Tài liệu Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc sán dìu ở tỉnh vĩnh phúc trong bối cảnh hiện nay

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- LÝ THỊ PHƢƠNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Triết học Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- LÝ THỊ PHƢƠNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học Mã số: 60 22 03 01 Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Thị Thanh Hà Nội – 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đươc công bố trên công trình khoa học nào khác. Tôi xin cam đoan: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc. Hà Nội, tháng 10 năm 2014 Tác giả luận văn Lý Thị Phƣơng MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................... 1 2. Tình hình nghiên cứu ............................................................................... 2 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................... 5 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. ............................................. 6 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ........................................... 6 6. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 6 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài..................................................... 7 8. Kết cấu ..................................................................................................... 7 NỘI DUNG....................................................................................................... 8 Chƣơng 1: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU - NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY .......................................................................................... 8 1.1. Khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc .... 8 1.1.1. Khái niệm văn hóa ........................................................................ 8 1.1.2. Bản sắc văn hóa .......................................................................... 18 1.1.3. Bản sắc văn hóa dân tộc ............................................................. 20 1.2. Nội dung bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnhVĩnh Phúc ............. 24 1.2.1. Đặc điểm dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam ....................................... 24 1.2.2. Bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc................... 43 1.3. Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay ................................................ 51 Tiểu chƣơng 1 ................................................................................................ 57 Chƣơng 2: GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY - NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP................................................... 58 2.1. Những nhân tố tác động đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc hiện nay ...................................................... 58 2.1.1. Tác động của điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ................... 58 2.1.2. Tác động của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ...................................... 69 2.1.1.1. Tác động của cơ chế kinh tế thị trường .............................. 69 2.1.2.2. Tác động của quá trình toàn cầu hóa ................................. 74 2.2. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân....................................................... 80 2.2.1. Thực trạng ................................................................................... 80 2.2.1.1. Thành tựu ............................................................................ 80 2.2.1.2. Hạn chế ............................................................................... 83 2.2.2. Nguyên nhân của hạn chế ........................................................... 85 2.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay ............................................... 88 2.3.1. Phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo tạo điều kiện nâng cao hiệu quả công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ............................................................................................ 88 2.3.2. Đẩy mạnh công tác giáo dục văn hóa lịch sử, văn hóa truyền thống, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc hiện nay ............................................................................. 90 2.3.3. Đổi mới và tăng cường công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu.............................................................................. 91 Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 93 KẾT LUẬN .................................................................................................... 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 96 PHỤ LỤC ..................................................................................................... 101 DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: So sánh ngôn ngữ [23,tr.12] ........................................................... 31 Bảng 1.2: So sánh ngôn ngữ Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Quảng Ninh ........... 47 Bảng 1.3: So sánh ngôn ngữ Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Thái Nguyên ........48 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng cư trú trên dải hình chữ S, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng của mình được kết tinh cùng với lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển. Cùng với dòng chảy thời gian và những biến động của lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc cũng vận động và biến đổi theo những quy luật nhất định, với sự đan xen giữa những yếu tố cũ và yếu tố mới tạo nên những nét độc đáo riêng, đồng thời góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Ngày nay, đứng trước xu thế toàn cầu hóa vừa tạo ra những cơ hội lớn cho sự phát triển mỗi dân tộc, đồng thời cũng xuất hiện không ít những thách thức, khó khăn nguy cơ về sự đồng hóa văn hóa, sự đánh mất bản sắc văn hóa và sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa. Do đó, việc khẳng định hệ giá trị đang là một vấn đề có tính cấp thiết, vừa có tính thời sự, vừa có tính lâu dài. Cần phải có chủ trương chính sách cụ thể trong việc giữa gìn và bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc. Khẳng định tầm quan trọng của vấn đề, tại Nghị quyết Trung ương V khóa VIII và Nghị quyết Trung ương IX khóa XII, Đảng ta đã khẳng định xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vĩnh Phúc cũng là nơi định cư của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó có người Sán Dìu, cư trú rải rác chủ yếu trung du miền núi của tỉnh. Trong quá trình lịch sử, đồng bào người Sán Dìu chọn nơi có địa hình bán sơn địa để định cư. Sống bên cạnh bên cạnh dân tộc Kinh, Dao và Cao Lan. Nhưng người Sán Dìu đã sớm xây dựng cho mình bản sắc văn hóa, độc đáo mang dấu ấn của tộc người nhằm khẳng định vị thế của mình. 1 Tuy nhiên, trước sự tác động của toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đã làm mai một bản sắc văn hóa hóa dân tộc Việt Nam nói chung, bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng. Điều này đã đạt ra vấn đề hết sức cấp bách trong công tác giữ gìn bản sắc văn hóa hiện nay. Với những lý do như trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Văn hóa đang là một vấn đề nổi trội được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: Dân tộc học, văn hóa học, triết học. Bàn về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc phải kể đến một số công trình nghiên cứu sau: Nhóm nghiên cứu về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc: Trong cuốn “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc (Nxb.Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998), tác giả đi vào phân tích và làm sáng tỏ khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc và mối quan hệ giữa các không gian văn hóa. Từ đó đi đến khẳng định:“văn hóa nào cũng cần phải có sự giao tiếp để phát triển”. [37,tr.16] Bàn về văn hóa, còn phải kể đến công trình nghiên cứu “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng (chủ biên), (Nxb. Giáo Dục, 2008). Cuốn sách giới thiệu đến về các quan niệm về văn hóa và các đặc điểm của văn hóa Việt Nam trong quá trình tiếp biến văn hóa nhân loại. Qua đó, khẳng định sự giao lưu văn hóa, cần phải có chính sách giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, cuốn“Văn hóa bản sắc văn hóa dân tộc” của tác giả Hồ Bá Thâm (Nxb. Văn hóa thông tin. Hà Nội, 2012). Tác giả đã làm rõ bản chất, đặc trưng của văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc và còn chỉ ra những thách 2 thức khó khăn trong điều kiện giữ gìn, phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay trước sự tác động của kinh tế thị trường. Ngoài ra, khi nghiên cứu về “Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới hội nhập và phát triển” tác giả Đỗ Huy, (Nxb. Thông tin Truyền thông, 2013). Được tác giả trình bày hành trình của quá trình giải phóng, đổi mới và dự báo về bước phát triển mới của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và đưa ra những giải pháp cụ thể. Nghiên cứu về bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số có“Bản sắc văn hóa dân tộc Mông và giải pháp giữ gìn và phát huy các giá trị của nó ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Xuân Lương. Luận án tiến sĩ Triết học, (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2002). Tác giả đã tập trung vào khai thác những đặc điểm hình thành và những đặc trưng của bản sắc dân tộc Mông và đưa ra cái nhìn mới về bản sắc dân tộc Mông trước những tác động của kinh tế thị trường. Ngoài những nghiên cứu về bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số phải kể đến “Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Phúc Thọ hiện nay” của Đinh Thị Hoa. Luận văn thạc sĩ Triết học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006). Luận văn đã phân tích rõ về khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Mường qua các giá trị vật chất và giá trị tinh thần dước góc độ triết học. Mặc dù, khai thách ở nhiều góc độ khác nhau, song các tác giả đều làm rõ khái niệm văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần. Bên cạnh đó, khẳng định tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới ở nước ta và đề ra các giải pháp. Nhóm những công trình nghiên cứu về về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam và dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phúc. 3 Bàn về bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu, phải kể đến cuốn “Người Sán Dìu ở Việt Nam” của Ma Khánh Bằng (Nxb. Khoa học xã hội, 1983). Cuốn sách được tác giả giới thiệu khái quát về dân tộc Sán Dìu, các hoạt động kinh tế, sinh hoạt vật chất và một số tục lệ trong đời sống hàng ngày. Trong cuốn“Văn hóa các dân tộc thiểu số Vĩnh Phúc” của tác giả Lâm Quý, (Ban Dân tộc – Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc xuất bản năm 2009).Trong cuốn sách này, tác giả đã thể hiện theo tinh thần khảo cứu dân tộc học về lịch sử dân cư, tập quán sản xuất, sinh hoạt xã hội, ngôn ngữ, chữ viết, kiến trúc – mỹ thuật – âm nhạc dân gian, phong tục, lễ hội... nhằm giúp người đọc có cách nhìn tổng quan về văn hóa các dân tộc ở Vĩnh Phúc với bản sắc truyền thống riêng. Tác giả cũng đồng thời cảnh báo những nguy cơ làm phai nhạt bản sắc các dân tộc thiểu số. Từ đó khuyến nghị một số vấn đề về giữ gìn, bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc Sán Dìu, Cao Lan và Dao ở Vĩnh Phúc. Bên cạnh đó, cuốn “Tri thức dân gian trong chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam” của Diệp Trung Bình, (Nxb Văn hóa dân tộc, 2011). Tác giả làm rõ những đặc điểm văn hóa của đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam. Đưa ra những so sánh và những giá trị truyền thống và hiện đại, những biến đổi lớn trong bản sắc văn hóa của người Sán Dìu ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu về “Dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc” của Lâm Quang Hùng, (Nxb. Khoa học và Công nghệ, 2011). Tác giả đi khai thác những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc qua một số giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể dưới góc độ dân tộc học. Tác giả hướng tới khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị của dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới. Về cuốn “Văn hóa ẩm thực người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc” của Lâm Quang Hùng (Nxb. Văn hóa dân tộc, 2013), được đề cập đến bởi những 4 phong ăn uống của người Sán Dìu trong đời sống hàng ngày và những đặc sản của đồng bào. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa, văn hóa của dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam, khai thác trên phương diện phong tục tập quán, văn hóa của đồng bào dân tộc dân tộc Sán Dìu nói chung, đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc nói riêng chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu về bản sắc văn hóa của dân tộc Sán Dìu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học. Do đó, từ những hướng nghiên cứu trên chưa có công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học nào bàn về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, đề tài không trùng lặp với các đề tài, công trình nghiên cứu đã công bố. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích Làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Sán Dìu, tầm quan trọng và thực trạng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay từ đó đề xuất một số giải pháp. 3.2. Nhiệm vụ Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: - Làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay. - Phân tích những nhân tố tác động và thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay. - Đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay. 5 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Cơ sở lý luận của đề tài: Đề tài được thực hiện dựa trên những nguyên lý, lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa và chính sách dân tộc, đồng thời đề tài có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn có liên quan. Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Kết hợp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, điều tra, so sánh. 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5.1. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài Luận văn xác định rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay dưới góc độ triết học. 5.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Văn hóa là một vấn đề rộng, đa dạng và phong phú, luận văn không đi nghiên cứu toàn bộ về văn hóa dân tộc Sán Dìu mà đề tài đi sâu vào khai thác có hệ thống dưới góc độ triết học về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay. 6. Đóng góp của luận văn Dưới góc độ triết học luận văn góp phần làm rõ thêm bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu và phân tích thực trạng của những tác động của kinh tế thị trường đến bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc. Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị tốt đẹp trong giai đoạn hiện nay. 6 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Kết quả của cuộc nghiên cứu của đề tài có thể sử làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy bộ môn có liên quan như: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin, văn hóa học, dân tộc học, chính sách dân tộc, ở các nhà trường, đồng thời làm tài liệu cho cán bộ hoạch định chính sách quản lý văn hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. 8. Kết cấu Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương, 6 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Chương 1: Bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu – Nội dung và tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay. Chương 2: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay- những nhân tố tác động, thực trạng và giải pháp. 7 NỘI DUNG Chƣơng 1: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU – NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1.1. Khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc 1.1.1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là gì? Câu hỏi được đặt ra từ lâu đối với tư duy của nhân loại, điều này chứng tỏ văn hóa đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, văn hóa được như là một cái gì thiêng liêng đối với mỗi con người, linh hồn của dân tộc. Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, vì thế nó đã tạo nên diện mạo phong phú và đa dạng của đời sống tinh thần của con người, thời đại. Văn hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trở thành thuật ngữ đa nghĩa, trên thế giới hiện nay có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau về văn hóa và nhiều cách tiếp cận khác nhau: * Một số quan niệm về văn hóa ở phương Đông và phương Tây - Ở phương Đông: Thế kỷ VI –Trước Công Nguyên, Khổng Tử đã dùng thuật ngữ “Văn” để chỉ những giá trị đẹp của cuộc sống, trong sự giao tiếp, ứng xử của con người với con người. Cái đẹp ấy không chỉ là cái đẹp ở hình thức, mà nó bao hàm cả cái đúng và cái tốt. “Hoá” nghĩa là biến cải, biến đổi. Và “Văn hoá” là biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra, hướng con người đến cái đẹp và đạt tới chân - thiện - mỹ. Văn hóa sớm xuất hiện trong ngôn ngữ ngay từ Trước Công Nguyên, thời kỳ Tây Hán, trong bài “Chi Vũ” sách “Thuyết Uyển”, Lưu Hướng đã viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng 8 văn đức rồi sau mới dùng vũ lực” văn hóa được dùng để đối lập với vũ lực. Văn hóa phải được hình thành trong môi trường lành mạnh, ở đó con người có những cách ứng xử văn minh, văn hóa mang tính giáo dục cao. Quan niệm về văn hóa theo PGS.TS. Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động và thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”[52,tr.10]. Văn hóa được đề cập khá toàn diện và sâu sắc, văn hóa là một chỉnh thể, vừa mang tính đa dạng vừa là sự thống nhất của nhiều thành tố, thông qua hoạt động thực tiễn của con người những giá trị đó được kết tinh thành văn hóa. Tác giả khẳng định, văn hóa trước hết phải có tính hệ thống để phân biệt với tính tập hợp. Từ đó, tạo nên mối liên hệ giữa các hiện tượng thuộc về văn hóa, những quy luật về sự hình thành và phát triển của nó. Trong định nghĩa trên, tác giả còn cho ta thấy tính “giá trị” của văn hóa. Tính giá trị được nhấn mạnh để phân biệt với phi giá trị. Sự phân biệt đó cho phép ta có được cái nhìn biện chứng khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật hiện tượng, tránh được sự phủ định sạch trơn hay xu hướng cực đoan trong việc tìm hiểu văn hóa. Ở một khía cạnh khác, văn hóa với đặc trưng là tính nhân sinh, cho phép phân biệt như một hiện tượng xã hội để văn hóa (vật chất do con người sáng tạo ra) với các giá trị tự nhiên (nhân tạo). Bàn về văn hóa, GS. Phan Ngọc khẳng định: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các 9 cá nhân hay tộc các người khác”[41,tr.23]. Tác giả quan niệm văn hóa như một thế giới biểu tượng, theo đó văn hóa là hiện tượng vừa phổ biến lại vừa mang tính cá biệt. Nó phổ biến với tính cách một đặc điểm chung của con người, bắt gặp ở mọi thể cộng đồng. Con người ở đâu cũng sống cùng một lúc với hai thế giới, thế giới thực tại và thế giới các biểu tượng. Con người không chỉ sống trong hiện tại mà sống cả trong quá khứ và tương lai, hai yếu tố thuộc thế giới biểu tượng. Cách ứng xử của con người xuất phát từ một hệ thống những nguyên lý trừu tượng của thế giới ý niệm đã hình thành một cách gần như tự nhiên. Ngoài ra, khi nghiên cứu về văn hóa ta có thể thấy trong “Việt Nam Văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh đã đưa ra quan niệm: Người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng, của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chât các dân tộc khác nhau của loài người, nhân thế mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi của văn hoá hay sao? Hai tiếng “văn hoá” chẳng qua chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt. Quan niệm này cũng đã đồng nhất văn hoá với xã hội. Cũng có những định nghĩa khác coi là phong tục, tập quán, tín ngưỡng; lúc thì được coi là chuẩn mực, lối sống… Thật vậy, thuật ngữ văn hóa được sử dụng rộng rãi trong nhiều bộ môn khoa học cụ thể, làm cho mỗi nó tìm thấy những phương diện phù hợp với vấn đề mà nó giải quyết. Tác giả Đào Duy Anh tiếp cận văn hóa trong mối quan hệ của các yếu tố cấu thành nên đời sống xã hội: con người, đời sống sinh hoạt và văn hóa. Con người là chủ thể của văn hóa, là lực lượng sáng tạo nên các giá trị văn 10 hóa thông qua các phương thức sinh hoạt tức là các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, hoạt động nghệ thuậ. Văn hóa với tư cách là những giá trị vật chất và giá trị tinh thần cho con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và trong cuộc đấu tranh xã hội. Chính nhờ có văn hóa mà con người khác với động vật, không phải là động vật. Sự tiến bộ của văn hóa đánh dấu sự trưởng thành của con người trên bước đường tiến hóa văn hóa đã nâng người lên cao hơn động. Qua những nghiên cứu về văn hóa các tác giả hầu hết đi khai thác văn hóa theo chiều cạnh là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, nhưng mới chỉ dừng lại ở góc độ văn hóa học chưa thực sự nêu bật được bản chất của văn hóa. - Ở phương Tây: Văn hóa còn được quan niệm là những giá trị tinh thần. Theo tiếng Latinh là Cultus animi là trồng trọt tinh thần. Do đó, văn hóa được tìm hiểu bởi hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất: Văn hóa được hiểu như là một sự “gieo trồng tư tưởng”. Khía cạnh thứ hai: Xem văn hoá như là “tự nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra và đối lập với “tự nhiên thứ nhất”. Đây là cách xem xét phổ biến trong quan niệm của các nhà tư tưởng thời kỳ Phục Hưng và Cận Đại. Ở giai đoạn này, người ta đã nhận thấy văn hoá là kết quả của sự phát triển của con người, đồng thời văn hoá là đặc trưng và cơ sở để hình thành nên con người xã hội. Có thể nói, trường phái triết học duy tâm cổ điển Đức đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc xây dựng khái niệm văn hoá, tiêu biểu là I.Kant và G.W.F.Hegel. Theo I.Kant: Văn hoá là giá trị của con người, hay đó là: Sự phát triển những lực lượng tự nhiên của con người và là khả năng lấy mình làm mục đích, bằng cách sử dụng tự nhiên làm phương tiện để đạt được mục đích tự do và khả năng của con người có thể lấy mình với tư cách một tồn tại tự do làm mục đích cuối cùng của sự tồn tại của mình. Ở đây I.Kant đã coi con người là tồn tại tối cao, với quan niệm này đưa ông tới chỗ tuyệt đối hoá 11 vai trò của con người trong việc sáng tạo ra các giá trị văn hoá và dẫn con người ta đến chỗ đối lập tuyệt đối với tự nhiên, tự coi mình là kẻ có quyền “bóc lột” tự nhiên và hành động như thế tất yếu sẽ bị “trả giá” trước sự tác động của tự nhiên đối với con người. Những tác động có hại của tự nhiên đối với con người như hạn hán, bão lụt, những tác động của biến đổi khí hậu ngày nay đang đặt con người trước những khó khăn thách thức nhất là trong giai đoạn hiện nay. Đối với G.W.F Hegel, một nhà triết học cổ điển Đức, xem xét khái niệm văn hoá bằng cách ra một loạt mối quan hệ nhân cách - văn hoá, tìm hiểu về sự kế thừa trong phát triển văn hoá, về tính phổ quát của các quá trình xã hội - văn hoá. Mặc dù G. W.F Hegel đã nhận thấy yếu tố qua trọng của con người là xã hội và trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá. Tuy nhiên, sự lý giải của ông còn thiếu tính toàn diện, thường mâu thuẫn và mang nặng tính tư biện. Với quan niệm về thế giới “ý niệm tuyệt đối” đã đưa ông đến quan điểm đồng nhất văn hoá với hoạt động sản xuất tinh thần được thể hiện thông qua bộ phận tri thức xã hội. Hegel đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của tồn tại hiện thực đối với lịch sử phát triển của văn hoá. Ông coi sự phát triển của văn hoá là sự biến đổi bản thân ý thức chủ quan về thế giới chỉ thuộc về cái gọi là “ý niệm tuyệt đối” chứ không liên quan gì đến hiện thực. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cả phương Đông và phương Tây, về cơ bản đều thống nhất văn hóa là tất cả những giá trị do con người sáng tạo ra. Đó là các giá trị trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn. Do đó, văn hóa là đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt giữa con người và con vật. * Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về văn hóa. - Quan niệm của C.Mác – Ph. Ăngghen về văn hóa. 12 Lao động là hoạt động mà ở đó xác lập và thể hiện mối quan hệ giữa con người – tự nhiên, con người – xã hội và con người văn hóa, thông qua lao động con người cải biến tự nhiên, tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của mình, lao động là đặc thù của con người. C.Mác khẳng định Mỗi bước tiến của lịch sử là một bước tiến của văn hóa”, chủ nghĩa Mác thú nhận nó với tư cách là một hệ giá trị, bị chi phối bởi các điều kiện lịch sử, năng lực thực hiện. Khi so sánh hoạt động của con người và động vật, Trong Bản Thảo kinh tế triết học 1844. C.Mác cho rằng: “Cố nhiên súc vật cũng sản xuất, nó xây dựng tổ, chỗ ở của nó như con ong, con Hải Ly… nhưng súc vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó trực tiếp cần đến, nó sản xuất một cách phiến diện; còn con người thì sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất và bị chi phối vởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cả khi được giải phóng khỏi nhu cầu của thể xác và chỉ khi giải phóng khỏi nhu cầu mới sản xuất chân chính của chữ đó, con vật mới sản xuất ra bản thân nó, còn con người sản xuất ra toàn bộ thế giới tự nhiên”[34,tr.136,137]. Con vật chỉ chế tạo theo kích thước và nhu cầu của loài đó, còn con người có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào ở đâu cũng biết vận dụng cái bản chất có hữu của mình; Do đó con người cũng chế tạo theo quy luật của cái đẹp. Như vậy, có thể nói việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái đẹp là cái thuộc tính bản chất, quy định cái văn hóa trong hoạt động của con người. Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành và phát triển con người thì văn hóa là cái nôi thứ hai. Nếu tự nhiên là cái quyết định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinh vật thì văn hóa là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực của bản chất người gắn liền với các hoạt động sống của con người. 13 Trong Luận cương thứ 6 về Phoi ơ bắc C.Mác đưa ra luận điểm: “Bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”.[31,tr.11]. Theo đó không có con người trừu tượng thoát ly mọi hoàn cảnh xã hội. Trong điều kiện hoạt động thực tiễn của mình con người đã tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần đó chính là văn hóa. Có thể nói hoạt động xã hội của con người là tiền đề cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội và văn hóa cũng được kế thừa trong tiến trình phát triển của nhân loại. - Quan điểm của Lênin về văn hóa. Kế thừa và phát triển các quan điểm của triết học Mác, V.I. Lênin đã phân tích sâu sắc thêm về mặt xã hội của văn hóa với cách tiếp cận từ lý luận về Hình thái kinh tế - xã hội. Lênin đã đưa ra nguyên tắc quan trọng trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới. Đó là những nguyên tắc quan trọng trong tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hóa; xác định sự nghiệp vền văn hóa là bộ phận trong guồng máy cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Theo Lênin, văn hóa vô sản có khả năng phát triển toàn diện năng lực bản chất của con người cho nên nó phải là sự kế thừa có phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại để phát triển lên một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa và bản chất người. Lênin có đưa ra: Văn hóa vô sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải là do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản phát minh ra…văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số kiến thức mà loài người đã tích lũy được dưới ách áp bức của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và của xã hội của bọn quan liêu. Xem xét trên khía cạnh triết học chủ nghĩa Mác – Lênin cho thấy, văn hóa phản ánh toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn. Chỉ có lao động, tác động vào giới tự nhiên, thì hoạt động đó là điều kiện để phân biệt giữa con người với súc vật. 14
- Xem thêm -