Tài liệu Hành vi cảm thán trong truyện kiều

  • Số trang: 120 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 28 |
  • Lượt tải: 0
youtubehot

Tham gia: 22/05/2016

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ---------------------------- PHẠM KIM THOA HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TRUYỆN KIỀU LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thái Nguyên - 2009 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ---------------------------- PHẠM KIM THOA HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TRUYỆN KIỀU Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Phạm Hùng Việt Thái Nguyên - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.Lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác. Thái Nguyên, ngày 29 tháng 9 năm 2009 Phạm Kim Thoa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 http://www.Lrc-tnu.edu.vn môc lôc MỞ ĐẦU Trang 1. Lí do chọn đề tài 3 2. Lịch sử vấn đề 4 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 7 6. Bố cục của luận văn 7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8 1.1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ 8 1.2. Hành vi cảm thán 20 1.3. Hành vi cảm thán và câu cảm thán 24 Tiểu kết 26 CHƢƠNG 2: PHƢƠNG TIỆN THỂ HIỆN HÀNH VI CẢM THÁN VÀ CÁC LOẠI HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TRUYỆN KIỀU 27 2.1. Phƣơng tiện thể hiện hành vi cảm thán trong Truyện Kiều 27 2.2. Các loại hành vi cảm thán trong Truyện Kiều 60 Tiểu kết 77 CHƢƠNG 3: VAI TRề CỦA HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TRUYỆN KIỀU 78 3.1. Hành vi cảm thán với vai trò xây dựng hình tƣợng các nhân vật trong Truyện Kiều 78 3.2. Hành vi cảm thán với vai trò thể hiện thái độ của tác giả 104 Tiểu kết 110 KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.Lrc-tnu.edu.vn MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngữ dụng học là một bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp. Tuy ra đời chƣa lâu song bộ môn khoa học này đã phát triển mạnh mẽ cả về lí thuyết, cả về những nghiên cứu cụ thể, khiến ngôn ngữ học không còn nằm trong hệ thống khép kín của cấu trúc luận nội tại mà đã đi vào thực tế đa dạng của đời sống ngôn ngữ. Nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ, đặc biệt là hành vi ở lời, là phần việc quan trọng của ngữ dụng học. Trong giao tiếp, để bày tỏ đƣợc ý định, mục đích của mình, ngƣời ta thƣờng dùng nhiều loại hành vi ngôn ngữ, mà mỗi loại hành vi đó lại đƣợc thực hiện bằng một số kiểu câu có hình thức, mục đích nói năng nhất định. Trong tiếng Việt, theo các nhà ngữ pháp học có bốn kiểu câu thể hiện mục đích nói là: câu trần thuật (còn gọi là "câu kể, câu miêu tả"); câu cầu khiến (còn gọi là "câu mệnh lệnh"); câu nghi vấn (còn gọi là "câu hỏi"); câu cảm thán (còn gọi là "câu cảm"). Mỗi kiểu câu nêu trên đều có vai trò khác nhau giúp ngƣời nói lựa chọn và sử dụng phƣơng tiện giao tiếp hợp lí nhất. Trong đó, câu cảm thán là loại câu biểu thị đƣợc tình cảm - cảm xúc rất đa dạng và tinh tế của ngƣời Việt Nam. Tuy vậy, các kiểu câu cảm thán đƣợc sử dụng khi sáng tác văn chƣơng, ở mỗi tác giả, mỗi tác phẩm (nhất là sáng tác thơ) lại có những điểm khác biệt nhất định. Chọn đề tài với nội dung nghiên cứu “Hành vi cảm thán trong Truyện Kiều”, tác giả luận văn mong muốn sẽ tiếp cận đƣợc tác phẩm văn học nổi tiếng này trên bình diện ngôn ngữ học, nhằm tìm hiểu đƣợc sự sáng tạo độc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 http://www.Lrc-tnu.edu.vn đáo của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn từ để sáng tác nghệ thuật khi viết về thân phận bi thƣơng của nàng Kiều. Hiện nay, trong các trƣờng phổ thông, việc dạy và học Truyện Kiều chủ yếu mới ở khía cạnh bình giảng văn chƣơng dƣới góc độ hình tƣợng nghệ thuật, mà còn ít đi sâu vào hình thức ngôn từ. Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của đề tài có thể cung cấp thêm cơ sở cho các thầy cô giáo và các em học sinh phân tích, cảm thụ tác phẩm nổi tiếng này. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Nguyễn Du là một nhà thơ thiên tài của nền thi ca dân tộc. Trong các tác phẩm của ông, Truyện Kiều là một kiệt tác đƣợc viết bằng chữ Nôm. Đây là một cống hiến to lớn của nhà thơ đối với sự phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc. Nghiên cứu ngôn ngữ trong Truyện Kiều là góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về tài năng sử dụng các phƣơng tiện ngôn ngữ của nhà thơ. Đã có nhiều nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết để tìm hiểu về Nguyễn Du và các tác phẩm của ông (trong đó đặc biệt là Truyện Kiều). Các tác giả tập trung bàn về hình tƣợng nghệ thuật, triết lí nhân văn hay mâu thuẫn tƣ tƣởng và nhân cách của nhà thơ. Đó là các công trình có giá trị nhƣ: “Từ điển Truyện Kiều” và "Khảo luận về Truyện Thuý Kiều"của Đào Duy Anh; “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử; “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du qua Truyện Kiều” và "Phƣơng pháp tự sự của Nguyễn Du trong Truyện Kiều" của Phan Ngọc; "Một vài đặc điểm của ngôn ngữ Truyện Kiều"của Đào Thản; “Giảng văn Truyện Kiều” và "Truyện Kiều và thể loại truyện nôm"của Đặng Thanh Lê; "Nghệ thuật điển hình hoá và ngôn ngữ trong Truyện Kiều"của Nguyễn Lộc; "Nhân vật Từ Hải"của N.I.Niculin; "Triết lý đạo Phật trong Truyện Kiều"của Cao Huy Đỉnh; "Truyện Kiều của Nguyễn Du" của Đỗ Đức Hiểu; "Mấy lời bình luận về văn chƣơng Truyện Kiều"của Nguyễn Tƣờng Tam; “Bình giảng mƣời đoạn trích trong Truyện Kiều”của Trƣơng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.Lrc-tnu.edu.vn Xuân Tiếu; “Nghệ thuật tái tạo nhân vật trong Đoạn trƣờng Tân Thanh của Nguyễn Du”của Nguyễn Hằng Thanh v.v... Gần đây, có một số công trình nghiên cứu về mặt ngôn ngữ sử dụng trong Truyện Kiều nhƣ: “Tìm hiểu về từ ngữ Truyện Kiều” của Lê Xuân Lít; "Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ trong Truyện Kiều" (luận văn Thạc sĩ) của Cao Thị Phƣơng Lan; "Tìm hiểu hƣ từ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du" (luận văn Thạc sĩ) của Nguyễn Thị Ninh Ngọc; “Tìm hiểu lập luận miêu tả trong Truyện Kiều” (luận văn thạc sĩ) của Lƣu Thị Thanh Mai; “Cách sử dụng trực tiếp và gián tiếp các kiểu câu trong Truyện Kiều” (luận văn thạc sĩ) của Quách Thị Bình Thọ; “Tìm hiểu các phƣơng tiện ngôn ngữ thể hiện hành động cầu khiến trong Truyện Kiều” (luận văn thạc sĩ) của Đặng Thị Thu Hƣơng; “Câu hỏi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và việc sử dụng câu hỏi để biểu thị hành động nói”(luận văn thạc sĩ) của Trịnh Minh Thành; "Đặc trƣng thẩm mĩ của các ngữ liệu văn hoá trong Truyện Kiều" của Võ Minh Hải và Nguyễn Quang Linh v.v... Với các kiểu câu phân loại theo mục đích nói (trong đó có câu cảm thán) cũng đã có rất nhiều tác giả tập trung nghiên cứu ở những công trình lớn, vừa và nhỏ nhƣ: “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến; “Ngữ pháp tiếng Việt - Câu” của Hoàng Trọng Phiến; “Ngữ pháp tiếng Việt” - tập 2 của Diệp Quang Ban; “Tiếng Việt” - tập 2 của Đinh Trọng Lạc và Bùi Minh Toán; “Câu trong tiếng Việt” của Cao Xuân Hạo; “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” của Nguyễn Nhƣ ý (chủ biên); "Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại" của Đinh Văn Đức; "Giáo trình ngôn ngữ học" và “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyện Thiện Giáp (chủ biên); “Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại” của Phạm Hùng Việt; “Câu tiếng Việt” của Nguyễn Thị Lƣơng; “Hành động ngôn ngữ biểu lộ trong kiểu câu cảm thán của tiếng Việt hiện đại”của Hồ Xuân Lộ; Luận án tiến sĩ “Câu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 http://www.Lrc-tnu.edu.vn cảm thán trong tiếng Việt” và bài viết “Một số hình thức hỏi biểu thị cảm thán trong tiếng Việt” của Nguyễn Thị Hồng Ngọc; “Hành vi cảm thán và sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt” - luận án Tiến sĩ của Hà Thị Hải Yến; “Câu cảm thán dƣới góc nhìn dụng học” của Đặng Thị Hảo Tâm v.v... Ngoài các công trình trên, nghiên cứu về ngữ dụng học phải kể đến các tác giả: George Yule với cuốn "Dụng học - Một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ"; Đỗ Hữu Châu với cuốn “Đại cƣơng ngôn ngữ học" tập 2; Nguyễn Đức Dân với cuốn “Ngữ dụng học” tập 1; Mai Ngọc Chừ chủ biên cuốn “ Nhập môn ngôn ngữ học”; Nguyễn Thiện Giáp với cuốn “Dụng học Việt ngữ”; Trần Ngọc Thêm với cuốn “Ngữ dụng học và văn hóa – ngôn ngữ học”.v.v.. Trong đó, hai tác giả Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân đã nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ. Các công trình vừa nêu trên đã đi vào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến ngữ dụng học, hành vi ngôn ngữ, về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói, cũng nhƣ các tác phẩm nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hành vi cảm thán và câu cảm thán trong Truyện Kiều. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3.1. Mục đích nghiên cứu Ngƣời dân thuộc mọi dân tộc đều có nhu cầu bộc lộ tƣ tƣởng, tình cảm của mình trƣớc các sự vật khác nhau, các hiện tƣợng khác nhau của hiện thực xung quanh. Việc bộc lộ đó đƣợc thể hiện bằng nhiều phƣơng tiện, song hiệu quả nhất vẫn là bằng ngôn ngữ. Tác giả luận văn tiếp cận đề tài này là có mục đích chỉ ra các đặc trƣng của hành vi cảm thán và tác dụng của hành vi cảm thán trong Truyện Kiều. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu những vấn đề về lí thuyết về các kiểu hành vi ngôn ngữ nói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 http://www.Lrc-tnu.edu.vn chung, hành vi cảm thán nói riêng - Tìm hiểu các phƣơng tiện thể hiện hành vi cảm thán và các loại hành vi cảm thán đƣợc Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều. - Tìm hiểu về vai trò của các hành vi cảm thán trong Truyện Kiều. 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hành vi cảm thán và các phƣơng tiện thể hiện hành vi cảm thán trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Trong tình hình có nhiều các bản dịch khác nhau về Truyện Kiều, tác giả luận văn chọn bản dịch Truyện Kiều trong “Từ điển Truyện Kiều” của cố tác giả Đào Duy Anh (xuất bản tháng 1 năm 1989) làm tƣ liệu khảo sát cho đề tài. 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1. Phƣơng pháp thống kê, phân loại Vận dụng phƣơng pháp này, luận văn sẽ khảo sát bản dịch “Từ điển Truyện Kiều” trong ngữ cảnh phù hợp để thống kê hành vi cảm thán. 5.2. Phƣơng pháp phân tích văn bản, phân tích diễn ngôn Phƣơng pháp này giúp cho việc tìm hiểu cấu trúc của các loại hành vi cảm thán trong Truyện Kiều và vai trò của việc sử dụng chúng trong khi xây dựng hình tƣợng nghệ thuật của tác giả. 6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Cơ sở lí thuyết Chương 2: Phƣơng tiện thể hiện hành vi cảm thán và các loại hành vi cảm thán trong Truyện Kiều Chương 3: Vai trò của hành vi cảm thán trong Truyện Kiều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 http://www.Lrc-tnu.edu.vn CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1. LÍ THUYẾT HÀNH VI NGÔN NGỮ 1.1.1. Khái niệm "hành vi ngôn ngữ" Theo các nhà nghiên cứu, ngƣời đầu tiên xây dựng nên lí thuyết hành vi ngôn ngữ là nhà triết học ngƣời Anh John.L.Austin, trong cuốn sách đƣợc công bố sau khi ông qua đời How to do things with words. Ngƣời phát triển lí thuyết này là nhà triết học J.Searle với công trình Speech Acts. Dựa trên cơ sở lí luận trong công trình nghiên cứu của Austin và Searle, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam đã trình bày khái niệm "hành vi ngôn ngữ" nhƣ sau: Theo Giáo sƣ Đỗ Hữu Châu: "Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C"[4, tr.88]. Giáo sƣ Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn từ, ông cho rằng: "Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ... Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn" [9, tr.337-338]. Giáo sƣ Nguyễn Đức Dân lại quan niệm: "Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó người nói đã thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định và người nghe cảm nhận được điều này. Xảy ra hiện tượng đó vì các hành vi ngôn ngữ mang tính chất xã hội, được ước chế bởi xã hội"[6, tr.220]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 http://www.Lrc-tnu.edu.vn Trong "Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học", hành vi ngôn ngữ đƣợc các nhà nghiên cứu định nghĩa là: "Một đoạn lời nói có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó"[42, tr.107] Nhƣ vậy, "hành vi ngôn ngữ" chính là một hành động sử dụng ngôn từ nhằm tác động đến ngƣời tiếp nhận lời trong giao tiếp; nó gắn liền với hoạt động nói năng của con ngƣời và mang tính chất xã hội. Austin cho rằng hành động ngôn ngữ có ba loại hành vi lớn là acte locutoire, acte perlocutoire, acte illocutoire, mà Giáo sƣ Đỗ Hữu Châu đã dịch là: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời. Hành vi tạo lời: là hành vi tạo ra lời nói bằng các yếu tố của ngôn ngữ nhƣ ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu...theo những quy tắc ngữ pháp của ngôn ngữ. Hành vi mượn lời: là hành vi ngƣời nói mƣợn các phát ngôn để gây ra những hiệu quả ngoài ngôn ngữ, đó là những hiệu quả tâm lí hay vật lí ở ngƣời tiếp nhận ngôn bản hoặc ở chính ngƣời nói. Hành vi ở lời: là những hành vi đƣợc thực hiện bằng chính lời nói, ngay trong lời nói và gây ra đƣợc một phản ứng ngôn ngữ tƣơng ứng với chúng của ngƣời tiếp nhận. Khác với hành vi mƣợn lời, hành vi ở lời có đích để phân biệt đƣợc các hành vi ở lời với nhau*. Nếu đích ở lời đƣợc thoả mãn thì ta có hiệu quả ở lời. Hiệu quả ở lời đƣợc thể hiện bằng lời hồi đáp của ngƣời tiếp nhận phát ngôn. Ví dụ 1: Sp1: Chào cậu ! Lan có trong phòng không ? Sp2: Có đấy, cậu vào đi. * Các vấn đề của lí thuyết hành vi ngôn ngữ; các ý kiến của J.L.Austin và J.R.Searle trong Sốmục hóa bởi Học liệu Đạitheo học Thái Nguyên 11 nàyTrung đƣợctâm chúng tôi –dẫn Đỗ Hữu Châu [4, tr.88-153] http://www.Lrc-tnu.edu.vn Hiệu quả ở lời của hành vi hỏi trên đây chính là hành vi trả lời "Có đấy" và hành vi mời "cậu vào đi" của Sp2. Tuy vậy, có trƣờng hợp hiệu quả ở lời lại là một hành vi mƣợn lời vật lí nhƣ ví dụ dƣới đây: Ví dụ 2: Sp1: Trả tớ cái thƣớc ! Sp2: Đây ! Hành vi yêu cầu trên có hiệu quả ở lời là việc Sp2 đƣa trả cái thƣớc kẻ cho Sp1. Tuy nhiên, hành vi mƣợn lời vật lí đó vẫn có hành vi ở lời "Đây !" đi kèm. Theo O.Ducrot, các hành vi ở lời khác với hành vi tạo lời và hành vi mƣợn lời ở chỗ chúng có khả năng thay đổi tƣ cách pháp nhân của ngƣời tham gia hội thoại, đặt họ vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trƣớc khi thực hiện hành vi ở lời đó. Các hành vi mƣợn lời và hành vi ở lời mang lại cho các phát ngôn những hiệu lực nhất định. Nhƣng đối tƣợng mà ngữ dụng học quan tâm chỉ là hiệu lực của các hành vi ở lời. Các hành vi ở lời đƣợc chi phối bởi những quy tắc đã đƣợc xã hội ƣớc chế. Vì vậy, có những điều kiện sử dụng cho mỗi loại hành vi ở lời. Trong thực tế, để tạo ra một diễn ngôn thì ba loại hành vi: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời phải đƣợc kết hợp đồng thời và thống nhất. Với đề tài Hành vi cảm thán trong Truyện Kiều, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tác phẩm ở góc độ hành vi ở lời. 1.1.2. Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời GS Đỗ Hữu Châu định nghĩa: "Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó."[4, tr.111]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 http://www.Lrc-tnu.edu.vn Theo Austin, điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là các điều kiện "may mắn", nếu chúng đƣợc đảm bảo thì hành vi mới "thành công", đạt hiệu quả. Sau khi điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin, Searle đã gọi chúng là những điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn. Ông cho rằng có bốn điều kiện sử dụng các hành vi ở lời sau: a. Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung của hành vi. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay một hàm mệnh đề với các câu hỏi khép kín. Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của ngƣời nói hay một hành động của ngƣời nghe. b. Điều kiện chuẩn bị là những hiểu biết của ngƣời nói về năng lực, lợi ích, trách nhiệm, ý định của ngƣời nghe. Đồng thời, điều kiện chuẩn bị cũng gồm cả quyền lợi, trách nhiệm, năng lực và quyền lực của ngƣời nói đối với hành vi ở lời mà họ đƣa ra. c. Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lí tƣơng ứng của ngƣời phát ngôn. Tức là, khi đƣa ra một phát ngôn, ngƣời thực hiện hành động ngôn ngữ phải thực lòng làm việc đó; chẳng hạn, khi hỏi phải thực lòng muốn hỏi, chân thành mong đợi hiệu quả của hành vi ở lời mà họ thực hiện. d. Điều kiện căn bản là điều kiện đƣa ra trách nhiệm ràng buộc ngƣời tạo lời cũng nhƣ ngƣời tiếp nhận lời; chẳng hạn, khi trần thuật một sự việc, ngƣời tạo lời phải chịu trách nhiệm về tính thực hƣ của nó, khi nghe hỏi chân thành, ngƣời tiếp nhận lời cũng phải trả lời chân thành. Ví dụ 3: Nào là gia pháp nọ bay ! Hãy cho ba chục biết tay một lần. Điều kiện nội dung mệnh đề: Phát ngôn trên là hành vi ra lệnh của Hoạn bà (Sp1) đối với gia nhân trong nhà (Sp2). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 http://www.Lrc-tnu.edu.vn Điều kiện chuẩn bị: Sp1 và Sp2 đã biết rõ đƣợc mối quan hệ trên dƣới, chủ - tớ, giữa Sp1 và Sp2. Khi ra lệnh, Sp1 tin rằng Sp2 sẽ nhận lệnh và có khả năng thực hiện đƣợc hành động quy định trong lệnh. Điều kiện chân thành: Sp1 thực sự mong muốn nội dung lệnh đƣợc thi hành bởi Sp2. Điều kiện căn bản: Khi nội dung mệnh lệnh đƣợc phát ra, Sp1 đã tạo nên mối ràng buộc giữa Sp1 và Sp2, buộc Sp2 phải có trách nhiệm thực hiện lệnh bằng chính hành động thực thi mệnh lệnh của Sp2. Đáp lại hành vi ra lệnh của Hoạn bà là việc đám gia nhân đánh đập Thuý Kiều rất dã man. Phát ngôn này thuộc hành vi ở lời trực tiếp. Ví dụ 4: Mai cốt cách, tuyết tinh thần Mỗi ngƣời một vẻ, mƣời phân vẹn mƣời Điều kiện nội dung mệnh đề: Nội dung trên là hành động trần thuật (khẳng định) của ngƣời kể chuyện (Sp1) với ngƣời nghe (Sp2). Điều kiện chuẩn bị: Sp1 đã có bằng chứng để cho rằng điều mình thuật lại là chính xác. Đồng thời Sp1 và Sp2 đều cho rằng Sp2 không biết nội dung mà Sp1 sẽ nói. Điều kiện chân thành: Sp1 tin rằng thông tin mà mình đƣa ra là chính xác. Điều kiện căn bản: Thông qua nội dung tƣờng thuật, Sp1 nói cho Sp2 biết rằng mệnh đề mình nói ra phản ánh đúng một hiện thực. Ví dụ trên là một hành động kể trực tiếp vì đƣợc sử dụng đúng với mục đích trần thuật. Ví dụ 5: Cớ sao trằn trọc canh khuya, Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mƣa ? Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là hành động hỏi của cha mẹ đối với Thuý Kiều. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 http://www.Lrc-tnu.edu.vn Điều kiện chuẩn bị: Ông bà Vƣơng viên ngoại không hiểu vì sao Kiều lại thao thức, khóc lóc sụt sùi trong đêm. Điều kiện chân thành: Họ thực sự muốn biết lí do khiến nàng "trằn trọc canh khuya". Điều kiện căn bản: Cha mẹ Kiều đặt câu hỏi với nàng là để Kiều nói ra nỗi niềm tâm sự của mình, thoả mãn điều mà họ đang thắc mắc. Đáp lại hành động hỏi chân thành của cha mẹ, Kiều đã thuật lại sự việc thăm mả Đạm Tiên, giấc mơ gặp Đạm Tiên với nỗi lo lắng, sợ hãi mơ hồ cho số phận của nàng. Chúng tôi xác định: Đây là một hành động hỏi trực tiếp vì câu hỏi đƣợc sử dụng đúng mục đích, đúng với điều kiện chân thành của nó. Qua sự phân tích các ví dụ trên, có thể khẳng định rằng: Một trong những dấu hiệu nhận biết các hành vi ở lời là dựa vào các điều kiện sử dụng hành vi ở lời. Căn cứ vào các hành vi ngôn ngữ, ngƣời ta chia ra hai loại: hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp. 1.1.2.1. Hành vi ở lời trực tiếp Theo Giáo sƣ Đỗ Hữu Châu, hành vi ở lời trực tiếp đƣợc hiểu là: "...các hành vi ngôn ngữ chân thực, có nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng, đúng với các đích ở lời của chúng."[4, tr.256]. George Yule thì quan niệm: "Chừng nào có mối liên hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói trực tiếp" [45, 110]. Cùng quan điểm với Yule, Giáo sƣ Nguyễn Thiện Giáp nhận định: "Hành động ngôn từ trực tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng" [9, tr.390]. PGS.TS Nguyễn Thị Lƣơng (Câu tiếng Việt) cho rằng: "Hành động nói trực tiếp là hành động mà người nghe có thể nhận diện ra đích ở lời dựa vào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 http://www.Lrc-tnu.edu.vn chính câu chữ biểu thị chúng (không phải suy ý, không phải dựa vào ngữ cảnh). Trong trường hợp này, hình thức từ ngữ và mục đích nói có sự thống nhất." Ví dụ 6: Khen cho con mắt tinh đời, Anh hùng đứng giữa trần ai mới già. Câu thơ trên là câu cảm thán, là lời Từ Hải ngợi khen Thuý Kiều, đƣợc thực hiện bằng một hành vi ngôn ngữ chân thực, đúng với đích ở lời là khen ngợi. Ví dụ 7: Với nàng thân thích gần xa, Ngƣời còn, sao bỗng làm ma khóc ngƣời ? Phát ngôn trên là của vãi Giác Duyên hỏi những ngƣời trong gia đình Thuý Kiều khi thấy họ lập đàn tràng cúng nàng bên sông Tiền Đƣờng. Đây là một câu hỏi chân thực, có đích ở lời là mong nhận đƣợc một câu trả lời chân thành của ngƣời nghe. Nhƣ vậy, phát ngôn này sử dụng hành vi ở lời trực tiếp. 1.1.2.2. Hành vi ở lời gián tiếp Hành vi ở lời gián tiếp tồn tại trong thực tế giao tiếp nhƣ một tất yếu của đời sống ngôn ngữ. Vấn đề này đã đƣợc Austin đề cập đến, về sau đƣợc Searle và nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới đặc biệt quan tâm nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn. Thuật ngữ hành vi ở lời gián tiếp là do Searle đặt ra. Theo ông, "... một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua một hành vi ở lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp"[5, tr.60]. Theo George Yule: "Chừng nào có một mối liên hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói gián tiếp"[45, 110]. Giáo sƣ Nguyễn Thiện Giáp cũng nhận định: "Hành động ngôn từ gián tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ gián tiếp giữa một chức năng và một cấu trúc"[9, tr.390]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 http://www.Lrc-tnu.edu.vn Giáo sƣ Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: "Một hành vi ngôn ngữ được gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ của hành vi tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói"[6, tr.229]. Hành vi ở lời gián tiếp đƣợc Giáo sƣ Đỗ Hữu Châu quan niệm nhƣ sau: "Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời... Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp. Một hành vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác" [4,tr.145-146]. Ví dụ 8: Sao chƣa thoát khỏi nữ nhi thƣờng tình ? Đây là câu hỏi của Từ Hải nhƣng không có mục đích hỏi chân thành. Qua phát ngôn hỏi chàng bộc lộ ý trách Kiều, và qua lời lẽ trách cứ để gián tiếp khuyên Kiều nên ở lại chờ chàng trở về. Nhƣ vậy, hành vi ở lời trên là một hành vi gián tiếp mà Từ Hải dùng để khuyên nhủ Thuý Kiều. Theo giáo sƣ Nguyễn Đức Dân, một hành vi gián tiếp có thể đƣợc thực hiện qua những hành vi ở lời khác nhau và cùng một hành vi ở lời có thể tạo ra những hành vi gián tiếp khác nhau. Điều đó cho thấy việc sử dụng ngôn từ trong giao tiếp không những không cứng nhắc mà còn rất linh hoạt và mềm dẻo. Ví dụ 9: (1) Anh đứng tránh ra cho em xem vô tuyến có đƣợc không ? (2) Em muốn đƣợc xem vô tuyến. (3) Lấy nong mà che cái vô tuyến đi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 http://www.Lrc-tnu.edu.vn (4) Vô tuyến hôm nay chiếu toàn lƣng. Đây là trƣờng hợp một hành vi gián tiếp đƣợc thực hiện qua những hành vi ở lời khác nhau. Tuy (1) là hỏi, (2) là bày tỏ mong muốn, (3) là sai khiến, (4) là trần thuật, nhƣng đích ở lời của cả 4 phát ngôn đều là đề nghị. Ví dụ 10: (1) Sao cứ lƣớt khƣớt suốt ngày thế ? (2) Con tôi lại học đấy ƣ ? (3) Bác đi làm đấy à ? Ví dụ trên là trƣờng hợp cùng một hành vi ở lời có thể tạo ra nhƣng hành vi gián tiếp khác nhau. Cả ba phát ngôn đều là hành vi hỏi nhƣng mang ba đích ở lời khác nhau: (1) là lời trách cứ, (2) là lời khen, (3) là lời chào xã giao. Cách nói gián tiếp nhiều khi mang lại hiệu quả cho mục đích giao tiếp hơn là cách nói trực tiếp. Khi tham gia hội thoại, ngƣời sử dụng ngôn ngữ có thể nhận ra đích ở lời của một hành vi ở lời gián tiếp nhờ vào mẫn cảm giao tiếp của bản thân, dù khả năng ngôn từ của họ chƣa nhiều lắm. Ví dụ 11: Sp1: Con miu kia không ăn cơm là mẹ bé sẽ cho một roi đấy nhé. Sp2 (là một em bé): Hà ! ( và há miệng cho mẹ bón cơm) Tuy em bé có rất ít kinh nghiệm giao tiếp, nhƣng thông qua lời đe nẹt gián tiếp của mẹ, bé vẫn hiểu đƣợc đối tƣợng bị đe chính là mình chứ không phải "con miu", do đó đã há miệng cho mẹ bón cơm. Cách nói gián tiếp vừa góp phần tạo nên sự phong phú của ngôn ngữ hội thoại, vừa là môi trƣờng để hành vi ngôn ngữ bộc lộ các khả năng vốn có. Tuy vậy, không thể tuỳ tiện dùng mọi hành vi ở lời trực tiếp để tạo ra mọi hành vi ở lời gián tiếp. Giống nhƣ hành vi ở lời trực tiếp, hành vi ở lời gián tiếp cũng có các quy tắc sử dụng riêng của mình. Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời gián tiếp: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 http://www.Lrc-tnu.edu.vn Theo Giáo sƣ Đỗ Hữu Châu, có một số điều kiện tổng quát sau: a. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp lệ thuộc rất mạnh vào ngữ cảnh Trong hoạt động giao tiếp, ngữ cảnh là một yếu tố vô cùng quan trọng. Mọi phát ngôn thƣờng phải đặt trong ngữ cảnh cụ thể thì đối tƣợng giao tiếp mới hiểu đƣợc nội dung cũng nhƣ mục đích của các hành vi ở lời, nhất là các hành vi ở lời gián tiếp. Ví dụ 12: Trời làm chi cực bấy trời ! Đây là phát ngôn của Vƣơng ông khi gia đình lâm vào cảnh tai bay vạ gió. Nếu câu thơ không nằm trong ngữ cảnh gia đình Thuý Kiều bị kẻ xấu hãm hại, khiến Vƣơng ông phải đi tù, và để cứu cha thoát khỏi tù tội, Thuý Kiều phải bán mình, chịu làm lẽ cho Mã giám sinh, thì ngƣời đọc khó mà hiểu đƣợc ý nghĩa của phát ngôn là tiếng than phẫn uất, đau đớn của ngƣời cha. Hình thức là một câu hỏi (cụm từ để hỏi làm chi) nhƣng mục đích lại nhằm bộc lộ ý đồ cảm thán của ngƣời nói: đay nghiến, trách cứ ông trời tạo ra oan nghiệt, khiến gia đình ông rơi vào cảnh oan ức, trái ngang, chia lìa, đẩy con gái ông vào chốn phong trần, tƣơng lai mờ mịt. Không đặt trong ngữ cảnh nhƣ vậy, ngƣời đọc khó mà hiểu nổi câu thơ diễn tả điều gì. b. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp phải chú ý đến quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần của nội dung mệnh đề trong biểu thức ngữ vi trực tiếp với ngữ cảnh. GS Đỗ Hữu Châu đã nhận định "...hành vi ngôn ngữ có một (hoặc một số) biểu thức ngữ vi đặc trưng cho nó. Trong biểu thức ngữ vi, quan hệ giữa các thành phần (chủ từ - vị từ) tạo nên nội dung mệnh đề về mặt ngữ nghĩa với các nhân tố của ngữ cảnh, đặc biệt là với những người giao tiếp cùng đóng vai trò IFID cho biểu thức ngữ vi đó. Ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi trực tiếp càng gắn với các nhân tố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 http://www.Lrc-tnu.edu.vn của ngữ cảnh bao nhiêu, đặc biệt là với người nói hay người nghe thì càng có khả năng thực hiện các hành vi gián tiếp bấy nhiêu."[4, tr.151]. Ví dụ 13: Sp1: Bạn có biết, ai là ngƣời bận rộn nhất trong nhà không ? Sp2: (1) Mẹ là ngƣời bận rộn nhất. (2) Mẹ chứ ai ! Để trả lời câu hỏi của Sp1, Sp2 có thể đƣa ra nhiều cách trả lời. Khi Sp2 chọn dùng phát ngôn (1) thì đây là một câu khẳng định trực tiếp gần với cách trả lời thông thƣờng. Nếu Sp2 dùng phát ngôn (2) thì câu trả lời lại là một câu khẳng định gián tiếp. Đây là một câu hỏi (cụm từ để hỏi chứ ai) mang mục đích khẳng định, trong đó "mẹ" là ngữ nghĩa của thành phần mệnh đề hỏi nên hiệu lực khẳng định gián tiếp của câu có mức độ nhấn mạnh hơn, rõ nét hơn. c. Muốn nhận biết được hành vi ở lời gián tiếp, trước hết phải nhận biết phát ngôn nghe được, đọc được qua biểu thức ngữ vi cốt lõi cho nó, do hành vi ở lời trực tiếp nào tạo ra. Ví dụ 14: Ở đây âm khí nặng nề, Bóng chiều đã ngã, dặm về còn xa. Câu thơ trên vốn là một lời trần thuật. Nhƣng trong trƣờng hợp này, ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên mệnh đề giúp ngƣời tiếp nhận thông tin loại bỏ các hành vi ở lời khác và hiểu rằng đây là hành vi khuyên. Vƣơng Quan dùng cách miêu tả lại khung cảnh lúc bấy giờ nhằm mục đích khuyên Thuý Kiều nên ra về. Biểu thức ngữ vi cốt lõi nằm trong phát ngôn của Vƣơng Quan chính là muốn Kiều hiểu rằng: không gian, thời gian không cho phép ba chị em nán lại nơi này lâu hơn nữa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -