Tài liệu Hệ thống quản lý rủi ro của hải quan việt nam – thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 35 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 117 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ HẢI QUAN Tên đề tài: HỆ THỐNG QUẢN LÝ RỦI RO CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VA GIẢI PHÁP Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Quang Huy Sinh viên thực hiện: H – CQ513134 Lớp chuyên ngành: Kinh tế Hải quan K51 Hà Nội, tháng 6 năm 2012. MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................4 MỞ ĐẦU...................................................................................................................5 1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................5 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................5 3. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................6 4. Phạm vi nghiên cứu......................................................................................6 5. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................6 6. Kết cấu của đề tài..........................................................................................6 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN............................8 1.1. Rủi ro trong lĩnh vực Hải quan.....................................................................8 1.1.1. Khái niệm......................................................................................................8 1.1.2. Phân loại rủi ro..............................................................................................8 1.1.3. Mức độ rủi ro................................................................................................9 1.1.4. Một số rủi ro thường gặp trong lĩnh vực Hải quan.....................................10 1.2. Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan.......................................................11 1.2.1. Khái niệm......................................................................................................11 1.2.2. Lợi ích của hoạt động quản lý rủi ro...........................................................11 1.2.3. Quy trình thực hiện quản lý rủi ro..............................................................11 1.3. Kinh nghiệm của Hải quan các nước về hệ thống quản lý rủi ro................13 1.3.1. Kinh nghiệm của Italia................................................................................13 1.3.2. Kinh nghiệm của My..................................................................................14 2 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH THỦ TỤC HẢI QUAN CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM...17 2.1. Chủ trương, chính sách của Nhà nước và các biện pháp của ngành Hải quan trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống quản lý rủi ro..........17 2.1.1. Chủ trương, chính sách của Nhà nước........................................................17 2.1.2. Những điều kiện cần thiết để Hải quan Việt Nam áp dụng hệ thống quản lý rủi ro........................................................................................................................17 2.2. Khái quát thực trạng tiến hành hệ thống quản lý rủi ro của ngành Hải quan Việt Nam.................................................................................................................18 2.2.1. Quá trình tiếp cận quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam.............................18 2.2.2. Phân cấp quản lý rủi ro..................................................................................21 2.2.3. Quy trình thực hiện quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam..........................22 2.3. Thành tựu và hạn chế trong hệ thống quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam thời gian qua............................................................................................................24 2.3.1. Thành tựu.......................................................................................................24 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế............................................................26 2.3.3. Bài học kinh nghiệm......................................................................................29 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG QUẢN LÝ RỦI RO CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM..............................................32 3.1. Dự báo tình hình của hệ thống quản lý rủi ro trong thời gian tới.....................32 3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý rủi ro....33 3.2.1. Về phía nhà nước...........................................................................................33 3.2.2. Về phía cơ quan Tổng cục Hải quan.............................................................33 3.2.3. Về phía cộng đồng doanh nghiệp..................................................................37 KẾT LUẬN.............................................................................................................38 3 DANH MỤC TAI LIỆU THAM KHẢO................................................................39 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT QLRR : Quản lý rủi ro XNK : Xuất nhập khẩu TCHQ : Tổng cục Hải quan CBCC : Cán bộ cấp cao DN : Doanh nghiệp VNACCS : Hệ thống thông quan điện tử theo công nghệ Nhật Bản (Các chức năng chính của hệ thống sẽ phục vụ cho khâu thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu và thiết lập cổng thông tin phục vụ cơ chế một cửa hải quan, với những tùy chỉnh ở mức độ tối thiểu không làm thay đổi căn bản thiết kế hệ thống ban đầu đang vận hành tại Nhật Bản) MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trước sự gia tăng các hoạt động giao dịch trên thị trường thế giới, cùng với áp lực của cộng đồng quốc tế yêu cầu giảm thiểu sự can thiệp từ phía chính phủ khiến hải quan các nuớc phải đổi mới phương thức quản lý nhằm đạt được sự cân bằng thích hợp giữa tạo điều kiện thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ sự 4 tuân thủ theo quy định của pháp luật và quản lý rủi ro được lựa chọn như một giải pháp tối ưu nhất. Hải quan các nước, dù hoạt động dựa trên hệ thống tự động hay thủ công, đều có thể áp dụng các nguyên tắc quản lý rủi ro - giải pháp đóng vai trò trung tâm trong tiến trình hiện đại hoá hải quan. Hải quan Việt Nam chính thức áp dụng ky thuật đánh giá rủi ro từ ngày 01/01/2006, khi Luật Hải quan sửa đổi (năm 2005) có hiệu lực nên công việc còn nhiều khó khăn, vướng mắc, nhưng không thể chậm trễ, nếu không muốn tụt hậu so với xu thế chung của thế giới. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan nhưng chủ yếu tập trung giới thiệu phương pháp quản lý rủi ro, kinh nghiệm của một số nước và sự cần thiết phải áp dụng trong bối cảnh Việt Nam, chứ chưa có đề tài nào đánh giá thực trạng, phương hướng toàn diện, nâng cao hiệu quả quản lý thông qua ky thuật đánh giá rủi ro. Xuất phát từ đòi hỏi lý luận và thực tiễn, đề tài “Hệ thống quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” là nghiên cứu quan trọng, cần thiết trong giai đoạn hiện nay. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Hệ thống lý luận về rủi ro, quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan Đánh giá thực trạng áp dụng quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam trong tiến trình hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam. 3. Đối tượng nghiên cứu Các chính sách pháp luật hiện hành liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu và quản lý nhà nước về Hải quan của Việt Nam. Một số rủi ro thường gặp trong lĩnh vực Hải quan. Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan của một số nước trên thế giới. Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại của Hải quan Việt Nam. 5 Tính đến thời điểm hiện tại, Tổng cục Hả quan mới chỉ chính thức áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu thương mại. Mặt khác, do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng quản lý rủi ro đối với vấn đề này, chứ không đi sâu vào nghiên cứu quản lý rủi ro đối với phương tiện vận tải, hành lý xuất, nhập cảnh, quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra sau thông quan… 4. Phạm vi nghiên cứu Về không gian, trên phạm vi cả nước Về thời gian, chủ yếu từ năm 2005 đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê Phương pháp chuyên gia 6. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề án được chia thành 3 chương, cụ thể như sau: Chương I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hệ thống quản lý rủi ro Chương II: Thực trạng áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan của Hải quan Việt Nam Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam 6 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1.1. Rủi ro trong lĩnh vực Hải quan 1.1.1. Khái niệm Rủi ro tồn tại khắp mọi nơi, trong tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, không loại trừ ai và lĩnh vực hải quan cũng không phải ngoại lệ. Tuy nhiên, do đặc trưng của mỗi ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, rủi ro tồn tại dưới những hình thức khác nhau. Trong ngành Hải quan, người ta định nghĩa như sau: Theo quan điểm của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO): rủi ro là sự không tuân thủ pháp luật về hải quan Theo quan điểm của Hải quan My, rủi ro là mức độ không tuân thủ pháp luật làm tổn thất hoặc thiệt hại đến thương mại, công nghiệp hoặc cộng đồng. Hải quan là cơ quan quản lý hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, phương tiện vận tải, hành lý xuất nhập cảnh qua biên giới nhằm bảo vệ an ninh kinh tế của quốc gia, bảo vệ cộng đồng xã hội và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, hợp tác quốc tế dựa trên tính tuân thủ luật pháp về hải quan và các quy định khác có liên quan. Những hành vi tiềm ẩn sự không tuân thủ pháp luật, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan hải quan đều bị coi là vi phạm và phải được ngăn ngừa, hạn chế ở mức cao nhất. 1.1.2. Phân loại rủi ro Có nhiều cách phân loại rủi ro khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, nhưng trong phạm vi đề tài này sẽ chỉ tập trung nghiên cứu cách phân loại theo hậu quả rủi ro. Theo cách phân loại này, rủi ro gồm có rủi ro thuần tuý và rủi ro suy tính. 7 - Rủi ro thuần tuý (Pure risks) được sử dụng để diễn tả các loại bất trắc ẩn chứa nguy cơ tổn thất về kinh tế nếu sự bất trắc đó xảy ra. Rủi ro suy tính (Speculative risks) tồn tại trong đó cả cơ hội kiếm lời và nguy cơ tổn thất, nó hứa hẹn cho người đầu tư một cơ hội kinh doanh sinh lời hoặc bị thua lỗ. Trong lĩnh vực Hải quan, rủi ro được phân thành 3 loại sau: Rủi ro tiềm ẩn: gồm những rủi ro vốn là nguy cơ tiềm ẩn sẵn có như buôn lậu, gian lận thương mại mà cơ quan Hải quan luôn phải đối mặt hàng ngày đang trở nên tinh vi và khó kiểm soát hơn. Rủi ro quy định: là những rủi ro phát sinh từ việc các nhà xuất nhập khẩu lợi dụng sơ hở trong quy định của pháp luật, cố ý làm trái để gian lận thương mại hoặc nhập lậu hàng hoá. Rủi ro phát hiện: là những sai phạm nghiêm trọng của đối tượng quản lý hải quan mà nhân viên hải quan không phát hiện được hoặc những sai phạm của hải quan cấp dưới không được các đoàn kiểm tra cấp trên phát hiện ra. 1.1.3. Mức độ rủi ro Dựa trên ma trận 3x3 về mối quan hệ giữa khả năng và hậu quả rủi ro, Hải quan Việt Nam đã phân cấp mức độ rủi ro như sau: Cao Trung Hậu quả Thấp Cao Rất cao bình Cao Trung bình Khả năng Trung Cao bình Trung Thấp Thấp Rất thấp bình Thấp Trung bình 8  Mức độ rất cao: là những rủi ro có khả năng phá vỡ việc đạt được các mục tiêu lớn của hệ thống, đòi hỏi phải lập kế hoạch quản lý và nghiên cứu chi tiết theo yêu cầu tại các cấp quản lý cao nhất.  Mức độ cao: là những rủi ro có khả năng gây khó khăn đối với việc đạt được các mục tiêu chung, do đó, cần có sự quan tâm, can thiệp kịp thời của ban quản lý cấp cao để giảm thiểu các tổn thất có thể xảy ra.  Mức độ trung bình: là những rủi ro gây ra một số tổn thất, làm gián đoạn hoặc vi phạm quy trình kiểm soát, cần phải phân định rõ trong các trách nhiệm quản lý.  Mức độ thấp: là những rủi ro có thể gây ảnh hưởng đến quá trình quản lý, nhưng không đe doạ đến tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống và cần phải được quản lý bằng các quy trình hàng ngày.  Mức độ rất thấp: những tác động của rủi ro này có thể bỏ qua đối với hệ thống, nên không cần thiết phải tập trung nguồn lực để quản lý chúng. 1.1.4. Một số rủi ro thường gặp trong lĩnh vực Hải quan Không phát hiện được việc vận chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới - Không kê khai đúng, đủ số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước Trình độ cán bộ hải quan không đáp ứng yêu cầu thực tế Thiếu công nghệ và trang bị máy móc phù hợp hỗ trợ cho công việc Không bảo vệ được cộng đồng Cung cấp cho Chính phủ những số liệu thống kê không chính xác Khả năng tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hoá hợp pháp thấp 1.2. Quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan 1.2.1. Khái niệm Theo Hải quan New Zealand định nghĩa: “quản lý rủi ro là việc áp dụng một cách hệ thống các chính sách quản lý, quy trình thủ tục nhằm xác định, phân tích, đánh giá và tiến hành các biện pháp đối phó với rủi ro”. 1.2.2. Lợi ích của hoạt động quản lý rủi ro Giúp tổ chức nhận dạng rủi ro và thực hiện các chương trình ngăn chặn, kiểm soát tổn thất hiệu quả. 9 - Có cơ sở chặt chẽ, minh bạch trong việc lập kế hoạch chiến lược và ra các quyết định quản lý Giảm chi phí phát sinh không cần thiết. Tạo tiền đề thuận lợi cho các khâu nghiệp vụ tiếp theo. Riêng đối với ngành hải quan, quản lý rủi ro là phương pháp quản lý khoa học mang tính logic và hệ thống nhằm: Giảm bớt áp lực về khối lượng công việc, thông qua đánh giá, xác định đối tượng có rủi ro cao, tập trung nguồn lực quản lý. Tạo được sự cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được chủ động hơn trong việc lập kế hoạch kinh doanh và xuất nhập khẩu, tiết kiệm chi phí lưu kho, lưu bãi, giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi thế cạnh tranh và doanh thu. 1.2.3. Quy trình thực hiện quản lý rủi ro 1.2.3.1. Xác lập bối cảnh Đây được coi là bước quan trọng nhất trong quy trình quản lý rủi ro vì nó cung cấp nền tảng hoạt động cho các bước tiếp theo của chu trình và cũng là bước bị nhiều người bỏ sót khi tiến hành quản lý rủi ro, dẫn đến lập kế hoạch quản lý rủi ro thiếu hoàn chỉnh và chính xác. Nhiệm vụ của bước này cần phải xác định mục tiêu quản lý và thiết lập bộ tiêu chí quản lý rủi ro, làm cơ sở để xem xét, đánh giá và triển khai công tác quản lý rủi ro được thống nhất trong toàn hệ thống tổ chức. Thông thường, các tiêu chí rủi ro của ngành hải quan được tập trung vào các yếu tố như thông tin về doanh nghiệp (tình hình tài chính, ý thức chấp hành pháp luật), về hàng hoá xuất nhập khẩu, nước xuất xứ, cách thức mô tả, phương thức thanh toán, phương tiện vận chuyển, thuế suất thuế xuất nhập khẩu... Mỗi tiêu chí được gắn với một điểm số nhất định. Kết quả tổng hợp điểm tương ứng với sự tính toán về quy mô, hậu quả của rủi ro có thể xảy ra. 1.2.3.2. Nhận dạng rủi ro 10 Nhận dạng rủi ro được coi là bước đơn giản nhất trong quy trình quản lý rủi ro nhằm tiên lượng các vấn đề có thể gây ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức, nguyên nhân và cách thức xảy ra. Yêu cầu đối với giai đoạn này là thông tin cập nhật đầy đủ, chính xác, toàn diện. Ngoài ra, cần nhận dạng chính xác các rủi ro mang tính tiêu cực để có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế sự xuất hiện của chúng và tận dụng các yếu tố rủi ro tích cực. Đôi khi, việc không nắm bắt và tận dụng triệt để các cơ hội có thể xem là rủi ro lớn nhất trong các loại rủi ro. 1.2.3.3. Phân tích rủi ro Mục đích chính của giai đoạn này là nhằm phân tích sâu hơn các rủi ro đã được nhận dạng dựa trên mối quan hệ giữa khả năng và hậu quả rủi ro, tạm thời phân cấp rủi ro theo 2 nhóm: rủi ro chấp nhận được hay không để có các giải pháp xử lý rủi ro kịp thời. 1.2.3.4. Đánh giá rủi ro Bằng các công cụ phân tích tỷ số, phân tích chuỗi thời gian, phân tích hồi quy, phân tích tương quan... để tìm biến động chung, các yếu tố bất thường, từ đó dự báo xu hướng, ước lượng tổn thất và tính toán điểm số giả định cho từng tiêu chí rủi ro. Điểm số rủi ro của đối tượng kiểm tra càng cao, rủi ro được đánh giá cao theo tỷ lệ thuận và có các biện pháp kiểm soát, xử lý phù hợp. Sử dụng bộ tiêu chí đồng bộ để đánh giá toàn diện, các giá trị của rủi ro không chỉ mang tính định tính, mà còn định lượng được. Rủi ro được so sánh dễ dàng, khách quan và khoa học hơn, chứ không phải chỉ nhìn nhận bằng sự phán đoán chủ quan của người phân tích. 1.2.3.5. Kiểm soát và xử lý rủi ro Nguyên tắc vận dụng phương pháp kiểm soát rủi ro dựa trên sự cân bằng giữa lợi ích và hiệu quả của chi phí rủi ro và được áp dụng chung cho tất cả các loại rủi ro, chứ không chỉ giới hạn với rủi ro thuần tuý. Tuỳ theo mỗi cơ cấu tổ chức, lĩnh vực hoạt động, các nhà quản trị rủi ro có những công cụ và ky thuật 11 kiểm soát và xử lý rủi ro khác nhau như né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro, chuyển giao rủi ro, quản trị thông tin... 1.2.3.6. Theo dõi và đánh giá kết quả Bước cuối cùng rất quan trọng trong quy trình quản lý rủi ro là theo dõi và đánh giá kết quả bởi đây là động tác cần thiết nhằm xem xét tính hiệu quả và lợi ích do quản lý rủi ro mang lại, rà soát lại toàn bộ quy trình, đánh giá, so sánh hiệu quả và mục đích ban đầu đề ra với kết quả xử lý rủi ro, từ đó, rút ra bài học và tìm giải pháp hoàn thiện quy trình. Chức năng này cần được thực hiện liên tục, gắn liền với từng bước trong quy trình quản lý rủi ro và quán triệt đến từng cấp quản lý rủi ro cụ thể. 1.3. Kinh nghiệm của Hải quan các nước về hệ thống quản lý rủi ro 1.3.1. Kinh nghiệm của Italia Hải quan Italia được thành lập từ năm 1859 và là tổ chức hải quan có bề dày truyền thống nhất Châu Âu. Hải quan Italia đã xây dựng và triển khai thành công hệ thống tự động hoá hải quan trên cơ sở tái thiết kế quy trình nghiệp vụ và các hoạt động liên quan khác theo hướng đơn giản và tuân theo các chuẩn mực của Công ước Kyoto sửa đổi của WCO. Việc tái thiết kế quy trình được thực hiện trên nền tảng cơ chế một cửa/một điểm dừng với việc xử lý kiểm tra theo ky thuật QLRR (có sự lồng ghép các quy trình và thống nhất các hoạt động kiểm tra, kiểm soát với sự tham gia của các lực lượng chức năng khác tại cửa khẩu). Về áp dụng QLRR, Hải quan Italia đang áp dụng bộ tiêu chí của EU để ra quyết định xử lý khai báo và thông quan. Tuy nhiên, quan hệ giữa bộ tiêu chí quốc gia và bộ tiêu chí của EU còn có khoảng cách cần được san lấp do những đặc thù giữa quốc gia và khối. Thực tế, 28 nước thuộc EU đều áp dụng bộ tiêu chí QLRR chung, nhưng việc triển khai lại khác nhau với những mức độ khác nhau. Là quốc gia có đường biên giới biển dài ở Châu Âu, Hải quan Italia đã được đầu tư thích đáng về phương tiện kiểm soát cảng biển và kiểm tra hàng hoá vận chuyển đường biển. Hiện Hải quan Italia có 28 máy soi container (nhiều nhất so 12 với các cơ quan Hải quan trong khối EU) được bố trí tại hầu hết cảng biển của nước này. 1.3.2. Kinh nghiệm của My Hải quan My là cơ quan duy nhất và thống nhất quản lý biên giới, cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới My (CBP) có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ an ninh nước My và người dân My. Cơ quan này đã đưa ra Sáng kiến An ninh Container (CSI) để giải quyết những mối đe doạ an ninh biên giới và thương mại toàn cầu do các phần tử khủng bố có khả năng sử dụng các Container vận chuyển bằng đường biển để mua bán vũ khí. CSI đề xuất một cơ chế an ninh đảm bảo tất cả các Container có tiềm ẩn rủi ro phải được nhận diện và kiểm tra tại các cảng xuất ở nước ngoài trước khi chúng được chất lên tàu để tới My. CBP đã đặt các đội quân tinh nhuệ lấy từ CBP và lực lượng kiểm soát Hải quan và Nhập cư để phối hợp làm việc với các cộng sự người nước sở tại. Nhiệm vụ của họ là xác định, kiểm tra trước và chỉ đạo các biện pháp nghiệp vụ để điều tra những lô hàng có tiềm ẩn rủi ro sẽ tới My. Ba thành phần chính của CSI là: (i) nhận diện các container có độ rủi ro cao. CBP sử dụng các công cụ xác định trọng điểm tự động để nhận diện các nguy cơ khủng bố trên cơ sở thông tin trước và thông tin tình báo chiến lược; (ii) đánh giá và kiểm tra các container trước khi chúng được vận chuyển. Các container cần được kiểm tra trong chuỗi cung ứng thương mại quốc tế sớm nhất có thể, nói chung là tại cảng xuất; (ii) sử dụng công nghệ để kiểm tra trước các Container có độ rủi ro cao nhằm đảm bảo rằng, việc kiểm tra được tiến hành nhanh chóng, không gây cản trở cho dòng chảy thương mại. Công nghệ này bao gồm các máy soi Container lớn bằng tia X, tia gamma và các thiết bị phát hiện phóng xạ. Thông qua CSI, cán bộ của CBP làm việc với cơ quan Hải quan nước chủ nhà để thiết lập các tiêu chí an ninh xác định các container có độ rủi ro cao. Các cơ quan này sử dụng công nghệ kiểm tra không phá mẫu (NII) và các thiết bị phát 13 hiện phóng xạ để soi các Container tiềm ẩn nguy cơ cao trước khi chúng được xếp lên tàu để đến các cảng của My. Hiện CSI đang được triển khai tại 58 cảng biển nước ngoài ở Bắc My, châu Âu, châu Á, châu Phi, Trung Đông, châu My Latinh và Trung My. Tổng cộng có 35 cơ quan Hải quan cam kết tham gia chương trình này. Xấp xỉ 86% hàng hoá trong các container vận chuyển bằng đường biển xuất sang My được soi chiếu trước khi vào My. CSI tiếp tục mở rộng các vị trí chiến lược trên toàn thế giới. Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), Liên minh châu Âu (EU) và Nhóm G8 đã ủng hộ việc mở rộng CSI và đã thông qua các nghị quyết thực hiện những biện pháp an ninh của CSI áp dụng tại các cảng biển trên thế giới. Để mở rộng CSI, các cảng biển nước ngoài phải đáp ứng được các tiêu chuẩn tối thiểu như sau: - Cảng biển phải thường xuyên có khối lượng lớn các container vận chuyển trực tiếp tới các cảng của My. - Cán bộ hải quan nước sở tại phải có khả năng kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, hàng quá cảnh các cảng biển của nước mình. - Cảng biển phải được trang bị và sử dụng các thiết bị kiểm tra không phá mẫu (NII) (bằng tia X hoặc gamma) và các thiết bị phát hiện phóng xạ. - Cảng biển phải có hệ thống QLRR tự động. - Cán bộ hải quan nước sở tại phải chia sẻ dữ liệu, thông tin tình báo và thông tin QLRR với CBP - Cảng biển phải tiến hành đánh giá ky cơ sở hạ tầng và cam kết giải quyết những vấn đề tồn đọng về hạ tầng. - Cảng biến phải duy trì các chương trình liêm chính, xác định và kiên quyết đấu tranh chống lại những hành vi vị phạm liêm chính. 14 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH THỦ TỤC HẢI QUAN CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 2.1. Chủ trương, chính sách của Nhà nước và các biện pháp của ngành Hải quan trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống quản lý rủi ro 2.1.1. Chủ trương, chính sách của Nhà nước 2.1.2. Những điều kiện cần thiết để Hải quan Việt Nam áp dụng hệ thống quản lý rủi ro. 2.1.2.1. Hệ thống khuôn khổ pháp lý Là cơ quan thực thi pháp luật, với nền tảng là Luật Hải quan ban hành năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2005 với các điều khoản số 29, điều 30, điều 32; Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/06/2005, các Nghị định, Thông tư, Quyết định và các văn bản hướng dẫn dưới Luật khác có liên quan, chính thức cho phép Hải quan Việt Nam áp dụng quy trình quản lý rủi ro, coi đó như một phương pháp quản lý hiện đại cần thiết của cơ quan hải quan. 2.1.2.2. Quy trình thủ tục hải quan Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Hải quan (2005) được ban hành, cùng với Quyết định số 2148/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về “Quy chế áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại”, quản lý rủi ro chính thức được công nhận là công cụ quản lý của Hải quan Việt Nam kể từ ngày 01/01/2006. 2.1.2.3. Hoạt động kiểm tra sau thông quan Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan được hình thành từ năm 2002. Sau 4 năm triển khai đã chứng tỏ tính hiệu quả và là nghiệp vụ không thể thiếu khi tiến hành hiện đại hoá ngành hải quan, là nhân tố cốt yếu trong quy trình quản lý rủi ro/ Từ tháng 6/2006, mô hình kiểm tra sau thông quan có sự thay đổi với Cục kiểm tra sau thông quan được tổ chức quản lý theo hướng chuyên sâu, tham mưu cho lãnh đạo Tổng cục về hoạch định chính sách, chỉ đạo xây dựng chiến lược và nâng cấp quản lý phòng kiểm tra sau thông quan tại các địa phương thành Chi cục 15 kiểm tra sau thông quan, nhằm đảm bảo đúng bản chất về tổ chức, nhiệm vụ chức năng, tạo thuận lợi và hiệu quả cao, nâng cao tính chủ động cho các đơn vị này. 2.1.2.4. Nguồn nhân lực Tổng cục Hải quan luôn chú trọng đầu tư đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thường xuyên tổ chức tuyển dụng mới nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức năng động, sáng tạo trong thời đại mới. Do đó, số lượng và chất lượng cán bộ công chức hải quan đã tăng lên nhiều qua thời gian. 2.1.2.5. Cơ sở vật chất Được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới trong dự án Hiện đại hoá Hải quan, Tổng cục Hải quan đã tiến hành trang bị thêm các phương tiện, thiết bị hiện đại như hệ thống máy vi tính đồng bộ có nối mạng internet, các thiết bị giám sát hàng hiện đại, phục vụ công tác kiểm soát, thay thế dần các trang thiết bị, phương tiện làm việc cũ, giảm thao tác thủ công, tiết kiệm thời gian, sức lao động với kết quả kiểm tra chính xác, kiểm soát hiệu quả. 2.1.2.6. Hệ thống công nghệ thông tin Hiện nay, phần lớn các Cục và Chi cục hải quan địa phương đều đã được trang bị hệ thống máy tính hiện đại có mạng kết nối khu vực diện rộng (WAN) để kết nối với cơ quan Tổng cục Hải quan. Một số chương trình phần mềm ứng dụng nghiệp vụ đa chức năng được triển khai trên toàn quốc đã phát huy hiệu quả, đơn giản hoá thao tác nghiệp vụ, là cơ sở để tiến tới thực hiện thông quan điện tử trên toàn quốc 2.2. Khái quát thực trạng tiến hành hệ thống quản lý rủi ro của ngành Hải quan Việt Nam 2.2.1. Quá trình tiếp cận quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam Trước năm 1997, khái niệm quản lý rủi ro nói chung còn rất xa lạ không chỉ với các công chức trong nhành mà cả với cá nhân, tổ chức có liên quan. Trong giai đoạn 1997 – 2001, với chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài, yêu cầu đơn giản hoá thủ tục hải quan ngày càng trở nên cấp thiết, Hải quan Việt Nam đã áp dụng phân luồng hành khách tại các cửa khẩu sân bay quốc tế thành 3 nhóm: 16 luồng xanh, luồng vàng và luồng đỏ, nhưng chỉ mang tính chất sao chép thuần tuý, tự phát và ở mức sơ khai, chưa thể hiện được các nguyên tắc quản lý rủi ro. Trong Luật Hải quan (2001) cũng đã quy định về hình thức, căn cứ để tiến hành kiểm tra thực tế hàng hoá, nhưng chưa chính thức công nhận phương pháp quản lý rủi ro mà phải đến khi Luật hải quan sửa đổi năm 2005, đặc biệt với Quyết định số 2148/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2005 đã bổ sung, cụ thể hoá Luật Hải quan, tạo cơ sở để ngành Hải quan áp dụng quy trình quản lý rủi ro – công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý – kể từ ngày 01/01/2006. Điểm nhấn trong công tác QLRR năm 2011, đó là ngày 7-6-2011, Bộ trưởng Bộ Tài chính kí Quyết định số 1402/QĐ-BTC về việc thành lập Ban QLRR Hải quan. Theo đó, Ban QLRR Hải quan có nhiệm vụ phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ của TCHQ xây dựng mô hình tổ chức QLRR độc lập trực thuộc TCHQ để Tổng cục trưởng TCHQ báo cáo Bộ Tài chính trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan và theo quy định của pháp luật… Với vai trò là đơn vị thu thập, xử lý thông tin QLRR trực thuộc Tổng cục Hải quan, Ban QLRR đã bắt tay vào xây dựng Chiến lược phát triển QLRR giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020; trong đó, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác QLRR có đủ năng lực, chuyên sâu về nghiệp vụ là nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu. Một mặt, chú trọng xây dựng, phát triển và tổ chức áp dụng QLRR toàn diện, chuyên sâu trong các khâu hoạt động nghiệp vụ hải quan trên cơ sở phù hợp với các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế về QLRR và thực tiễn hoạt động của ngành Hải quan. Mặt khác, tiến tới hoàn thiện hành lang pháp lý về thu thập, xử lý thông tin và QLRR, kiện toàn hệ thống đơn vị chuyên trách QLRR theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu về nghiệp vụ. Từ đó, đảm bảo các yêu cầu về số lượng, chất lượng và có năng lực trình độ chuyên sâu nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cụ thể, luật hóa 17 các quy định có tính nguyên tắc về thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan và QLRR. Xây dựng hệ thống đơn vị chuyên trách QLRR theo 3 cấp (Tổng cục, cục và cấp chi cục) theo hướng chuyên nghiệp và chuyên sâu về nghiệp vụ, với tổng số khoảng 800 CBCC làm công tác này (hiện nay khoảng trên 600). Trong số này có trên 70% CBCC đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ, chủ động và độc lập thực hiện nhiệm vụ công tác được giao. Cùng với đó, xây dựng, nâng cấp, phát triển hệ thống thông tin hải quan và thông tin nghiệp vụ hải quan đảm bảo cập nhật, chia sẻ, trao đổi cung cấp thông tin trong và ngoài Ngành, đáp ứng cơ bản các yêu cầu nghiệp vụ của ngành Hải quan. Phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tích hợp và xử lý dữ liệu tự động; nâng cấp kết cấu hạ tầng mạng đảm bảo việc đồng bộ hóa dữ liệu và thông suốt hệ thống; tiếp nhận, tổ chức triển khai Hệ thống Thông tin tình báo (VCIS) trong khuôn khổ dự án hợp tác hỗ trợ xây dựng Hệ thống thông quan tự động và Hải quan một cửa (VNACCS) do Chính phủ Nhật Bản cam kết tài trợ. Xây dựng và triển khai cơ chế phối hợp trao đổi thông tin với các bộ, ngành và các tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về trao đổi thông tin nghiệp vụ hải quan, trao đổi chỉ số đánh giá rủi ro, đặc biệt đối với Hải quan của các nền kinh tế có tác động ảnh hưởng lớn với Việt Nam như: My, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước EU và các nước ASEAN nhằm hướng đến phục vụ cho các yêu cầu cải cách, hiện đại hóa hải quan (như: Hải quan một cửa ASEAN). Ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá rủi ro và kiểm tra hải quan giữa Việt Nam và các quốc gia; hợp tác trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu… 2.2.2. Phân cấp quản lý rủi ro Ở Việt Nam, quản lý rủi ro được phân thành 3 cấp thực hiện, cụ thể như sau: 2.2.2.1. Quản lý rủi ro cấp chiến lược (được thực hiện ở cơ quan Tổng cục hải quan) 18 Cơ quan Tổng cụ Hải quan phải đảm bảo sự thống nhất trong toàn ngành về xây dựng, ban hành, sửa đổi bổ sung bộ tiêu chí quản lý rủi ro; ban hành các quy định hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro; xây dựng, thu thập, cập nhật, quản lý, vận hành và kiểm soát bảo mật hệ thống thông tin nghiệp vụ hải quan và cơ sở dữ liệu quản lý rủi ro theo phân cấp; phối hợp với các cơ quan trong và ngoài nước có liên quan để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ hải quan phục vụ quản lý rủi ro; và xây dựng hệ thống tổ chức, đào tạo nguồn nhân lực. 2.2.2.2. Quản lý rủi ro cấp hoạch định triển khai (được thực hiện ở các Cục hải quan địa phương) Là cơ quan trung gian trong phân cấp quản lý rủi ro, Cục hải quan địa phương có nhiệm vụ kết hợp thông tin, dữ liệu thu thập được cung cấp bởi Tổng cục Hải quan, với thông tin thu thập dựa vào tình hình thực tế trên địa bàn quản lý, cung cấp cơ sở dữ liệu thông tin một cách đầy đủ nhất, phục vụ các chi cục hải quan cửa khẩu trong việc phân định mức độ rủi ro và quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá. 2.2.2.3. Quản lý rủi ro cấp chiến thuật (được thực hiện tại các Chi cục hải quan, điểm thông quan nội địa và bởi các cán bộ hải quan làm nhiệm vụ trực tiếp tại hiện trường) Căn cứ vào tình hình thực tế và các thông tin trong hệ thống cơ sở dữ liệu được cung cấp, các đơn vị chủ động triển khai lực lượng, trang thiết bị vật chất, bố trí công việc để đạt được hiệu quả cao nhất và báo cáo ngay Cục Hải quan cấp chủ quản, khi phát hiện thêm các yếu tố rủi ro mới để cập nhật, bổ sung dữ liệu thông tin, làm cơ sở xác định rủi ro cho các lô hàng tiếp theo. 2.2.3. Quy trình thực hiện quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam Quy trình quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam được áp dụng từ ngày 01/01/2006 gồm 4 bước như sau: 2.2.3.1. Thiết lập bộ tiêu chí quản lý rủi ro Tổng cục Hải quan xây dựng bộ tiêu chí rủi ro của mình gồm 76 tiêu chí, chia thành 6 nhóm chính như sau: 19 - Nhóm tiêu chí ưu tiên: gồm 6 tiêu chí, tập trung ưu tiên các doanh nghiệp có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, số thuế thu nộp ngân sách nhà nước hàng năm cao và có ý thức tốt về chấp hành pháp luật hải quan. Các doanh nghiệp thoả mãn sẽ được hưởng tiêu chuẩn ưu tiên theo quy định. Nhóm tiêu chí đánh giá, phân loại doanh nghiệp: gồm 46 tiêu chí Nhóm tiêu chí phân loại hàng hoá: gồm 11 tiêu chí Nhóm tiêu chí phân loại xuất xứ: gồm 3 tiêu chí Nhóm tiêu chí phân loại hình thức thanh toán: gồm 4 tiêu chí Nhóm tiêu chí đánh giá loại hình xuất nhập khẩu: gồm 6 tiêu chí Mỗi tiêu chí trong bộ tiêu chí rủi ro trên ứng với một mức điểm rủi ro nhất định nhằm đánh giá rủi ro của doanh nghiệp và lô hàng xuất nhập khẩu. Tương ứng với mỗi mức độ rủi ro được đánh giá có hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá thích hợp. Ngoài ra, để phân tích rủi ro được chính xác, Tổng cục Hải quan đã phân loại Bộ tiêu chí quản lý rủi ro của mình thành các tiêu chí rủi ro động, tiêu chí rủi ro tĩnh để kiểm tra: Tiêu chí động (Dynamic parameters): là những tiêu chí có tính chất biến động theo thời gian và được thu thập dựa trên các thông tin trinh sát, thông tin về doanh nghiệp, hàng hoá có khả năng và mức độ rủi ro cao và phải kiểm tra hải quan. - Tiêu chí tĩnh (Fixed parameters): là các tiêu chí có tính chất ổn định trong khoảng thời gian nhất định. Tiêu chí này xác định khả năng và mức độ rủi ro bằng cách áp dụng các phương pháp tính toán dựa trên cơ sở thông tin do cơ quan hải quan thu thập, phân tích. 2.2.3.2. Phân tích và xác định mức độ rủi ro Dựa trên công cụ phân tích, ước lượng mức độ rủi ro của từng tiêu chí rủi ro động và tiêu chí rủi ro tĩnh với các thang điểm cụ thể đã được xây dựng trước, kết quả tính toán tương ứng mức độ rủi ro tổng thể. Tuỳ thuộc mức điểm rủi ro cao, trung bình hay thấp mà hàng hoá được xếp tương ứng với các luồng hàng: luồng đỏ, luồng vàng, luồng xanh. 2.2.3.3. Xử lý rủi ro 20
- Xem thêm -