Tài liệu Giáo trình phân tích kinh doanh

  • Số trang: 150 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 222 |
  • Lượt tải: 1
tranvantruong

Đã đăng 3224 tài liệu

Mô tả:

giáo trình phân tích kinh doanh
Chủ biên: PGS. TS. NGUYỄN VÀN CÔNG Giáo trình PHÂN TÍCH KINH DOANH NHÀ XUÁT BẢN ĐẠI HỌC K INH TẾ QUỐC DÂN Hà Nội, 2009 C hương 1 C ơ SỞ L Ý L U Ậ N C Ủ A PH Â N T ÍC H K IN H D O A N H 1.1. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ CỦA PHÂN TÍCH KINH DOANH 1.1.1. Khái niệm và mục đích của phân tích kinh doanh “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một sổ hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiếu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” ‘ - Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chỉ rõ bản chất của kinh doanh. Chính vì vậy, có thể khẳng định; ĩĩiọi hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành đều nhắm tới mục đích sinh lợi^. Nhà nước Cộng họa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng công hhận sự tồh tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm sự bình đẳng trướé pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế, thừa nhận tính sinh lợi hợp phảp của hQạt iđồng kinh doanh. , ^Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh cỏ hiệu quà, các nhà quân ‘trị phải tiến hành các L' aĩ động quản trị kinh doanh Hoạt động quản írị kinh doanh ứ ứ ;c hiểu iồ tổ rg hợp các hc'tt động kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện và kiểm tra sự kết hợp các yếu tố sản xuất sao cho hiệu quả nhất phục vụ cho mục tiêu phát triển eủa doanh nghiệp. Trong quá trình tiến hành hoạt động quản trị kinh doanh, các nhà quản trị phải sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau, trong đó có phân lích kinh doanh. Phân tích kinh doanh (business analysis) là thuật ngữ sử dụng để chỉ quá trình nghiên cứu toàn bộ hoạt động của một ' Đ iều 4, m ục 2 - L u ật D o a n h ngh iệp (Luật s ố 6 0 /2 0 0 5 /Q H II - Q u ốc h ội n ư ớc C ộng hòa X ã h ội chù nghĩơ Việt Nam K h óa Xỉ, kỳ họp thứ 8, thông qu a n gày 2 9 tháng ỉ ỉ năm 2005. N ói như vữ > ' không cỏ nghĩa ỉà-doanh nghiệp không tham g ia các h oạt đ ộ n ỵ kHác (hoạt đ ộ n g từ thiện và cá c h oạt đ ộn g m ang tính x ã hội) m à m uốn nhấn m ạnh đến m ục đích h ay m ục tiêu của doanh nghiệp (Tảc g iá - TG). doanh nghiệp với mục đích sinh lợi. Nói cách khác, phân tích kinh doanh là việc phân chia các hoạt động, quá trình và kết quả kinh doanh ra thành các bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra bản chất, tính quy luật và xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng nghiên cứu; tính toán, truyền đạt và xác định yêu cầu cho việc thay đổi quá trình kinh doanh, chính sách kinh doanh và hệ thống thông tin. Phân tích kinh doanh hiểu được các vấn đề kinh doanh và cơ hội kinh doanh, trong đó chứa đựng các yêu cầu cụ thể, cần thiết và đề xuất các giải pháp khả thi để đạt được mục đích kinh doanh. Phân tích kinh doanh gắn liền với mọi hoạt động của con người. Trong quá trình tiến hành các hoạt động, con người thường xuyên điều tra, tính toân, cân nhắc, soạn thảo và lựa chọn các phương án hoại động tối ưu, sao cho với tổng chi phí thấp nhất mà đem lại tổng kết quả cao nhất. Mặt khác, cũng trong quá trình hoạt động, con người cũng thường xuyên đánh giá kết quả công việc thực hiện, rút ra những thiếu sót, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả, vạch rõ tiềm năng chưa được sử dụng và đề. ra biện pháp khắc phục, xử lý và sử dụng kịp thời để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động. Cùng với hạch toán kế toán và các khoa học kinh tế khác, phân tích kinh doanh là một trong những công cụ cung cấp thông tin một cách hữu ích, giúp cho các nhà quản lý có cơ sở để điều hành một cách hiệu quả toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Tiền thân của phân tích kinh doanh là phân tích kế toán. Theo đó, các nhà quản lý tiến hành phân tích các thông tin do kế toán cung cấp liên quan đên hoạt động kinh doanh dể có biện pháp chỉ dạo, điều hành kịp thời các hoạt động. Theo sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu thông tin cung cấp cho quản lý ngày càng đa dạng, phức tạp, chất lượng Ihông tin ngày càng cao, do vậy, phân tích íế toán không đáp ứng đủ. Vì thế, từ phân tích kế toán, các nhà quản lý chuyển sang phân tích hoạt động kinh doanh và từ phân tích hoại động kinh doanh chuyển sang phân tích kinh doanh phân tích toàn bộ hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, mục đích tối cao và tột cùng của phân tích kinh doanh cũng chính là mục đích của kinh doanh: giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Phân tích kinh doanh là một công cụ hưu hiệu nhằm đánh giá chính xác thực trạng kết quả và hiệu quả kinh doanh, kết quả và hiệu quả của các hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính trong quan hệ mật thiết với hoạt động sản xuât - kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa vào thông tin do phân tích kinh doanh cung cấp, các nhà quản lý có căn cứ để đề ra các quyết định liên quan đến thu mua, sản xuất, tiêu thụ, đầu tư hay huy động vốn. Mặt khác, phân tích kinh doanh còn là một công cụ dự báo các điều kiện và kết quả, hiệu quả kinh doanh trong tương lai và là công cụ “chẩn đoán bệnh” xác định tình trạng hiện tại của doanh nghiệp - khi đánh giá các hoạt động sản xuất - kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính mà doanh nghiệp tiên hành cũng như đánh giá chính xác các quyết định quản trị và các quyết định kinh doanh khác. Có thể nói, phân tích kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cône tác quản trị doanh nghiệp, là cơ sở và là căn cứ giúp cho các nhà quản Irị doanh nghiệp ichắc phạc được những khiếm khuyết trong hoạt động, phát huy những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Trên cơ sở đó, các nhà quản lý đề ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn quvết định phương án kinh doanh tối ưu sao cho hiệu quả đạt được là cao nhất. 1.1.2. Nhiệm vụ của phân tích kinh doanh Là một công cụ quan trọng và hữu ích của quản lý, phân tích kinh doanh có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ nhừng thông tin liên quan đến toàn bộ hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành - cả về kết quả và hiệu quả hoạt động - giúp cho các nhà quản lý nẳm được thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, xác định chính xác và chẩn đoảtì tình trạng hiện tại của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà quản lý có căn cứ khoa học, tin cậy cho việc đề ra các quyết định kinh doanh hữu hiệu. Để đạt được mục đích của minh, phân tích kirih doanh phải thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: - Đảnh giá khái quát kết quả và hiệu, quả đạt được trong kỳ: Đe đánh giá khái quát kết quả và hiệu quả đạt được trong kỳ, các nhà phân tích sử dụng phưong pháp so sánh: So sánH kết quả vậ hiệu quả thực tế đạt được trong kỳ với mục tiêu kế hoạch đặt ra; so sánh kết quả và hiệu quả thực tế đạt được kỳ này với kết quả và hiệu quả thực tế đạt được kỳ trước hay so với kết quả và hiệu quả thực tế đạt được cùng kỳ năm trước. Qua đó, đánh giá được mức độ thực hiện kế hoạch và tốc độ tăng trưỏmg của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các nhà phân tích còn so sánh kêt quả và hiệu quả thực tế đật được trong kỳ của doanh nghiệp với kết quả và hiệu quả thực tế đạt được của các doanh nghiệp khác cùng ngành, cung khu vực hay so với trị số kết quả và hiệu quả thực tế bình quân chung của ngành, của các doanh nghiệp khác. Từ đó, xác định được vị trí hiện tại của doanh nghiệp (trung bình, cao ha>' yếu kém). Cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác trên các mặt hoạt động của doanh nghiệp cả về kết quả, hiệu quả cũng như các nguyên nhân, các nhãn tổ ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tổ: Ngoài việc đánh giá khái quát kết quả và hiệu quả của các họạt động, phân tích kinh doanh còn có nhiệm vụ cung cấp kịp thời, đây đủ và chính xác thông tin vê kêt quả, hiệu quả và các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính cũng như các thông tin về tình hình tài cHính và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các thông tin dố phân tích kinh doanh bao gồm cả các thông tin chung cũng như các thông tin chi tiết, cụ thể về từng đối tượng, từng hoạt động, từng lĩnh vực thông tin. - Đ ề xuất các giải pháp để không ngừng nãng cao kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Không dừng lại ở việc đánh giá khái quát và cung cấp thông tin về các mặt hoạt động cửa doanh nghiệp, phân tích kinh doanh còn có nhiệm vụ chỉ rõ những tồn tại, những hạn chế trong quản lý; những tiềm năng chưa khai thác, sử dụng; các điều kiện vận dụng từng giải pháp và xu hướng tác động của từng giải pháp; ... Từ đó, phân tích kinh doanh đề xuất các giải pháp và biện pháp cần thiết để động viên, khai thác các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp một cách có hiệu quả. 8 1.2. ĐÓI TƯỌĨ^G VÀ NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u CỦA PHÂN TÍCH KINÌi DOANH 1.2.1. Khái quát chung về đối tượng và nội dung nghiên cứu của phân tích kinh doanh Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh - hoạt động kiếm lời - các doanh nghiệp không chỉ tiến hành đơn thuần hoạt động kinh doanh mà còn phải tiến hành đồng thời hàng loạt các hoạt động khác nhau. Các hoạt động này không giống nhau cả về tính chất hoạt động, mục đích hoạt động, phương thức hoạt động, kết quả và hiệu quả hoạt động, ... và thường được xem xét, tiếp cận trên nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, trong quan hệ với mục đích kinh doầnh, căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động của từng hoạt động, toàn bộ hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành có thể chia làm 3 hoạt động: Hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Các hoạt động này có m ối.biện chứng, tác động qua lại và thúc đẩy hay kìm hãm lẫn nhau. Hoạt động kinh doanh ià hoạt động tạo ra doanh thu và lợi nhuận chù yếu cho doanh nghiệp. Thuộc hoạt động kinh doanh bao gồm các hoạt động sản xuất, hoạt động thương mại, hoạt động dịch vụ mà doanh nghiệp tiến hành (kể cả hoạt động đầu tư chứng khoán và công cụ nợ phục vụ cho mục đích thương mại mua vào để bán). Hoạt động đầu tư là hoạt động liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượiig bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu lư tài chính khác không thuộc các khoản tương đương tiền. Thuộc hoạt động đầu tư bao gồm các hoạt động như: đầu tư tài sản cố định, đầu tư bất dộng sản, đầu tư tài chính, ... Các hoạt động về đầu tư bất động sản và đầu tư tài chính là nhừng hoạt động góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, còn hoạt động đầu tư tài sản cố định là hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh doanh, bảo đảm cơ sở vật chất - kỹ thuật cho hoạt động kinh doanh liến hành thuận lợi. Hoạt động tài chính là những hoạt động có liên quan đến việc thay đổi về quỵ niô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp như: hoạt động phát hành hay mua lại cổ phiểu, trái phiếu; hoạt động vay và trả nợ vay; hoạt động chi trả cổ tức và các hoạt động khác làm thav đổi cấu trúc tài chính của doanh nahiệp (chi tiêu các quĩ doanh nghiệp, nhận và trả vốn góp, chi trả nợ ihuê lài chính, ...). Cũng như hoạt động đầu tư tài sản cố định, hoạt dộng tài chính là những hoạt động được tổ chức ra để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, bảo đảm vốn để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động. Để hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả cao, các nhà quản trị cần phải xem xét lình hình sử dụng các yếu tố cơ bản trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh, đánh giá khả năng tổ chức quản lý sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. BỞỊ vì, kết quả sử dụng của từna yếu tố và kết quả sử dụng tổng hợp các yếu tổ sản xuất, tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lữợng cao, chi phí sản xuất thấp, giá thành hạ là nhờ các cuyêt định điều hành sản xuất - kinh doanh của lãnh đạo và các phòng ban nghiệp vụ chuyên môn của doanh nghiệp. Thông qua việc xem xét, đánh giá kết quả và hiệu quả sử dụng các yếu tổ cư bản của quá trình kinh doanh, các nhà quản lý sẽ nắm được mổi quan hệ giữa các yếu tố sản xuất với kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh, nắm được các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc sử dụng các yếu tổ, nhất là những nguyên nhân hạn chế, ảnh hưởng đến khai thác năne lực sản xuất của doanh nghiệp, l ư đó, có thể tìm được các giải pháp thích hợp để khai thác hiệu quả tiềm năng của doanh nghiệp, làm íợi cho hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Gắn chặt với hoạt động kinh doanh là hoạt động đầu tư và hoạt động 13! ch-nh. CÁC hoạt độne này là r.hữag bộ phận hợp thành không thế thiếu dược của hoạt động kinh doanh. Như đã biết, hoại dộng tài chính gắn Irực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phôi, sử dụng và qụản lý vôn trong quá trình kinh dpanh, bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh tiến hành được thuận lợi. Để tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, đoi h(M các doanh nghiệp phải có m ột lượng vốn nhất định. Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức, huy động các loại vốn cần thièt cho nhu cầu hoạt động kinh doanh hiện tại cũng như đáp ứng dủ vốn chp nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thể tiến hành hoạt động kinh doanh hay hoạt động đầu tJ nếu như không có vốn. Vì thế, có thể nói, hoạt động tài chính là cớ 10 sở và điều kiện để tiến hành hoại độníĩ đầu tư và hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó. hoạt dộna đầu tư cũng có quan hệ chặt chẽ và tác động tích cực đổi vói hoại động kinh doanh và hoạt động tài chính. Hoạt động đầu tư có hiệu quả, đầu tư đúng mục đích, sử dụng vốn đầu tư hợp iy. bao dảm yêu cầu của hoạt động kinh doanh không nhừnẹ bảo dảm dồnsi vốn do hoạt động tài chính khai thác được sử dụna tici kiệm, hiệu quả mà còn là điều kiện để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh tiến hành thuận lợi. Hoạt động kinh doanh không thể có hiệu quả cao nểu như hoạt động đầu tư không bảo dảm đu ccác điều kiện thiết yếu để tiến hành kinh doanh. Đen lượt minh, hoạt động kinh doanh một khi đã có hiệu quả sẽ bảo đảm điều kiện cần ihiết đê cải thiện và tăng cường hoạt động tài chính và hoạt độrm đầu lư. Hoạt động kinh doanh tốt sẽ mang lại nhiều lợi nhuận, cải thiện được tình hình tài chính, thúc đảj hoạt động tài chính ngày càng lành mạnh. Tưưng tự, hoạt động kinh doanh đúng hướng, hiệu quả sẽ là căn cứ để xây dựng kế hoạch đâu tư, thúc dây hoạt độns, đâu tư ngày càng mang !ại hiệu quả cao. Tóm lại, hoạt động kinh doanh có hiệu quả sẽ tạo điều k.iện thuận lợi cho họạt (lộng tài chính và hoạt động đầu tư và ngược lại, nhờ bảo đảm được hiệu quả hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư mới bảo đảm được hiộu quả hoạt động kinh cỉoanh, thúc đẩy đuợc hoạt động kinh doanh phát triển, nâng cao dược năng lực sản xuất. Không Ihè nóì hiộu quà hoạt độnẹ sản xuất - kinh doanh của (ioaiìh !lịÀlliộP khi hiệu quả hoạt dộng tài chính và hiệu quả đầu tư lại thấp và ngược lại, hoại động lài chính và hoại động đầu tư có hiệu quả cao sẽ góp phần thúc dẩy và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Dây là một mối quan hệ biộn chứng, tác độnạ tươim hỗ lẫn nhau, lio ạt động sản xuất kinh òoanh là tiền đề của hoạt c1'}ne tài chính và hoạt động đầu lư. o ồng thời, đến lượt mình, khi doanh nghiệp nâng cao được hiệu auả hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư sẽ thúc đẩy phát irién năng lực và hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh. Có thể khái quát mối quan hệ giữa các hoạt động của doanh nghiệp qua Sơ đồ sau: 11 Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các hoạt động của doanh nghiệp 1.2.2. Đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh doanh C ùng'với sự phát triển của nền kinh tế, phân tích kinh doanh ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cả về lý luận và thực tiễn, trở thành một môn khoa học độc ĩập có đối tượng nghiên cứu riêng. Lĩnh vực nghiên cứu của phân tích kinh doanh chính là hoạt động sinh lợi cùng những hoạt động phục vụ cho việc sinh lợi của doanh nghiệp. Chính vì vậy, phân tích kinh doanh lấy kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp biểu liện qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế cụ thể gắn với các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh làm đối tượng nghiên cứu của mình. Trong liền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển, đòĩ hỏi doanh nghiệp phải biết cách kinh doanh, kinh doanh phải có hiệu quả. Đe cho kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở các nguồn nhân tài, vật lực hiện có, doanh nghiệp cần phải xác định được phương hướng, biện pháp đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện sẵn có. Muốn vậy, cần thiết phải nắm được các nguyên nhân ảnh hưởng, mức độ và xu hướng ảnh hưởng của từng nguyên nhân đến kết quả và hiệu quả hoạt động của mình. Việc xem xét kết quả và hiệu quả kinh doanh trong mối quan hệ với các nguyên nhân ảnh hưởng cũns cho thấy được 12 tính toàn diện, khoa học và biện chứng của phân tích kinh doanh. Không một kết quả hay hiệu quả hoạt động nào của doanh nghiệp lại tách khỏi môi trường kinh dọanh mà doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Do môi trường kinh doanh biến động không ngừng, thường xuyên Ihay đổi nên đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải nồ lực phấn đấu để không những bảo đảm cho doanh nghiệp tồn tại mà còn phát triển bền vững, ổn định, thắng lợi trong cạnh tranh. Kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả và hiệu quả của toàn bộ hoạt động cũng như kết quả và hiệu quả của từng khâu, từng giai đoạn, từng quá trình, từng hoạt động họp thành (hoại động cung cấp, hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính, ...)• Ket quả và hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được phải được biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể. Chi tiêu kinh tế là thuật ngữ mang tính ổn định, được sử dụng để xác định nội dung và phạm vi của kết quả và hiệu quả kinh doanh. Mỗi chỉ tiêu có thể có nhiều giá trị tùy thuộc vào thời gian và địa điểm cụ ứiể. Những giá trị cụ thể đó được gọi là trị số của chỉ tiêu. Do kết quả và hiệu quả kinh doanh có nội dung và phạm vi khác nhau nên hệ thống chỉ tiêu biểu hiện cũng bao gồm nhiều loại, chẳng hạn chỉ tiêu so lượng (phản ánh qui mô của kết quả hay điều kiện kinh doanh) và chỉ tiêu chất lượng (phản ánh hiệu quả kinh doanh hay hiệu suất sử dụng các yếu tổ); chỉ tiêu thể hiện bằng số tuyệt đối, thể hiện băng số tương đối, thể hiện bằng số bình quân, v.v... Kết quả và hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp đạt được lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Mỗi biến động của từng nhân tố đều có thể xác định dược xu hướng và mức độ ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh. Nói cách khác, nhân tổ là những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh mà người la có thể tính toán được, lượng hoá được mức độ ảnh hưởng. Nhân tố cũna bao eồm nhiều loại (nhân íố số lượng, nhân tố chất lượng; nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực; nhân tố khách quan, nhân tố chủ quan; nhân tố bên trong, nhân lố bẽn ngoài, ...), nhưng khi phân tích, cần gắn với các nhân tố 13 chủ quan là nhân tố phản ánh nỗ lực của bản thân doanh nghiệp để đánh giá. Khi phân tích, cần chú ý phân biệt giữa chỉ tiêu và nhân tố trong từng nội dung phân tích. Sự khác biệt giữa chỉ tiêu và nhân tố có ý nghĩa tương đổi mà không có ranh giới rõ ràng và chúng có thể chuyển hoá cho nhau. Chẳng hạn; Lượng hàng hoá tiêu thụ là chỉ tiêu khi đánh giá kết quả tiêu thụ nhưng lại là nhân tố khi phân tích lợi nhuận về tiêu thụ, v.v... Như vậy, đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh doanh là kết quả và hiệu quả kinh doanh cụ thể biểu hiện qua hệ (hống các chỉ tiêu kinh tế gắn liền với các nhân to ảnh hưởng. 1.2.3. Nội dung nghiên cứu của phân tích kinh doanh Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu đã xác định, phân tích kinh doanh hướng trọng tâm vào các nội dung chủ yếu sau; - Phân tích hoạt động kỉnh doanh: Bản thân hoạt động kinh doanh bao gồm nhiều hóạt động, nhiều quá trình và nhiều khâu hoạt động khác nhau hợp thành. Bởi vậy, nội dung phân tích hướng tới kết quả và hiệu quả cùng với các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả cửa từng hoạt động hoạt động kinh doanh cũng như toàn bộ hoạt động kinh doanh như: Hoạt động cung cấp, hoạt động sản xuất và hoạt động tiêu thụ. - Phân tích hoạt động đầu tư: Cũng như hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư trong các doanh nghiệp cũng được hợp thành từ các hoạt động đầu tư khác nhau, bao gồm: đầu lư tài sản cố định, đầu tư bất động sản và đầu tư tài chính. Do vậy, nội dung phân tích kinh doanh đối với hoạt động đầu tư được gắn với kết quả, hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến từng hoạt động đầu tư cũng như toàn bộ hoạt động đầu tư mà doanh nghiệp tiến hành. Từ đó, đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động; chỉ rõ các nguyên nhân ảnh hưởng và vạch rõ tiềm năng cùng các giải pháp để khai thác tiềm năng. - Phân tích hoại động tài chính: Để bảo đảm vốn cho các hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu lư, doanh nghiệp phải tiến hành hàng loạt các hoạt động tài chính khác nhau (hoạt động phát hành hay mua lại cổ phiếu, 14 trái phiếu; hoạt động vay và irả nợ vay; ...). Do vậy, đối với hoạt động tài chính, phân tích kinh doanh cũng lấy kết quả và hiệu quả cùng với tá c nhân tố ảnh hường đến kết quả và hiệu quả của từng hoạt động hoạt động tài chỉnh cũng như toàn bộ hoạt động tài chính làm nội dung nghiên cứu của mình. - Phân tích lình hình tài chính: Kểí quả và hiệu quả của toàn bộ các hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành (hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chinh) có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hinh tài chính doanh nghiệp và nRược lại, tình hình tài chính thể hiện khá.rõ nét chất lượng của các hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành. Vì thế, tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng là một trong những riội dung quan trọng mà phân tích kinh doanh nghiên cứu. - Phân tích hiệu quà kinh doanh tổng quát: Để khắc phục tính rời rạc, tản mạn trong phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động trên từng mặt, từng hoạt động, từng quá trình, cần thiết phải tiến hành phân tích hiệu quả kinh doanh tổng quát. Hiệu quả kinh doanh tổng quát được xem xét trên nhiều góc độ và nhiều cấp độ hiệu quả khác nhau như: Hiệu quả kinh doanh chung, hiệu quả sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. 1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIỆP v ụ - KỸ THUẬT PHÂN TÍCH KINH DOANH Để tiến hành phân tích kinh doanh, người ta thường sử dụng các phương pháp cụ IhO, mang tính nghiệp vụ - kỹ thuật sau; 1.3.1. Phương pháp so sánh So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biên trong phân tích nói chung và phân tích kinh doanh nói riêng nhăm đánh giá kểt quả, xác định vị trí và xu liướng biến động của đối tượng nghiên cứu. Để áp dụne phươna pháp so sánh, các nhà phân tích cần phải cliú trọng đến các nội dung cơ bản của phương pháp như:, điều kiện so sánh được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cửu; gốc so sánh, các dạng so sánh chủ yếu. Trước hết, chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu muốn so sánh được phải bảo đảm thống nhấi về nội dung kinh tế phản 15 chiếm trong tổng thể. Thông qua số tươne đối kết cấu, các nhà Ịíhân tích chỉ rõ: trong một tổng Ihể, từng bộ phận cấu thành chiếm tỷ trọng bao nhiêu %. Tý trọng rủa bộ phận i ^ Trị sÁ cúa bà phận i chìếnurong tông thé “ n ũ ô cúatòng Ihể ^ + SỐ tương đổi hiệu suất: Sổ tương đối hiệu suất (hay hiệu quả) được sử dụng để phản ánh tổng quát chất lượng kinh doanh. Khi sử dụng sổ tươne, đối hiệu suất, các nhà phân tích tiến hành so sánh tổng thế phản ánh chất lượng, với tổng thể phản ánh sổ lượng hoặc ngược lại. SỐ tương đối Tr/ 50 cìn tiêu chất luựng hiệu suãt @. lượng So sánh bằng số bình qiiãn: Để phản ánh đặc điểm điển hình của 1 tổ, 1 bộ phận, 1 đơn vị, ... người ta tính ra số bình quân bằng cách san bàng mọi chênh lẹch về trị số của chỉ tiêu, bỏ qua những đặc trưng cá biệt. Do vậy, khi so sánh bằng số bỉnh quân, các nhà quản lý sẽ biết được mức độ mà đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể. của ngành. Ví dụ: Năng suất lao động bình quân, tiền ỉương bình quân, số ngày làm việc bình quân của một công nhân sản x u ấ t,... 1.3:2. Phương pháp chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu Mọi quá trình kinh doanh và kết quả kinh dpanh đều có thê và cần thiết chi tiết Iheo nhiều hướng kliác nhau nhầm đánh giá chính xác kết quả đạt ciược. Bởi vậy, khi phàn tích, có thế chi tiêt chỉ tiêu phản ánh đoi iưirng nghiên cứu Iheo các hướng khác nhau như: theo bộ phận cấu thành, theo thời eian và ihco địa điêm phát sinh. Sau đó, mói tiên hành xern xét, so sánh mức độ đạt được của từng bộ phận (kv phân tích so vứi kv gốc) và mức độ ảnh hưởng của lừng bộ phận đến tổne; thể cũnẹ như xem xét tiến độ thực hiện và kết quả đạt được tronc từng thời gian hay mức độ đóng góp của từiiíí bộ phận (phân xưỏne, tô, đội, vào kết quả chung. Việc xem xét chỉ tiêu phản áiih đối lưcms Tiííhiên cứu theo 22 bộ phận cấu thành giúp các nhà quản lý đánh giá được chính xác vai trò và vị trí của từng bộ phận trong việc hình thành kêt quả và hiệu quả kinh doanh chung. Tương tự, bằng việc xem xét chỉ tiêu phản ánh đổi tượng nghiên cứii theo thời gian, các nhà quản lý sẽ có những quyết định kịp thời, sát thực với tliih hình cụ thể để chỉ đạo sát sao tiến độ kinh doanh cũng như giải quyết cậc tình huống bất trắc phát sinh. Việc xem xét chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo không gian (địa điểm) sẽ là căn cứ quan trọng để các nhà quản lý ra các quyết định liên quan đến việc xác định địa bàn kinh doanh trọng điểm, quyết định mở rộng hay thu hẹp địa bàn kinh doanh, đánh giá đúng kết quả thực hiệii hạch toán kinh doanh nội bộ, phát hiện các điển hình tiên tiế n ,... Chẳng hạn, khi phân tích chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, có thể chi tiết lợi nhuận theo các bộ phận cấu thành (lợi nhuận bán hàng, lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận khác) hay chi tiết lợi nhuận theo thời gian trong năm (tháng, quý) hoặc chi tiết lợi nhuận theo dịa điểm (lợi nhuận của từng đơn vị trực thuộc; lợi nhuận từng quây hàng, cửa hàng; lợi nhuận của từng địa bàn kinh doanh; lợi nhuận từng khu vực, ...)• 1.3.3. Phương pháp loại trừ Để xác định xu hưóng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu phản ánh đổi tượng nghiên cứu, các nhà phân tích sử dụng phương pháp loại .trừ.. Đặc trưng cơ bản của phương pháp loại trừ là luôn đặt đối tượng nghiên cứu vào các trường họfp giả định khác nhau; từ đó, lân lượt xác định và loại trừ mửc độ ành hưởnu của-từng nhân tố đển sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của đối tượng nghiên cửu. Trong thực tế, phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích dưới hai dạng; dạng thay thế liên hoàn (gọi là phương pháp thay thế liên hoàn) và dạng số chênh lệch (gọi là phương pháp số chênh lệch). v ề cơ bản, điều kiện vận dụng, qui trình vận dụng (trình tự vận dụng) phương pháp thay Ihế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch giống nhau. Địểm khác biệt giữa chúng là cách thức xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và phạm vi áp dụng của từng phương pháp. Cụ thể, điều kiệii vận dụng và qui trình vận dụng của phương pháp loại trừ gôm các bước công việc sau: 23 Bước 1 / X ác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu: Tùy theo miic đích và nội dung nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh doanh có thể được thể hiện cua các chỉ tiêu phản ánh khác nhai:. Bởi vậy, trong bước này, các nhà phân tích phải xác định được chỉ tiêu phản ánh đối tưọng nghiên cứu. Chăng hạn, khi nghiên cứu kêt quả tiêu thụ, các nhà phân tích có thê sử dụng các chỉ tiêu như: lợi nhuận thuân vê tiâu thụ, lợi nhuận gộp về tiêu thụ, doanh thu thuần về tiêu thụ, tổng doanh thu tiêu thụ, sản lượng tiêu thụ, ... Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ lựa chọn và xác định chỉ tiêu phù hợp phản ánh kết quả tiêu thụ trong số các chỉ tiêu đă nêu. @ . Bước 2 / Xác định các nhân tố ảnh huởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu: Ket quả và hiệu quả kinh doanh 'cụ thể chịu ảnh hưởng của rât nhiều nguyên nhân và nhân tố khác nhau. Bởi vậy, chỉ tièu phản ánh đối tượng nghiên cứu cũng chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động tưoTig ứng. số lượng nhân tố ảnh hưởng có thể mở rộng háy thu hẹp tùy thuộc và mục đích phân tích và nguồn tài liệu phân tích. Chẳng hạn, khi phân tích kết quả sản xuẩt về mặt qui mô, chỉ tiêu “Tông giá trị sản xuât năm” của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tổ khác nhau như: - Số lượng công nhân sản xuất bình quân năm và năng, suất lao động bình quân năm một công nhân sản xuất; - Số lượng công nhân sản xuất bình quân năm, sổ ngày laO) động bình quân năm một công nhân sán xuất và năng suất lao. động bình quân ngày một công nhân sản xuất; - Sô lượng công nhẩn sản xuầt hình quẩn năm, số ngày laoi động binh quân năm một công nhân sản xuất, số giờ lao động, bình quân ngày một công nhân sản xuất và năng suất lao động; bình quân giờ một công nhàn sản xuất; - V . v . . . Căn cứ vào mục đích phân tích và nguồn tài liệu sẵn có,, các nhà phân tích sẽ xác định \ ’à lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng; đến chỉ tiêu “Tổng giá trị sản xuất năm” của doanh nghiệp. Trong; điều kiện cho phép, việc phân tích càng chi tiểt, càng nhiều nhấni tò ảnh hưởng càng tổt vì kết quả phân tích sẽ cho phép đánh giái 24 và chỉ ra được các nguyên nhân, nhân tố tác động đến kết quả (hay hiệu quả) công việc. Từ đó, có căn cứ để đưa ra các giải pháp hữu ích nhàm cải thiện tình hình, khai thác thế mạnh và tiềm năng trong các kỳ tới. Bước 3 / Xây dựng phương trình kinh tế phản ánh m ối quan hệ giữa các nhăn tổ ảnh hưởng với chỉ tiêu phản ánh đồi tượng nghiên cứu: @. Giữa các nhân tố ảnh hưởng và chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ này thể hiện thông qua các phương trình kinh tế dưới dạng tích số, thương số hoặc kết hợp giữa tích số với thứơng số tùy thuộc vào nội dung chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu. Trong mỗi phương trình kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tổ ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu, các nhân tố được sắp xếp theo một trật tự nhất định: từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng hoặc từ nhân tố phản ánh đầu vào (ỵếu tố đầu vào hay chi phí đầu vào) đến đến nhân tố phản ánh đầu ra (đầu ra phản ánh kết quả sản xuất hay đầu ra phản ánh lợi nhuận). Trong trường hợp một phương trình kinh tế có từ 2 nhân tố số lượng trở lên, cần xác định và phân loại các nhân tố theo từng loại (nhân tố phản ánh điều kiện kinh doanh hay nhân tố'phản ánh yếu tố đầu vào, nhân tố phản ánh kết quả hay hiệu quả kinh doanh) rồi sắp xếp theo thứ tự từ nhân tố phản ánh điều kiện kinh^ doáilh hay phản ánh yếu tố đầu vào trước rồi mới đến nhân tố phán ánh kết quả đầu ra. Trưỏfng hợp tròng phương trình kinh tế cớ từ 2 nhân tố phản ánh chất lượng trở lên, phải xác định được mức độ chất Urợng của từng nhân tố (nhân tổ có tính chất lượng cao hơn, nhân tố có tính chất lượng thấp hơn) để sắp xếp các nhân tố sao cho tiến dần từ nhân tố có tính chất lượng thấp đến nhân tố có tính cỈỊất.lựợng cao. v ề thực chất, việc sắp xếp trật tự các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân ánh đối tượng nghiên cứu trong phương trình kinh tế phải bảo đảm nguyên tắc: với nhân tố số lượng, sắp xếp theo mức độ số lượng giảm dần; còn với nhân tố chất lượng, sẳp xếp theò mức độ chất lượng tăng dần. Lẩy ehỉ tiêu “Tổng giá trị sản xuất năm” của doanh nghiệp nói trên làm ví dụ, ta có các phương trình kinh tế sau đây thể hiện 25 mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng với tổng giá trị sản xuấ t năm của doanh nghiệp: + G = SWy + G = sdWd + G = sdhwh + V. V. . . Trong đó: - G: tống giá trị sản xuất năm; - s: số lượng công nhãn sản xuất bình quân năm; - d: so ngày làm việc bình quân năm một công nhân Stảìàn xuãt; - h: số giờ làm việc bình quân ngày một công nhân Siảì-ản xuất; - vvy/ năng suất lao động bình quân năm một công r.hiãnân sản xuãt; - Wd: năng suất lao động bình quân ngày một công r.híânãn sản xuất; - Wị,- năng suất ỉao động bình quân g iờ một công nhcânân sản xua í. Các chỉ tiêu như: số lượng công nhân sản xuất, số ngcà>yày làm việc bình quân năm một công nhân sản .xuất và số giờ làiưàm việc bình quân ngày một công nhân sản xuất đều là chỉ tiêu ssc số lượng, phản ánh đầu vào. Tuy nhiên, xét theo mức độ phản ámlấnh của tìrng chỉ tiêu, khi càng chi tiết, tính chất số lượng của chỉ tiêêuiêu càng giảm dần mà xen vào đấy đã phản ánh phần nào chất lượng. IgBước 4 / Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhcânãn tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ ti&ùêu phản ánh đối tượng nghiên cứu: Để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến Sỉựsự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu phản ánihih đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích phải lần lượt thay thế tứịtrị số từ kỳ gốc sang kỳ phân tích của từng nhân tố. Mỗi lần chỉ thaiyiy thể trị số của một nhân tố và do vậy, có bao nhiêu nhân tố ảnihih hưởng sẽ phải thay thế bấy nhiêu lần. Những nhẩn tố nào đã thaiy^y thế trị sô từ kỳ gôc sang k5^ phân tích (nhân tô đã xác định mứrc c 26 độ ảnh hưởng) sẽ được giữ nguyên trị số đã thay thế (trị số kỳ phân tích) cho đến bước thay thế cuối cùng. Việc xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch có sự khác nhau. Theo phương pháp thay thế liên hoàn, để xác định ảnh hưởng của từng nhân tố, các nhà phân tích tiến hành thay thế lần lượt và liên tiếp từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích của từng nhân tố. Sau mỗi lần thay thế.trị số từ kỷ gốc sang kỳ phân tích của từng nhân tô, các nhà phân tích xác định trị số mới của chỉ tiêu rồi so sánh trị số mới của chỉ tiêu vừa xác định với trị số của chỉ tiêu trước khi chưa thay thế giá trị của nhân tố cần xác định. Mức chênh lệch về trị số của chỉ tiêu sau và trước khi thay thế trị số từ kỳ gốc sang kỳ phân tích của nhân tố thav thế chính là mức độ ảnh hưởng eủa nhân tố đó. Khác với phương pháp thay thế liên hoàn, khi sử dụng phương pháp số chênh lệch để xác định ảnh hường của từng nhân tố, các nhà phân tích tiến hành sử dụng lần lượt và liên tiếp mức chênh lệch về trị số giữa kỳ phân tích so với kỳ gốG của từng nhân tố. Kết quả tính ra sau mỗi lần sử dụng mức chênh lệch về trị số giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của từng nhân tố chính là mức độ ảnh hưởng của chính nhân tố đó. Bước 5 / Tổng hợp kết quả tính toán, rút ra nhận xét, kiến nghị: Sau khi đã xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, các nhà phân tích tiến hành tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố tác động tăng, nhân tố tác động giảm và tổng cộng các nhân tố tác động tăng - giảm đến sự biển động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cửu, Trên cơ sờ đó sẽ nêu lên nhận xét, đánh giá về mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố; đồng thời chỉ rõ tiềm năng và đề xuất giải pháp khai thác, cải tiến công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong kỳ tới. Có thể khái quát phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch qua mô hìnl] sau: Giả sử Q là chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cửu và Q 27
- Xem thêm -