóa, là phương tiện để biến các ý tưởng trong kinh doanh thành hiện thực. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ góp phần quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Chính vì vậy, bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ thì đều quan tâm đến vốn và vấn đề về hiệu quả sử dụng vốn sao cho hợp lý và đạt kết quả tốt nhất. Thực hiện bài nghiên cứu này, tác giả đã tham khảo nhiều bài nghiên cứu cùng đề tài, trong đó có ba khóa luận: Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh [3], Khóa luận của tác giả Trần Phương Thảo [4], Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến [5]. Ta có thế đưa ra nhận xét chung về kết cấu của cả ba khóa luận đều chia làm ba phần: Phần 1 là: Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn; phần 2: Thực trạng sử dụng vốn của công ty và phần 3 là đề ra phương hướng cần giải quyết. Tuy nhiên về nôi dung, do cách tiếp cận về khía cạnh của lý thuyết vốn và quy mô vốn của mỗi công ty là khác nhau nên phương thức phân tích khác nhau. Với khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh và khóa luận của tác giả Trần Phương Thảo, tác giả định nghĩa vốn theo nghĩa chung nhất là “Vốn kinh doanh của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”, tức là gồm vốn CSH và nợ phải 11 trả, rồi từ đấy tác giả dung phương pháp tỷ số để ước tính được tỷ trọng của các khoản như ROE, tỷ số nợ, khả năng sinh lời,… sau đó tiếp tục khai thác sâu hơn bằng phương pháp phân tính tài chính Dupont để xử lý số liệu. Còn với tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến, tác giả phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo nghĩa rộng là “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ CNV, uy tín của doanh nghiệp”. Tác giả đã phân tích hiệu quả vốn dựa trên nguồn hình thành, phân tích hiệu quả vốn theo tính chất luân chuyển và cuối cùng là theo thời gian hình thành. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện về tình hình sử dụng vốn theo các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, nhược điểm của nghiên cứu này là phạm vi quá rộng. Do đó, không tập trung được vào vấn đề cần thiết mà công ty đang gặp rắc rối và cần giải quyết. Từ những khóa luận mà tác giả đã tham khảo được, tác giả đã rút ra được rất nhiều kiến thức để ấp dụng trong bài. Trong bài khóa luận này, tác giả sẽ sử dụng các chỉ tiêu về vốn nói chung: vốn cố định và vốn lưu động. Sách : “Giáo trình tài chính doanh nghiệp” của TS. Lê Thị Xuân và PGS. TS. Lưu Thị Hương cùng PGS. TS. Vũ Duy Hào đã giúp tác giả hiểu rõ hơn các định nghĩa về vốn, vốn cố định, vốn lưu động, nhờ vậy việc phân tích trở nên dễ dàng hơn. 1.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Bất kỳ một DN nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Đó là nhân tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của mỗi DN. Tính hiệu quả của việc sử dụng vốn nói chung là tạo ra nhiều sản phẩm tăng thêm lợi nhuận nhưng không ngừng tăng nguồn vốn, hoặc đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô để tăng doanh thu nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu tốc độ về tăng lợi nhuận hay tốc độ tăng vốn. 1.5.1. Hiệu quả sử dụng vốn cố định  Hiệu quả sử dụng vốn cố định : Chỉ tiêu này đo lường việc sử dụng vốn cố định đạt kết quả như thế nào. Cụ thể là một đồng vốn cố đinh có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ.  Hiệu quả sử dụng vốn cố định (1)  Số vốn cố định bình quân trong kỳ (2) 12 Thang Long University Library  Tỷ lệ sinh lời vốn cố định (3) Tỷ lệ sinh lời vốn cố định cho biết đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.  Hiệu quả sử dụng TSCĐ: TSCĐ là bộ phận không thể thiếu ở bất kỳ một doanh nghiệp nào. Tỷ trọng TSCĐ thay đổi tùy theo quy mô, ngành nghề kinh doanh. Hiệu quả sử dụng TSCĐ phần nào phản ánh hiệu quả sử dụng vốn  Hiệu quả sử dụng TSCĐ (4)  Hiệu suất sử dụng TSCĐ (5) Hiệu suất sử dụng TSCĐ đo lường việc sử dụng TSCĐ như thế nào, càng cao càng tốt.  Hệ số hao mòn TSCĐ (6) Hệ số hao mòn TSCĐ thế hiện mức độ hao mòn của TSCĐ tại thời điểm đánh giá so với thời điểm đầu tư ban đầu.  Các chỉ tiêu về kết cấu TSCĐ: Phản ánh tỷ trọng từng nhóm hoặc từng loại TSCĐ của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐ được trang bị ở doanh nghiệp. 1.5.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động biểu thị: cứ một đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào quá trình sản xuất sẽ cho bao nhiêu giá trị tổng sản lượng  Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (7)  Vòng quay vốn lưu động (8) 13 Tốc độ lưu chuyển VLĐ: được thể hiện qua 2 chỉ tiêu là số lần luân chuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của 1 vòng quay vốn)  Kỳ luân chuyển vốn lưu động: là số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động được thực hiện được một vòng quay trong kỳ. (9) Các chỉ tiêu số lần luân chuyển vốn lưu động và số ngày luân chuyển của VLĐ đánh giá tốc độ luân chuyển của VLĐ, hay nói lên vòng quay của VLĐ. Nó còn nói lên cứ 1 đồng VLĐ bỏ ra thì sẽ có bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng quay VLĐ càng thấp thì chứng tỏ VLĐ bình quân càng nhiều, doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, tình hình tài chính của doanh nghiệp hoạt động mới có hiệu quả. Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ là tăng số vòng quay của vốn trong kỳ, hoặc giảm số ngày của vòng quay vốn dẫn đến kết quả là tiết kiệm được vốn. Muốn vậy, phải thực hiện phối hợp nhiều biện pháp nhằm giảm lượng vốn nằm ở các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vấn đề giảm khối lượng VLĐ và nâng cao mức luân chuyển có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc rút ngắn thời gian luân chuyển VLĐ trong kỳ. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VLĐ phản ánh sự phát triển của trình độ sản xuất, phản ánh trình độ trang bị kỹ thuật, chất lượng của việc tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh. Ngoài việc tính hiệu suất sử dụng vốn lưu động trên cơ sở tốc độ luân chuyển vốn lưu động, việc xác định những chỉ tiêu kết quả về sử dụng vốn lưu động là rất cần thiết và được đánh giá qua những chỉ tiêu sau:  Mức đảm nhiệm vốn lưu động: Phản ánh lượng vốn lưu động cần thiết để thu được một đồng giá trị sản lượng hàng tiêu thụ trong kỳ.(10)  Mức doanh lợi vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động bình quân làm ra bào nhiều đồng lợi nhuận. (11) Việc sử dụng các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng VLĐ trong các doanh nghiệp cũng đòi hỏi hết sức thận trọng bởi là những chỉ tiêu tổng hợp. Mỗi chỉ tiêu cũng có những hạn chế nhất định. Vấn đề phải lựa chọn các chỉ tiêu phân tích để có thể bổ sung cho nhau nhằm đánh giá chính xác hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó cải tiến việc sử dụng VLĐ. 14 Thang Long University Library 1.5.3. Hiệu quả sử dụng vốn  Tỷ suất lợi nhuận vốn trước thuế và lãi vay: Phản ánh một đồng vốn tham gia trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (12)  Tỷ suất lợi nhuận vốn: Phản ánh mỗi đồng vốn trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (13)  Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng vốn chủ sở hữu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp. Đây là nhân tố giúp nhà quản trị tăng vốn chủ sở hữu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.(14) Ngoài các chỉ tiêu trên, ta còn có thể sử dụng các chỉ tiêu khác như: vòng quay hàng tồn kho, các chỉ tiêu về khả năng thanh toán,…  Khả năng thanh toán ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn, hay doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này càng cao (lớn hơn 1), khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại.  Khả năng thanh toán nhanh: Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán hàng tồn kho. Về nguyên tắc, hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán công nợ càng cao và ngược lại. Khả năng thanh toán nhanh = 15 Tổng tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho Tổng nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán tức thời: Chỉ tiêu cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tiền và các loại tài sản có tính thanh khoản cao khác của doanh nghiệp. Chỉ số này thường > 0.5 và được đánh giá là có khả năng thanh toán tương đối tốt. Tuy nhiên nếu chỉ số này quá cao thì lại phản ánh tính hình không tốt vì lượng vốn bằng tiền quá lớn gây rủi ro chi phí cơ hội cao, làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ. Khả năng thanh toán tức thời = Tiền + Các khoản tương đương tiền Tổng nợ ngắn hạn  Vòng quay hàng tồn kho bình quân: Chỉ tiêu này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu nó nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng càng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao trong khi nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. (15)  Số ngày lưu kho bình quân: Chỉ tiêu này cho biết số ngày lượng hàng tồn kho được chuyển đổi thành doanh thu. Hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong việc dự trữ nên chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác quản lý hàng tồn kho càng tốt, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.(16) 1.6. Những nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và chịu tác động tổng hợp bởi nhiều nhân tố. 1.6.1. Các nhân tố khách quan Đây là những nhân tố bên ngoài nhưng đôi khi lại đóng vai trò quan trọng và quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. 16 Thang Long University Library  Cơ chế quản lý và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhà nước cho phép các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, tự do phải trong khuân khổ, phải chịu sự quản lý của pháp luật. Nếu chính sách kinh tế nhà nước ổn định sẽ tạo điều kiện cho việc tiến hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông suốt, có hiệu quả và ngược lại.  Thị trường và sự cạnh tranh: Khi xem xét thị trường doanh nghiệp không thể bỏ qua đối thủ cạnh tranh bới nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh lớn trên thị trường, sản phẩm có chất lượng tốt, tiến độ nhanh sẽ làm tăng lợi nhuận và ngược lại.  Đặc thù của ngành kinh doanh: Đây là nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn cũng như vòng quay vốn nên doanh nghiệp cũng cần quan tâm xem xét.  Rủi ro kinh doanh: những rủi ro trong kinh doanh như: hỏa hoạn, thiên tai,…có thể làm tổn hại đến tài sản của doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến nguồn vốn của doanh nghiệp.  Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: đây là vấn đề thách thức với bất kỳ doanh nghiệp nào trong thời kỳ này bởi khoa học ngày càng hiện đại hóa làm hao mòn vô hình tăng lên và đòi hỏi công tác đầu tư đổi mới kỹ thuật.  Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: nếu cơ sở hạ tầng phát triển thì sẽ giảm được nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp, đồng thơi tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí kinh doanh.  Lãi suất thị trường: lãi suất thị trường ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư, đến chi phí sử dụng vốn và ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.6.2. Các nhân tố chủ quan Ngoài những nhân tố chủ quan còn có những nhân tố khách quan, đấy là những nhân tố do bản thân doanh nghiệp tạo ra:  Trình độ quản lý và tay nghề người lao động: đây là một nhân tố quan trọng và có tính chất quyết định rất nhiều đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Người quản lý có trình độ chuyên môn cao sẽ tính toán và đưa ra những phương án để sử dụng một cách có hiệu quả và tiết kiệm được vốn. Nếu tay nghề của người lao động tốt, lành nghề làm tăng năng suất lao động, từ đó tăng hiệu quả sử dụng vốn và ngược lại. 17  Việc lựa chọn phương thức bán hàng và thanh toán cũng chi phối đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Thể hiện khi doanh nghiệp lựa chọn thi công trước cho các đối tác giao thầu nhiều thì tức doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn lớn kéo theo doanh nghiệp cũng sẽ mất thêm chi phí cho việc quản lý các khoản nợ này chưa kể đến nếu như phát sinh thêm những khoản nợ khó đòi. Mặt khác, khi nhận tạm ứng sau đồng nghĩa với việc doanh ngiệp bị mất vốn khi cần phải huy động vốn từ bên ngoài, tăng chi phí và giảm hiệu quả sử dụng vốn.  Việc lựa chọn phương án đầu tư: là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Nếu các công trình của doanh nghiệp công trình hoàn thành trước tiến độ và đảm bảo các yêu cầu về chất lượng sẽ đảm bảo được việc thu hồi vốn. Đây có thể là môt phương pháp hữu hiệu để thu hồi vốn trước hạn, từ đó có thể sử dụng dòng vốn để tái đầu tư vào dự án mới. Ngược lại, nếu công trình không đáp ứng được những tiêu chuẩn đề ra thì quá trình thu hồi vốn sẽ bị ứ đọng, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn giảm.  Gây dựng uy tín cũng như thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường. Nếu doanh nghiệp có uy tín cũng như thương hiệu tốt trên thị trường thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng tăng so với các doanh nghiệp khác cùng ngành nghề.  Trình độ trang bị kỹ thuật: Các thiết bị máy móc được trang bị mới, hiện đại sẽ giúp Công ty có được năng suất cũng như chất lượng sản phẩm được nâng cao, tiết kiệm được chi phí cho lao động và thời gian hoàn thiện công trình thi công. Nhờ đó làm cho giá thành sản xuất thấp đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ, tác động là tăng doanh thu và lợi nhuận của Công ty. Tuy nhiên, nếu Công ty đầu tư tràn lan, thiếu định hướng thì viêc đầu tư này sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn. Điều này đặt ra yêu cầu phải có sự tính toán kỹ càng các chi phí để có quyết định đầu tư vào máy móc thiết bị mới một cách đúng đắn. 18 Thang Long University Library KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Hoạt động kinh doanh của DN là cả một quá trình lâu dài, liên tục và phức tạp. Bắt đầu từ việc huy đống vốn ra sao, sử dụng vốn như thế nào, có mang lại hiệu quả mong muốn hay không? Và nếu đạt được hiệu quả thì hiệu quả ấy là cao hay thấp? Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần căn cứ vào điều kiện tình hình kinh doanh để đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian tới. Để thấy được hiệu quả sử dụng vốn, tác giả đặt ra những mục tiêu cần nghiên cứu như sau: Thứ nhất, thực trạng tình hình sử dụng vốn của Công ty. Thứ hai, dựa vào thực trạng sử dụng vốn của Công ty và thông qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa kinh doanh cũng như nhìn nhận được nguyên nhân của việc sử dụng vốn chưa hiệu quả là gì để có những đề xuất nâng cao tình hình sử dụng vốn. Phần hai của bài khóa luận, tác giả sẽ đánh giá hiệu quả sử dụng vốn dựa trên bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả kinh doanh của công ty trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013 để phân tích về hiệu quả sử dụng vốn bằng các chỉ tiêu đã đưa ra ở chương 1. Tuy nhiên, không phải chỉ tiêu nào ta cũng có thể áp dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Trong chương tiếp theo, sau khi phân tích một vài chỉ tiêu cụ thể đã được chọn lọc, ta sẽ thấy được bức tranh rõ ràng hơn về tình hình hoạt động của CTCP Xây dựng cấp thoát nước số 1. 19 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG CẤP THOÁT NƢỚC SỐ 1 – VIWASEEN.1 2.1. Khái quát về công ty cổ phần xấy dựng cấp thoát nƣớc số 1 – Viwaseen.1 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Tổng công ty Đầu tư Xây dựng Cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam (VIWASEEN) được thành lập theo Quyết định số 242/2005-QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 4 tháng 10 năm 2005 và Quyết định số 2188/QĐ-BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ngày 25 tháng 11 năm 2005. Tổng công ty VIWASEEN là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Xây dựng hoạt động theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty Con trên cơ sở tổ chức lại các công ty Nhà nước độc lập trực thuộc Bộ Xây dựng bao gồm: Công ty Xây dựng Cấp thoát nước WASEENCO, Công ty Đầu tư Xây dựng Cấp thoát nước WASECO, Công ty Tư vấn Cấp thoát nước số 2 WASE. Trải qua hơn 35 năm hoạt đông trong lĩnh vực thi công xây lắp, sản xuất cơ khí và cung ứng vật tư, thiết bị chuyên ngành cấp thoát nước, VIWASEEN.1 đã đóng góp đáng kể vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các ngành của nền kinh tế quốc dân trên khắp mọi miền của đất nước. Trong nhiều năm qua, Công ty đã tham gia xây dựng các công trình thuộc nhiều lĩnh vực của nhiều dự án trên phạm vi toàn quốc bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như JBIC, ADB, WB... Tất cả các công trình Công ty thi công đều đạt chất lượng và đúng tiến độ, nhiều công trình được tặng huy chương và có chứng chỉ công trình đạt chất lượng cao. Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng Cấp thoát nước - VIWASEEN 1 có đủ điều kiện và được phép liên doanh, liên kết với các Công ty cùng lĩnh vực để triển khai dự án liên quan đến ngành nghề kinh doanh, đảm bảo công trình thi công đúng trình tự theo qui định hiện hành về Xây dựng cơ bản của Nhà nước nhằm đạt đúng tiến độ và chất lượng cao nhất. Công ty có trụ sở tại Hà Nội và là một doanh nghiệp chuyên ngành đầu tiên, hàng đầu trong lĩnh vực xây dựng, cấp thoát nước của Việt Nam. Ngành nghề hoạt động chính của công ty là các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp; sản xuất, kinh doanh nước sạch; tư vấn, khảo sát, thiết kế và nghiên cứu khoa học các công trình về cấp thoát nước và xây dựng; kinh doanh, xuất nhập khẩu vật tư thiết bị ngành cấp thoát nước. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -