Tài liệu Hệ thống hóa văn bản pháp luật hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa thương mại

  • Số trang: 109 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 52 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1 2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2 3. Nội dung và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 2 4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3 5. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 3 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG HOÁ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI................. 4 1.1. Hệ thống hoá pháp luật .......................................................................... 4 1.1.1. Khái niệm hệ thống hoá pháp luật ......................................................... 4 1.1.2. Hình thức thực hiện hệ thống hoá pháp luật .......................................... 5 1.1.3. Chủ thể và trình tự thực hiện hệ thống hoá pháp luật ............................ 8 1.1.4. Mục đích, ý nghĩa của công tác hệ thống hoá pháp luật ..................... 12 1.2. Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ................................................................................... 15 1.2.1. Khái niệm chung về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ........................................................... 15 1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ......................................... 21 1.2.3. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ......................................... 26 Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI ......................................................................... 34 2.1. Một số chế định pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ...................................................... 34 2.1.1. Chế định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá ........ 35 2.1.2. Chế định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan ............. 38 2.1.3. Chế định về trách nhiệm của hải quan trong việc phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới ....................... 44 2.1.4 Chế định về tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu .............................................................................. 48 2.1.5. Chế định về xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại .................................................................... 54 2.2. Đánh giá về thực trạng văn bản pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ...................................................... 61 2.2.1. Đánh giá tổng quan về giá trị, hiệu quả của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ............... 61 2.2.2. Một số nội dung bất cập cụ thể đang tồn tại trong pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại .................................... 66 Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CÔNG TÁC HỆ THỐNG HOÁ VĂN BẢN PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA THƯƠNG MẠI ..................... 71 3.1. Sự cần thiết của việc hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá ............................. 71 3.1.1. Hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước .................................. 72 3.1.2. Hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân, tổ chức thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ....... 75 3.2. Thực trạng công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại thời gian qua và định hướng trong thời gian tới ..................................... 77 3.2.1. Thực trạng công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại thời gian qua ........... 77 3.2.2. Định hướng công tác hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại trong thời gian tới .................... 88 3.3. Những giải pháp hệ thống hóa văn bản pháp luật hải quan về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa thương mại ........................... 92 3.3.1. Đối với công tác tập hợp hóa ................................................................ 92 3.3.2. Đối với công tác pháp điển hóa ............................................................ 94 KẾT LUẬN .................................................................................................. 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 103 LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là một hoạt động quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia. Mặc dù chỉ mới có sự chuyển biến rõ nét từ sau thời kỳ đổi mới, nhất là khi Luật Hải quan năm 2001 được ban hành, nhưng hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ở nước ta đã có sự phát triển mạnh mẽ. Từ thực tiễn này đã kéo theo nhu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để một mặt có thể hỗ trợ Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý xuất, nhập khẩu, mặt khác có thể thiết lập môi trường pháp lý minh bạch, thông thoáng nhằm hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp có thể thực hiện có hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Tuy nhiên, do hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ở nước ta chỉ mới phát triển trong một thời gian ngắn, thực tiễn lại luôn có những chuyển biến phức tạp nên đòi hỏi Nhà nước phải liên tục ban hành các văn bản pháp luật nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu quản lý về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại. Chính điều này đã tạo nên một khối lượng văn bản pháp luật đồ sộ, gây khó khăn cho công tác tra cứu và áp dụng pháp luật. Mặt khác, do trình độ lập pháp còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm quản lý về xuất, nhập khẩu chưa nhiều nên không thể tránh khỏi tình trạng cùng lúc tồn tại nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu tính khả thi. Xuất phát từ thực trạng đó, đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp hiệu quả để tiến hành tập hợp, rà soát và đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, nhằm kịp thời khắc phục những hạn chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và cán bộ, công chức ngành hải quan có thể dễ dàng tiếp cận, tra 1 cứu và áp dụng pháp luật. Và hệ thống hoá pháp luật chính là một biện pháp hiệu quả có thể đáp ứng các yêu cầu đó. Mặc dù vậy, theo nhận thức của bản thân, hiện nay chưa có bất kỳ đề tài nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống hoá pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại được thực hiện, mà chỉ mới dừng lại ở các bài viết, tham luận về công tác hệ thống hoá pháp luật nói chung. Nhận thức được tầm quan trọng, và với nguyện vọng được nghiên cứu sâu hơn, nhằm góp phần tạo lập cơ sở lý luận cho công tác “Hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan về xuất nhập khẩu hàng hoá thương mại”, tôi xin phép mạo muội chọn đây là đề tài nghiên cứu cho Luận văn này. 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài hướng tới các mục đích nghiên cứu chính sau đây: * Tìm hiểu các một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác hệ thống hoá pháp luật; về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại. * Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại. * Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan. 3. Nội dung và phạm vi nghiên cứu Luận văn chủ yếu tập trung đi sâu vào phân tích thực trạng của hệ thống văn bản pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại; thực trạng tiến hành công tác hệ thống hoá pháp luật trong lĩnh vực hải quan, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hệ thống hoá pháp luật về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại. 2 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích đánh giá, phương pháp đối chiếu so sánh, … dựa trên những tài liệu, thông tin có được từ các công trình nghiên cứu, các tác phẩm của các tác giả và từ những nhận thức, đánh giá của bản thân. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương chính: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hệ thống hoá pháp luật và Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại. Chương 2: Thực trạng văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều song do hạn chế về thời gian và trình độ, nên luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế và không tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu từ quý Thầy, Cô. 3 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG HOÁ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI 1.1. Hệ thống hoá pháp luật 1.1.1. Khái niệm hệ thống hoá pháp luật Trong khoa học pháp lý, hệ thống hoá pháp luật được hiểu là hoạt động hệ thống, sắp xếp, chỉnh lý, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu và áp dụng pháp luật. Đồng thời thông qua công tác hệ thống hoá pháp luật cũng cho phép các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có được sự nhìn nhận, đánh giá tổng quát về thực trạng hệ thống pháp luật hiện hành, kịp thời phát hiện những quy định không phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu tính khả thi của hệ thống pháp luật nhằm tiến tới mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật. Từ khái niệm này đã thể hiện khá rõ nét đặc điểm của công tác hệ thống hoá pháp luật không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tập hợp, sắp xếp cơ học các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn là một hoạt động trí tuệ thông qua việc đối chiếu, so sánh, chỉnh lý, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đây là một công việc vô cùng phức tạp, đặc biệt là ở Việt Nam, với một khối lượng văn bản quy phạm pháp luật đồ sộ; với trình độ lập pháp, lập quy còn nhiều hạn chế dẫn đến thực trạng tồn tại nhiều mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật diễn ra khá phổ biến. Thực trạng này đòi hỏi công tác hệ thống hoá pháp luật phải được thực hiện cẩn trọng và có thể mất rất nhiều thời gian. Kinh nghiệm thực hiện công tác hệ thống hoá pháp luật ở Hoa Kỳ và một số quốc gia Châu Âu cho thấy để hoàn thành một bộ pháp điển quốc gia thông thường phải mất từ vài năm đến vài chục năm. Cá biệt như Hoa Kỳ, 4 sau hơn 85 năm thực hiện bộ pháp điển quốc gia (US.code), chỉ mới có 26 trong tổng số 50 chủ đề được chính thức hoá 1. Điều này đã phần nào nói lên tính chất phức tạp của công tác pháp điển hoá nói riêng và hệ thống hoá pháp luật nói chung. Ở Việt Nam, thực tiễn đã chứng minh công tác hệ thống hoá pháp luật đã được thực hiện từ rất lâu, chứ không chỉ mới phát sinh trong nền pháp lý hiện đại. Sự ra đời của các bộ luật Hình Thư (triều Lý), Hồng Đức (triều hậu Lê) và Gia Long (Hoàng Việt Luật Lệ, triều Nguyễn) đều được đánh giá là có sự tham chiếu, tiếp thu và chỉnh sửa, bổ sung các quy định pháp luật trước đó, mà một phần quan trọng là pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Hoa 2. Điều này đã thể hiện rất rõ công tác hệ thống hoá pháp luật ở nước ta đã hình thành, phát triển rất sớm và song hành cùng công tác lập pháp từ các triều đại phong kiến cho đến thời điểm hiện tại. Do ảnh hưởng của các yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,… và trình độ pháp lý của mỗi thời kỳ, nhất là ý chí của nhà cầm quyền mà công tác hệ thống hoá pháp luật có thể được thực hiện theo những định hướng khác nhau. Tuy nhiên, suy cho cùng thì công tác hệ thống hoá pháp luật, dù được thực hiện dưới hình thức nào, ở bất kỳ thời điểm nào, cũng nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, dẫn dắt các quan hệ xã hội diễn biến theo ý chí của Nhà nước. Đây cũng là một biểu hiện của bản chất giai cấp – một bản chất cố hữu của pháp luật. 1.1.2. Hình thức thực hiện hệ thống hoá pháp luật Ở Việt Nam, công tác hệ thống hoá pháp luật được thực hiện chủ yếu thông qua hai hình thức: tập hợp hoá và pháp điển hoá. Cả hai hình thức đều là những hoạt động phức tạp, tỉ mỉ và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tập hợp hoá: là hoạt động sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật 5 hoặc các quy phạm pháp luật riêng biệt theo một trật tự nhất định, có thể theo trình tự thời gian ban hành, theo vần chữ cái hoặc theo từng vấn đề, thậm chí theo một trật tự khác tuỳ thuộc vào chủ thể tiến hành tập hợp 3 (ví dụ tập “Hệ thống hoá luật lệ hình sự”, tập “Hệ thống hoá luật lệ dân sự” do Toà án nhân dân Tối cao thực hiện trước đây). Hoạt động này không làm thay đổi nội dung văn bản pháp luật, không bổ sung những quy định mới mà chỉ nhằm loại bỏ các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực. Do vậy, hình thức tập hợp hoá chưa giải quyết được vấn đề chỉnh sửa và loại bỏ những quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản quy phạm pháp luật cấp trên, cũng như chưa trực tiếp đóng góp vào quá trình chỉnh lý và hoàn thiện pháp luật, mà chỉ mới dừng lại ở việc tạo điều kiện thuận lợi để phục vụ công tác tra cứu và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp điển hoá: là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trong đó, không những chỉ tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏ các quy phạm pháp luật lỗi thời, mâu thuẫn hoặc chồng chéo, mà còn bổ sung các quy phạm pháp luật mới để thay thế cho các quy phạm pháp luật đã bị loại bỏ, khắc phục những lỗ hổng đã được phát hiện, nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu lực pháp lý của chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội 4. Từ khái niệm trên, ta thấy công tác pháp điển hoá được thực hiện qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1: sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật hay các quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định tuỳ theo mục đích của chủ thể thực hiện. Giai đoạn 2: rà soát, đối chiếu, so sánh giữa các quy phạm phạm pháp luật nhằm tìm ra sự khác biệt, mẫu thuẫn giữa quy phạm cấp dưới và quy phạm cấp trên; phát hiện những quy định pháp luật không còn phù hợp hoặc 6 thiếu tính khả thi hoặc những lỗ hổng pháp lý do thiếu sót những quy phạm pháp luật điều chỉnh đối với một, một số quan hệ xã hội nhất định, nhất là những quan hệ xã hội mới phát sinh. Giai đoạn 3: sửa đổi, bổ sung các thiếu sót đã được phát hiện, nhằm đảm bảo xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo tính thống nhất, minh bạch, hiểu quả và khả thi. Như vậy, pháp điển hoá là hình thức phức tạp hơn rất nhiều so với công tác tập hợp hoá. Nếu tập hợp hoá chỉ đơn thuần là việc sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật một cách có hệ thống, theo một trật tự nhất định thì đặc trưng của pháp điển hoá thể hiện ở việc chỉnh lý, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Kết quả của công tác pháp điển hoá có thể cho ra đời một văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm hoàn thiện và thay thế cho các quy phạm pháp luật về cùng một lĩnh vực, một vấn đề mà trước đó được quy định rải rác trong nhiều văn bản, ở nhiều cấp độ khác nhau. Chính vì vậy, pháp điển hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật. Trong khoa học pháp lý, pháp điển hóa được phân chia thành hai hình thức: pháp điển hóa về mặt nội dung và pháp điển hóa về mặt hình thức. Pháp điển hóa về mặt nội dung: (hay còn được gọi theo các cách gọi khác nhau như: pháp điển hóa lập pháp, pháp điển hóa truyền thống, pháp điển hóa có tạo ra quy phạm mới,…) là việc xây dựng, soạn thảo một văn bản pháp luật mới trên cơ sở hệ thống, tập hợp, rà soát, sắp xếp các quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vào văn bản đó với sự sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Việc xây dựng các bộ luật của nước ta như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động,… đều được thực hiện theo hình thức pháp điển này. Cách thức pháp điển này giống như hoạt động lập pháp thông thường. 7 Pháp điển hóa về mặt hình thức: (còn được gọi là pháp điển hóa không làm thay đổi nội dung văn bản) là cách thức tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại nhiều văn bản khác nhau thành Bộ pháp điển theo từng chủ đề và theo một trật tự nhất định, với bố cục logic, phù hợp, có thể kèm theo những sửa đổi, điều chỉnh cần thiết nhằm làm cho các quy định này phù hợp với nhau. Về nguyên tắc, quá trình sửa đổi, điều chỉnh trong hoạt động pháp điển hóa hình thức chỉ nhằm mục đích tạo nên sự hài hòa giữa các quy định, đảm bảo trật tự của Bộ pháp điển mà không nhằm tới mục đích tạo ra những chính sách, văn bản quy phạm pháp luật mới và các quy định pháp luật đang có hiệu lực được tôn trọng tối đa. Ở nước ta, công tác pháp điển hóa hình thức chưa được chính thức thực hiện. Tuy nhiên, ngày 16 tháng 4 năm 2012 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (có hiệu từ ngày 01 tháng 7 năm 2012), đây là cơ sở pháp lý để chúng ta tiến hành xây dựng Bộ pháp điển trong thời gian tới. 1.1.3. Chủ thể và trình tự thực hiện hệ thống hoá pháp luật Xuất phát từ bản chất và đặc điểm khác nhau của mỗi hình thức hệ thống hoá pháp luật dẫn đến chủ thể thực hiện cũng có sự khác nhau. Vì tính chất đơn giản hơn và mục đích chỉ đơn thuần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mà chủ thể thực hiện công tác tập hợp hoá rất đa dạng, có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc thậm chí có thể là cá nhân. Trình tự thực hiện tập hợp hoá cũng không bị ràng buộc bởi bất kỳ một quy định pháp lý nào, ngoại trừ nguyên tắc chủ thể tập hợp hoá phải đảm bảo tính chính xác tuyệt đối của nội dung các văn bản quy phạm pháp luật. Tuỳ thuộc vào mục đích của chủ thể thực hiện mà phạm vi và cách thức thực hiện tập hợp hoá cũng khác nhau, có thể là tập hợp theo trình tự thời gian ban hành, theo cấp độ hiệu lực, theo từng chủ đề nhất định hoặc theo bất kỳ 8 một cách thức nào khác. Ở Việt Nam hiện nay, công tác tập hợp hoá diễn ra khá phổ biến, không chỉ dừng lại ở các cơ quan Nhà nước, các cơ sở đào tạo pháp luật, các luật gia, mà còn được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu tìm hiểu pháp luật phục vụ mục đích kinh doanh của chính họ. Điều này thể hiện nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của pháp luật trong hoạt động kinh doanh đã được nâng cao, đây là một tín hiệu đáng mừng khi nền kinh tế Việt Nam đang dần vận hành theo cơ chế thì trường thì việc nắm bắt kịp thời và áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật là điều hết sức cần thiết và quan trọng. Ngược lại do tính chất phức tạp và mục đích của pháp điển hoá là chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện pháp luật nên chủ thể thực hiện pháp điển hoá chỉ có thể là cơ quan Nhà nước, và phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay, hành lang pháp lý cho việc pháp điển hoá vẫn còn nhiều hạn chế, văn bản pháp luật cao nhất điều chỉnh vấn đề này là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khoá 12 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2008 và Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội khoá 13 thông qua ngày 16 tháng 4 năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Tại Điều 4 Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật đã quy định thẩm quyền thực hiện pháp điển như sau:  Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của mình.  Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật 9 trong văn bản pháp luật do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của mình.  Văn phòng Quốc hội thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành điều chỉnh những vấn đề không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của các cơ quan Nhà nước nêu tại các mục trên.  Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch nước ban hành không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của các cơ quan Nhà nước nêu tại các mục trên. Bên cạnh đó, Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật cũng quy định trình tự và thủ tục thực hiện công tác pháp điển. Theo đó công tác pháp điển được thực hiện theo các chủ đề được sắp xếp theo thứ tự Alphabet, có tất cả 45 chủ để được quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh. Tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế xã hội mà Chính phủ có quyền quyết định bổ sung chủ đề mới theo đề nghị của Bộ Tư Pháp. Mỗi chủ đề có thể bao gồm nhiều đề mục. Trong đề mục, tuỳ theo nội dung có thể có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm. Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác pháp điển theo đề mục và gửi kết quả đến Bộ Tư Pháp. Bộ trưởng Bộ Tư Pháp sau khi nhận được hồ sơ sẽ quyết định thành lập Hội đồng thẩm định để thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục. Hội đồng thẩm định này do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp làm Chủ tịch, và các thành viên bao gồm đại diện lãnh đạo cơ quan thực hiện pháp điển, Ủy ban pháp luật của Quốc hội, cơ quan, tổ chức có liên quan và một số chuyên gia pháp luật. Nội dung thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục tập trung vào các vấn đề: - Tính chính xác, đầy đủ của các quy phạm pháp luật trong đề mục; - Sự phù hợp của vị trí quy phạm pháp luật trong đề mục; 10 - Sự tuân thủ trình tự, thủ tục pháp điển theo đề mục; - Các vấn đề khác liên quan đến nội dung của đề mục. Kết luận của Hội đồng thẩm định sẽ được gửi đến cho cơ quan thực hiện pháp điển trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết luận của Hội đồng thẩm định, căn cứ vào kết luận này, cơ quan thực hiện pháp điển chỉnh lý, hoàn thiện kết quả pháp điển theo đề mục và thủ trưởng cơ quan thực hiện pháp điển sẽ ký xác thực kết quả pháp điển theo đề mục và gửi đến Bộ Tư Pháp, sau đó Bộ Tư Pháp sẽ tiến hành sắp xếp đề mục đã được pháp điển vào chủ đề. Sau khi kết quả pháp điển theo đề mục được Bộ tư Pháp sắp xếp theo chủ đề, Chính phủ sẽ quyết định thông qua kết quả pháp điển theo từng chủ đề của Bộ pháp điển và dựa trên sự thông qua này, Bộ Tư Pháp thực hiện sắp xếp kết quả pháp điển theo chủ đề vào Bộ pháp điển và đăng tải trên Trang thông tin điển tử pháp điển. Như vậy, có thể nhận thấy rõ ràng việc pháp điển phải được thực hiện theo một quy trình tương đối chặt chẽ. Điều này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót có thể xảy ra trong quá trình thực hiện công tác pháp điển. Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật thì công tác pháp điển chỉ mới dừng lại ở việc rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển, chứ chưa thực hiện được công tác chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật. Như vậy, rõ ràng việc xây dựng Bộ pháp điển theo quy định tại Pháp lệnh cũng chưa hoàn toàn đáp ứng được mục tiêu cao nhất của công tác pháp điển hoá là loại bỏ những quy phạm pháp luật mâu 11 thuẫn, chồng chéo, những quy phạm không còn phù hợp hoặc thiếu tính khả thi và tăng cường chất lượng cũng như hiệu lực pháp luật của các văn bản quy phạm pháp luật. 1.1.4. Mục đích, ý nghĩa của công tác hệ thống hoá pháp luật 1.1.4.1. Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam: Không riêng Việt Nam, mà ở hầu hết các quốc gia đều tồn tại một hệ thống pháp luật rất đồ sộ, điều này gây khó khăn cho việc tra cứu và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là trong bối cảnh cùng lúc tồn tại quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề. Chính sự phức tạp này dẫn đến Nhà nước khó có được cái nhìn chính xác về hiệu quả của công tác lập pháp, do đó chưa thúc đẩy tăng cường chất lượng của công tác lập pháp. Một cách khái quát, có thể nhận thấy hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta đang tồn tại một số mặt hạn chế, cần phải khắc phục: - Tản mát, tức là có cùng lúc nhiều quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhác cùng điều chỉnh một vấn đề. Ví dụ về điều kiện nhà ở được đưa vào kinh doanh được quy định đồng thời trong Luật kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở và các văn bản dưới luật như Nghị định 71/2010/NĐ-CP. - Không đồng nhất, tức là có sự khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn giữa các quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề. Ví dụ về một trong các điều kiện để nhà ở được phép giao dịch theo quy định tại Điều 91 Luật Nhà ở là phải “Có giấy chứng nhận quyền sở hữu theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, đến Nghị định số 71/2010/NĐ-CP thì Chính phủ lại quy định cho phép giao dịch nhà ở hình thành trong tương lai, có nghĩa là nhà ở đang trong quá trình xây dựng hoặc đã xây dựng xong nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu vẫn được phép tham gia vào một số giao dịch nhất định. Điều 12 này tạo ra rất nhiều rủi ro cho các chủ thể tham gia giao dịch vì về nguyên tắc, trường hợp có sự khác biệt hoặc mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được ưu tiên áp dụng, nhưng trong thực tế, các chủ thể tham gia giao dịch thường chỉ tham khảo và áp dụng các văn bản dưới luật bởi tính chi tiết và cụ thể của nó. - Không minh bạch. Sự không minh bạch này thể hiện ở chủ yếu ở tính mơ hồ, không rõ ràng của các quy phạm pháp luật. Từ đó dẫn đến hệ luỵ là cùng một quy phạm pháp luật nhưng có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, có nhiều công văn hướng dẫn khác nhau. - Hiệu lực văn bản không rõ ràng. Điều này nhận thấy rõ ràng nhất trong trường hợp văn bản luật đã chấm dứt hiệu lực nhưng hệ thống các văn bản hướng dẫn dưới luật vẫn tồn tại và vẫn được áp dụng. Và tình trạng này ngày càng trở nên trầm trọng khi số lượng các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ngày càng gia tăng. Trong khi đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật bao gồm cả những quy định còn hiệu lực lẫn những quy định đã chấm dứt hiệu lực do thông lệ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật “sửa đổi một số điều” của văn bản ban hành trước đây. Nhiều văn bản thường có điều khoản nói rằng “các quy định được ban hành trước đây trái với quy định của luật này sẽ hết hiệu lực và không có giá trị áp dụng” nhưng lại không nêu cụ thể các quy định bị bãi bỏ là gì. Điều này dẫn đến hệ quả là người dân và doanh nghiệp lạc giữa “rừng luật và văn bản hướng dẫn”, gây khó khăn và gia tăng chi phí tiếp cận văn bản, cũng như gây ra những rủi ro pháp lý không đáng có cho xã hội. 1.1.4.2. Mục đích, ý nghĩa của công tác hệ thống hóa pháp luật - Tập hợp được tất cả các quy phạm pháp luật đang nằm phân tán, rải rác ở nhiều văn bản trong một văn bản pháp luật duy nhất trong đó gồm những quy phạm pháp luật còn hiệu lực trong một lĩnh vực, chủ đề nhất định (hoặc ở 13 một số nước là do một cơ quan ban hành), theo một trật tự logic, nhằm bảo đảm thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng, thực hiện văn bản pháp luật. - Minh bạch hóa và bảo đảm tính cập nhật của các quy phạm pháp luật thông qua việc bãi bỏ các nội dung không rõ ràng, mâu thuẫn, không phù hợp với Hiến pháp và các cam kết quốc tế; chỉ ra sự mâu thuẫn, chồng chéo, không đầy đủ trong hệ thống luật pháp và chuẩn bị đề xuất các sửa đổi, bổ sung cần thiết từ đó nâng cao tính thống nhất của các quy định pháp luật. - Góp phần bảo đảm duy trì tính hệ thống của hệ thống pháp luật. Theo cách thức pháp điển này, phần lớn các quy phạm pháp luật sẽ được sắp xếp vào các bộ luật với phạm vi nội dung được xác định rõ ràng, ổn định, có tính hệ thống cao. Bộ Pháp điển sẽ được sử dụng như một phương tiện để thực hiện việc hệ thống hóa các quy định pháp luật một cách liên tục vì tất cả các quy định mới được ban hành đều được đưa vào Bộ pháp điển ngay lập tức và các việc thay thế các quy định cũ cũng được thực hiện ngay trên Bộ pháp điển. - Nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật. Việc xây dựng các bộ pháp điển một cách có hệ thống và toàn diện sẽ nâng cao sự ổn định và thống nhất của hệ thống pháp luật và vì vậy sẽ nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật. - Tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình làm luật. Trong bối cảnh tất cả quy phạm pháp luật đã được sắp xếp một cách hệ thống trong các bộ pháp điển thì việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định sẽ được thực hiện một cách dễ dàng hơn trên cơ sở các quy định của bộ pháp điển mà không phải tiến hành rà soát, kiểm tra các văn bản phân tán trong hệ thống pháp luật như hiện nay. Hơn thế nữa, trong trường hợp các bộ pháp điển đã được xây dựng ổn định, việc làm luật trong một lĩnh vực có thể chỉ dừng lại ở việc sửa đổi, bổ sung các bộ pháp điển trong lĩnh vực đó mà không nhất thiết phải chỉnh sửa hay ban hành mới cả một luật hay một bộ luật như hiện nay. 14 Như vậy, lợi ích của công tác hệ thống hóa pháp luật là hiển nhiên và không thể phủ nhận. Thực hiện thành công hệ thống hóa pháp luật giúp Nhà nước có thể đánh giá chính xác thực trạng hệ thống pháp luật, từ đó kịp thời chỉnh sửa, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước. Người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận, tra cứu pháp luật một cách đơn giản hơn và áp dụng pháp luật chính xác, hiệu quả hơn, đồng thời cũng giúp giảm thiểu được các rủi ro pháp lý. Tất cả những hiệu quả tích cực này sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng lập pháp và quản lý Nhà nước, tăng cường ý thức pháp luật cho người dân nhằm tiến đến mục tiêu cao nhất là hoàn thiện nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, theo định hướng của Đảng và Nhà nước. 1.2. Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại 1.2.1. Khái niệm chung về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Để tìm hiểu về khái niệm “Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại”, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu một số khái niệm có liên quan.  Khái niệm “Pháp luật” và “Văn bản quy phạm pháp luật”. Pháp luật được hiểu là “toàn bộ những quy định do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra để hướng dẫn cách xử sự, có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đảm bảo việc thi hành” 5. Một cách diễn đạt khác, pháp luật được hiểu là “hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội” 6. Ví dụ, Điều 12 Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam quy định “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật… Các cơ quan Nhà nước, tổ chức 15 kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật”. Dù được diễn giải dưới hình thức nào, nhìn chung pháp luật có một số đặc điểm sau: - Thứ nhất: Pháp luật bao gồm một hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trong xã hội. - Thứ hai: Pháp luật do Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh quyền lực nhà nước. - Thứ ba: Pháp luật là một hiện tượng xã hội vừa mang tính xã hội, vừa mang tính giai cấp. Bản chất xã hội của pháp luật xuất phát từ mục tiêu ban hành pháp luật là để quản lý xã hội và vì lợi ích chung của toàn xã hội. Tuy nhiên, vì Nhà nước là đại diện cho một hoặc một số giai tầng cụ thể, nên dù ít hay nhiều, pháp luật do Nhà nước ban hành cũng mang bản chất giai cấp, là công cụ phục vụ lợi ích riêng của giai cấp thống trị. Văn bản quy phạm pháp luật: theo quy định tại Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”. Cũng theo luật này, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam bao gồm: - Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. - Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. - Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. - Nghị định của Chính phủ. - Quyết định của Thủ tướng chính phủ. - Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà an nhân dân tối cao, Thông tư của chánh án Toà án nhân dân tối cao. 16 - Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. - Thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. - Quyết định của Tổng kiểm toán Nhà nước. - Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, xã hội. - Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. - Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Như vậy, về bản chất, văn bản quy phạm pháp luật chính là nơi chứa đựng các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành, là hình thức thể hiện nội dung của từng ngành luật, từng vấn đề pháp lý cụ thể. Một vấn đề đáng lưu ý là ở Việt Nam hiện nay các Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế được tập hợp, hệ thống bởi các tổ chức phi chính phủ không được thừa nhận là một hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Tương tự, các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật do các cơ quan hành chính ban hành, mà phổ biến nhất là hình thức “công văn” cũng không được thừa nhận như một loại hình văn bản quy phạm pháp luật, có nghĩa là các văn bản này chỉ mang tính chất định hướng, tham khảo chứ không có hiệu lực bắt buộc thi hành, dù đây là một hình thức văn bản rất phổ biến ở Việt Nam.  Khái niệm “Xuất khẩu, nhập khẩu” Một cách khái quát, khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu có thể được hiểu như sau: - Xuất khẩu là những giao dịch hàng hoá, dịch vụ (mua bán, trao đổi, tặng cho, đối ứng) từ cư dân, công ty, tổ chức, chính phủ của một nước đến cư dân, công ty, tổ chức, chính phủ nước ngoài và hàng hoá, dịch vụ đó phải di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia. 17
- Xem thêm -