Tài liệu Giáo trình bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng việt ở tiểu học phần 2 - lê phương nga

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1181 |
  • Lượt tải: 1
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

Chương III BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH GIỎI Bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt là một việc làm lâu dài và đồng bộ trong giờ chính khoá và giờ học tự chọn, trong tất cả các phân môn tiếng Việt. Dựa vào mục tiêu và nội dung dạy học Tiếng Việt, ta có thể chia phạm vi kiến thức và kĩ năng tiếng Việt cần bồi dưỡng cho học sinh thành ba nội dung lớn: Tri thức tiếng Việt, tiếp nhận ngôn bản, tạo lập ngôn bản. Mỗi nội dung dạy học lại có thể được chia nhỏ hơn thành từng mạch kiến thức - kĩ năng. Vì các nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi được xây dựng theo nguyên tắc thực hành, chúng được thiết kế thành hệ thống bài tập nên chúng ta sẽ đi vào xác định các kiến thức và kĩ năng cơ bản theo từng mạch kiến thức, kĩ năng cần bồi dưỡng cho học sinh, mô tả, phân tích các kiểu dạng bài tập theo từng mạch kiến thức, kĩ năng này. Đặc biệt, chúng ta sẽ tập trung chỉ ra những phạm vi kiến thức và kĩ năng cần phải có để giải từng kiểu dạng bài tập, chỉ ra những điểm tạo ra sự thú vị cuả từng kiểu dạng bài tập, chỉ ra những điểm cần lưu ý khi hướng dẫn học sinh thực hiện những bài tập này. Sau đây chúng ta sẽ đi vào xem xét từng nội dung, từng mạch kiến thức - kĩ năng tiếng Việt cần bồi dưỡng cho học sinh 1. CÁC TRI THỨC - KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT Các tri thức tiếng Việt, chủ yếu là các tri thức về từ và câu, được hình thành trong các giờ học Luyện từ và câu và một phần trong giờ học Chính tả có thể được chia thành 14 mạch kiến thức - kĩ năng sau: 1.1. Ngữ âm - chữ viết - chính tả - kĩ năng phân tích cấu tạo tiếng và viết đúng chính tả Các kiến thức liên quan đến ngữ âm, chữ viết, chính tả gồm: cấu tạo âm tiết, quy tắc chính tả (quy tắc lựa chọn chữ ghi âm và quy tắc viết hoa). Mạch kiến thức, kĩ năng này gồm các dạng bài tập sau: 1.1.1. Phân tích cấu tạo tiếng (âm tiết) Phân tích cấu tạo âm tiết là một kĩ năng cần có để đọc đúng, đọc trơn "tiếng" và ghi lại đúng "tiếng" - viết đúng chính tả các "chữ". Phân tích cấu tạo âm tiết gồm các kiểu bài tập: 1.1.1.1. Tách tiếng thành các bộ phận: phụ âm đầu, vần, thanh Ở những bài tập yêu cầu tách tiếng thành phụ âm đầu và vần, học sinh sẽ gặp khó khăn trong những trường hợp có sự bất hợp lí của chữ viết tiếng Việt. Đó là khi mà âm và kí tự không có quan hệ 1-1, ví dụ trường hợp phụ âm đầu được viết bằng “gi” mà vần lại bắt đầu bằng “i” như “gì”, “giếng”, “giết” là trường hợp đặc biệt khó. Ví dụ bài tập sau: Âm đầu của các tiếng được ghi bằng chữ in đậm dưới đây là âm gì? Chúng được viết bằng những con chữ nào? làm gì, giữ gìn, giặc giã, giết giặc, tháng giêng, giếng khơi, gia đình. Âm đầu của tất cả các tiếng được in đậm ở trên đều là âm “dờ”.Nó được ghi bằng “gi”(đọc là “di”) trong các chữ “giữ,giặc,giã,gia”.Nó được ghi bằng “g” trong các chữ “gì,gìn,giết, giêng,giếng”.Trong trường hợp thứ hai này,một mình con chữ “g” đại diện cho cả chữ “gi” dùng để ghi âm “dờ”. Đây cũng chính là một điểm tạo ra sự thú vị. 1.1.1.2. Tìm các tiếng có cùng vần Những bài tập nâng cao cũng sẽ chọn ngữ liệu là các trường hợp có sự bất hợp lí của chữ viết Tiếng Việt.Chúng ta cần lưu ý để học sinh không bị chữ viết đánh lừa trong các trường hợp như “cua / qua”, “hoa / qua”. Một kiểu bài tập khá thú vị là tìm các tiếng được gieo vần ở trong đoạn thơ. Ngoài ra, dựa vào cách gieo vần có thể tạo trò chơi vui nói câu có vần tự giới thiệu về mình, ví dụ “Em tên là Hoa, em thích ăn quà”. Ai phản ứng chậm không nói được ngay một câu có nghĩa thì bị xem là thua cuộc. 1.1.1.3. Giải đố chữ Giải đố chữ là bài tập yêu cầu học sinh tìm được từ (chữ) phù hợp với câu đố. Ví dụ: Còn sắc thì để nấu canh Đến khi mất sắc theo anh học trò. (Là những chữ gì?) Đây là một kiểu bài tập thú vị vì tích hợp được cả kiến thức về chữ viết ghi âm và sự hiểu biết về nghĩa của từ. Những cách gọi đầu (phụ âm đầu), đuôi (vần hoặc âm cuối), thêm, bớt huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng (tên các dấu thanh) tạo ra những đồng âm thú vị. Ví dụ, ở câu đố trên, “còn sắc” tức là còn dấu sắc là chữ chỉ thứ gì đó dùng để nấu canh, khi “mất sắc” tức là mất dấu sắc lại thành chữ chỉ cái gì đó hay đi cùng cậu học trò.Lời giải khá bất ngờ là chữ “bí” và chữ “bi”. 1.1.2. Viết đúng chính tả Liên quan đến chính tả có các kiểu bài tập: 1.1.2.1. Dựa vào quy tắc để viết đúng Viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài không phiên âm theo lối Hán Việt và viết hoa tên cơ quan, đoàn thể, tên các danh hiệu, huân chương, huy chương được xem là khó nên có thể dùng để ra đề thi học sinh giỏi. Viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài không phiên âm theo lối Hán Việt phải theo quy tắc “ Viết hoa chữ cái đầu mỗi bộ phận tạo thành tên và gạch giữa các tiếng trong mỗi bộ phận”. Quy tắc này được xem là khó vì hai lẽ: Thứ nhất, nếu nghe đọc, học sinh rất khó tách được tên thành các bộ phận để viết hoa chữ cái đầu,ví dụ không phải HS nào cũng biết rằng tên người Nga đầy đủ có 3 bộ phận:tên, phụ danh (tên bố) và họ. Thứ hai, các tên nước ngoài có những trường hợp trong âm tiết (tiếng) có phụ âm kép như “Mát -xcơ- va”, “Vla-đi-mia” khiến cho HS rất khó tách đúng các tiếng để gạch giữa. HS cũng khó viết hoa tên cơ quan, đoàn thể, tên các danh hiệu, huân chương, huy chương. Những tên này được viết theo quy tắc “Viết hoa chữ cái đầu mỗi bộ phận tạo thành tên”. “Mỗi bộ phận” ở đây cần được hiểu là một từ mà ranh giới từ trong tiếng Việt rất khó phân cắt.Đó là chưa kể cách viết hoa các tên riêng này có nhiều trường hợp ngoại lệ, ví dụ “hạng nhất” được xem là một từ hay hai từ thì cách viết “Huân chương Lao động hạng Nhất” vẫn là trường hợp ngoại lệ. Những bài tập chính tả sẽ thú vị hơn khi chúng ta chọn được những ngữ liệu có tần số chính tả cao,có hiều từ ngữ cần viết hoa. Ví dụ bài tập sau được xem là khó và thú vị: Những chữ nào cần viết hoa trong các cụm từ in nghiêng dưới đây? Vì sao? Bác Hồ nói: "Non sông gấm vóc của chúng ta do phụ nữ ta, trẻ cũng như già góp phần thêu dệt nên". Tiếp nối truyền thống của Hai Bà Trưng và Bà Triệu, ngày nay, phụ nữ đã có những đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiểu biểu cho những anh hùng của thời đại mới là 214 cô bác được nhận các danh hiệu cao quý: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một trong những tổ chức quần chúng lớn mạnh của nước ta. Hội đã được Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: huân chương sao vàng (1985), huân chương độc lập hạng ba (1997), huân chương lao động hạng nhất (1998), huân chương độc lập hạng nhất (2000). (Theo Những người phụ nữ xuất sắc - SGK Tiếng Việt 5) 1.1.2.2. Dựa vào nghĩa để viết đúng Đây là những bài tập chính tả ngữ nghĩa. Để chọn đúng dạng thức chữ viết cho những trường hợp này cần có sự hiểu biết về nghĩa từ. Để có những bài tập thú vị có hai cách: Cách thứ nhất, lựa chọn ngữ liệu có tần số chính tả cao,nhất là chứa hiện tượng đồng âm, ví dụ bài tập: Ở từng chỗ trống dưới đây, có thể điền chữ (tiếng) gì bắt đầu bằng d, gi hoặc r? a) Nam sinh … trong một … đình có truyền thống hiếu học. b) Bố mẹ … mãi, Nam mới chịu dậy tập thể … c) Ông ấy nuôi chó … để … nhà. d) Tớ vừa … tờ báo ra, đang đọc … thì có khách. e) Đôi … này đế rất … g) Khi làm bài, không được … sách ra xem, làm thế … lắm. Để viết đúng l/ n, ngữ liệu sau được xem là hay: Tôi làm nghề chở đò đã năm năm nay. Với chiếc thuyền nan lênh đênh mặt nước, ngày này qua tháng khác, tôi chăm lo đưa khách qua lại trên khúc sông này. Tôi thuộc lòng nơi nào lòng sông nông sâu, nơi nào nước thường chảy xiết. Để viết đúng d/ gi/r, ngữ liệu sau được xem là hay: Lũ nhỏ trò chuyện ríu ran Róc rách nước chảy miên man suốt ngày Người cười rúc rích vui thay Rinh rích tiếng dế đêm nay ngoài vườn Ríu ra ríu rít đến trường Râm ran cười nói trên đường vui sao Tiếng vỗ tay nghe rào rào Rộn ràng tiếng trống xôn xao trong đầu Tiếng sáo réo rắt nơi đâu Ra rả tiếng chú ve sầu ngân vang (Theo Toán Tuổi thơ) Cách thứ hai là xây dựng bài tập chính tả dưới dạng đố vui - câu đố tìm những từ có hiện tượng chính tả. Ví dụ thi tìm nhanh các từ láy được bắt đầu bằng “n” hoặc “ l ”, thi đặt câu toàn những từ chứa hiện tượng chính tả hay mắc lỗi,ví dụ như chữa viết lẫn g/r cho học sinh miền Tây Nam Bộ sẽ có đáp án là câu: "Bắt con cá rô bỏ vào rổ, nó kêu rột rẹt.",chữa lỗi lẫn l/n cho học sinh phương ngữ Bắc sẽ có đáp án là các câu: - Năm nay non nước nơi nơi Ấm đẹp lòng người lúa lổ (trổ) lung linh - Lờ / nờ lo lắng nấu nung Luyện lưỡi lanh lợi là lòng lâng lâng - Anh nuôi làm lụng bên bếp lửa, vừa nấu vừa nếm hết nửa nồi. Ngoài ra còn có dạng bài tập nâng cao yêu cầu tìm tiếng không có khả năng tạo từ, tức là tìm những tiếng không có ở trong từ tiếng Việt,ví dụ bài tập: Những tiếng nào được ghi lại trong mỗi dãy sau không có trong từ tiếng Việt? rữ - dữ - giữ run - dun - giun rễ - dễ - giễ rung - dung - giung rãi - dãi - giãi rứt - dứt - giứt rò - dò - giò rã - dã - giã rân - dân - giân rác - dác - giác rỗ - dỗ - giỗ (Đáp án: các tiếng được ghi: rữ, giễ, giân, giung, giứt không có trong từ tiếng Việt. Lưu ý: dun mang nghĩa là đẩy từ phía sau, dun có trong từ dun dủi nghĩa là xui khiến nên từ một nguyên nhân thần bí nào đó, dác có nghĩa là phần gỗ non, sát vỏ của cây, dác còn có trong từ dáo dác nghĩa như nháo nhác). Đây là một bài tập khó vì để làm được bài tập này, học sinh cần có vốn từ nhiều, đồng thời phải nắm chắc dạng thức chính tả của từ. 1.1.2.3. Kiểu bài tập chữa lỗi chính tả Dạng bài tập này cho sẵn những từ, câu, đoạn viết sai chính tả, yêu cầu HS chữa lại cho đúng. Bài tập sẽ được tăng độ khó khi có tần số lỗi cao, ví dụ bài tập: Đoạn văn sau đã bỏ đi các dấu câu và viết sai các tên riêng nước ngoài. Hãy viết lại đoạn văn cho đúng chính tả: Đỉnh ê vơ rét trong dãy hi ma lay a là đỉnh núi cao nhất thế giới những người đầu tiên chinh phục được độ cao 8848m này là ét man hi la ri (người niu di lân) và ten sing no rơ gay (một thổ dân vùng hi ma lay a) ngày nóc nhà thế giới này bị chinh phục là 29 - 5- 1953. (Theo Tân từ điển bách khoa toàn thư) Đặc biệt có loại bài chính tả chữa lỗi dưới dạng bài tập vui, kết hợp chữa các lỗi về logic. Chúng sẽ trở thành các ngữ liệu để tổ chức các trò chơi vui học tiếng. Ví dụ: Mời các bạn nghiên cứu để xem ngoài lỗi chính tả còn những lỗi gì nữa? Hãy chữa lại cho đúng: "Dũng dật mình troàng thức rấc... Đúng núc đó, đồng hồ quả lắc treo trên tường cũng đổ truông 1h40'. Bên ngoài, giữa màn đêm tĩnh mịch, vẳng nại tiếng gà mái nhảy ổ: "ò, ó, o, o...". Dũng nại đứng bên cửa xổ nhìn ra xân. Ngoài trời tối đen như mực, khiến tro Dũng không nhìn thấy dì cả. Trên bầu chời đen kịt không có nấy một gợn mây. ở góc sân, trú mèo đang nằm cạnh gốc cây cau, nghếch đầu nên ngắm chăng. Bất chợt, Dũng thấy nành lạnh. "Trắc hẳn nà dó mùa đông bắc chàn về rồi đây!" - Dũng thầm nghĩ. Dũng quay chở lại dường và ngủ tiếp. Xáng mai Dũng còn phải giậy xớm để đi nao động hè nữa cơ mà. "Thế mà đã gần một dưỡi sáng rồi cơ đấy! Nhanh thật..." (Theo Dương Đức Kiên Toán Tuổi thơ) Có 27 chữ viết sai chính tả đã được chữa lại là: giật mình, choàng tỉnh giấc, đúng lúc đó, đổ chuông, vẳng lại, Dũng lại đứng, cửa sổ, nhìn ra sân, khiến cho, không nhìn thấy gì, bầu trời, không có lấy, chú mèo, nghếch đầu lên, ngắm trăng, lành lạnh, chắc hẳn là gió mùa đông bắc tràn về, quay trở lại giường, sáng mai, dậy sớm, lao động, một rưỡi. Lỗi về lô gic: - Đồng hồ quả lắc không đổ chuông vào lúc 1h40'. - Gà mái không nhảy ổ vào ban đêm. - Gà mái không gáy “ò, ó, o,o...”. - Trời đã tối đen như mực thì không thấy mây, không thấy chú mèo và không có trăng được. - Gió mùa đông bắc không thổi vào mùa hè. - Dũng thức giấc là 1h40' nhưng ngủ lại là 1h30' là vô lí. 1.2. Đơn vị từ, câu - kĩ năng xác định đơn vị từ câu, phân cắt ranh giới từ và tách đoạn thành câu 1.2.1. Khái niệm từ - phân cắt ranh giới từ Trong chương trình tiểu học, không có bài lí thuyết về khái niệm từ. Như chúng ta đã biết, nhận diện từ trong câu là một vấn đề rất khó của tiếng Việt. Định nghĩa về từ không thể giải thích được triệt để các trường hợp. Vì vậy, không phải với bất kì tổ hợp nào cũng có thể yêu cầu học sinh tiểu học xác định đó là một từ hay hai từ, không phải bất kì câu nào cũng có thể đưa ra yêu cầu các em phân cắt đơn vị từ. Vì vậy, trước hết, chúng ta phải chọn các từ tiêu biểu, dễ dàng được các nhà Việt Ngữ học cho rằng đó là một từ. Tốt nhất là đưa ra các đoạn văn không có những tổ hợp trung gian, khó xác định là một hay nhiều từ. Các từ đưa ra ở đây được chọn lọc thuộc trường hợp dễ xác định đường ranh giới khi chúng ở trong câu. Đó là trường hợp từ láy ví dụ: long lanh, xinh xắn, từ ghép ngẫu hợp, ví dụ: tắc kè, mồ hóng. Đó là trường hợp từ ghép điển hình, bao gồm từ ghép có ít nhất một hình vị không độc lập như xanh lè, đỏ ối, thẳng tắp, từ ghép biệt lập kiểu như: tai bồng (ốc xe), chân vịt (của tàu thủy), cánh gà (hai bên sân khấu), đầu ruồi (một bộ phận của súng), (quạt) tai voi, (cổ) lá sen,...từ ghép hợp nghĩa cá thể, kiểu như: cơm nước, nhà cửa, thuyền bè, chợ búa...từ ghép phân nghĩa một chiều do các hình vị tự do có nghĩa tạo nên những hình thức cấu tạo chặt chẽ như: máy bay, máy tiện, nhà máy, xe đạp,... các từ ghép Hán Việt kiểu như: chính quyền, học sinh, giáo viên,... Trên thực tế, ít có bài tập chỉ có một yêu cầu tách câu thành từ nhưng để thực hiện những bài tập thuộc các mạch kiến thức - kĩ năng khác, ví dụ tìm các từ trong câu theo kiểu cấu tạo đã cho, theo từ loại đã cho, trước hết HS cần phải phân cắt đúng đường ranh giới từ. Ví dụ do phân cắt ranh giới từ sai, cho "quả xôi", "bánh chưng", "bánh giầy" là hai từ nên nhiều học sinh không tìm được các từ ghép trong hai câu thơ: "Dân dâng một quả xôi đầy. Bánh chưng mấy cặp, bánh giầy mấy đôi" (xem thông tin 5 - Một số đề thi học sinh giỏi Tiếng Việt). Bài tập về khái niệm từ và phân cắt ranh giới từ dành cho HS giỏi về nội dung này thường có hai dạng sau: 1.2.1.1. Xác định một tổ hợp hai tiếng nào đó là một từ hay hai từ Cần chọn các tổ hợp hai tiếng chứa hiện tượng đồng âm cú pháp để tạo nên tính thú vị của của bài tập.Ví dụ bài tập sau: Trong mỗi cặp câu sau, bộ phận in đậm trong câu nào là một từ? Vì sao? a) Cánh én dài hơn cánh chim sẽ. Mùa xuân đến, những cánh én lại bay về. b) Cánh gà rất ngon. Một chị đứng lấp ló sau cánh gà để xem. c) Tay người có ngón ngắn ngón dài. Những vùng đất hoang đang cho tay người đến khai phá. d) Cái xe đạp này nặng quá, tôi vác không nổi. Xe đạp nặng quá, phải tra dầu vào mới đi được. Hai tiếng đã cho bao giờ cũng là hai tiếng có quan hệ chính phụ. Đó là trường hợp khó phân định là một từ hay hai từ nhất trong tiếng Việt. Để giúp HS xác định tổ hợp hai tiếng này là một từ hay hai từ, chúng ta cần dựa vào tính chặt chẽ của từ về mặt cấu tạo, nghĩa và trọng âm. Để xác định tính chặt chẽ về cấu tạo, chúng ta dùng thao tác chêm xen, ví dụ "cánh gà" là hai từ khi nói về một bộ phận của con gà nên nó có thể thêm "của" để thành "cánh của gà". Khi là một từ, "cánh gà" chỉ hai bên màn sân khấu, lúc này nó có kết cấu chặt chẽ, không thể thêm yếu tố nào vào giữa "cánh" và "gà". Để xác định tính chặt chẽ về nghĩa, chúng ta thử xác định có yếu tố (tiếng) nào trong tổ hợp này mờ nghĩa hoặc cả tổ hợp có sự chuyển nghĩa không. Ví dụ, trong tổ hợp "tay người" với tư cách là một từ, "tay" đã mờ nghĩa không còn chỉ một bộ phận của người mà mang nghĩa là người; trong tổ hợp "bánh dẻo" với tư cách là một từ, "dẻo" đã mờ nghĩa, gắn rất chặt với "bánh" để gọi tên một loại bánh nên mới có thể nói được "Bánh dẻo này để lâu, cứng như vậy thì còn ăn làm sao được". Để xác định tính chặt chẽ về mặt ngữ âm, chúng ta xác định tổ hợp này có một hay hai trọng âm. Ví dụ "cánh gà" lúc là một từ được phát âm gần như là "canh gà" vì lúc này chỉ có "gà" có trọng âm, "cánh" không có trọng âm. 1.2.1.2. Ghép các tiếng đã cho để tạo từ Ví dụ: Cho 3 tiếng thân, thương, mến, hãy tạo thành các từ có hai tiếng. Kiểu bài tập này có thể dùng để tổ chức trò chơi thi tìm nhanh, tìm nhiều từ có các tiếng đã cho. Bài tập sẽ rất thú vị nếu ta chọn được ngữ liệu là các tiếng có khả năng tạo từ lớn, có tính năng sản.Những bài tập có ngữ liệu như vậy gọi là bài tập đa trị. Về lí thuyết, với số lượng tiếng là n(n>1), khả năng tạo số lượng từ hai tiếng tối đa sẽ là n(n-1)(n-2)…(n-(n-1) Ví dụ, với ba tiếng sẽ tạo được nhiều nhất là 6 từ,với 4 tiếng tạo được nhiều nhất là 24 từ. Chẳng hạn như ví dụ trên ta tạo được 6 từ: thân thương, thân mến, thương thân, thương mến, mến thương, mến thân. 1.2.2. Khái niệm câu - xác định đơn vị câu Chương trình Tiếng Việt mới không đưa ra định nghĩa về câu. Câu là một đơn vị được mặc nhiên thừa nhận như một tiên đề trong dạy học Tiếng Việt. Bản chất của câu là diễn đạt một ý trọn vẹn. Đây là dấu hiệu quan trọng nhất của khái niệm câu. Câu ứng với một kiểu cấu tạo nhất định, một ngữ điệu nhất định (trên chữ viết, câu có dấu hiệu hình thức là mở đầu bằng một chữ viết hoa và kết thúc bằng dấu chấm câu). Bài tập xác định đơn vị câu có dạng phổ biến là: 1.2.2.1. Tách đoạn thành câu, điền dấu, viết hoa Loại bài tập này thường được dùng nhiều để viết đúng dấu câu, ít được sử dụng trong các đề tiếng Việt nâng cao. Muốn xây dựng các bài tập dành cho học sinh giỏi, cần tìm được các ngữ liệu là đoạn văn có thể tách thành câu theo nhiều cách khác nhau để tạo bài tập đa trị, ví dụ: Hãy dùng dấu chấm tách đoạn lời sau thành 3 câu theo hai cách khác nhau và viết hoa cho đúng: Linh với Minh là đôi bạn thân từ nhỏ hai bạn học chung một lớp từ lớp 1 đến lớp 5 hai bạn đều đạt danh hiệu học sinh giỏi. Về đơn vị câu, bài tập dành cho HS giỏi thường có các kiểu sau: 1.2.2.2. Bài tập yêu cầu nhận diện một đoạn lời là câu hay không là câu Thực tế cho thấy HS thường nhầm trạng ngữ là câu, nhầm ngữ danh từ là câu do không phân biệt được định ngữ và vị ngữ. Lại có trường hợp HS không nắm được có những động từ nhất thiết phải có bổ ngữ nên khi viết các em đã sản sinh ra những câu thiếu thành phần. Vì vậy, về nội dung, các đoạn lời đưa ra để xét là câu hay chưa thường tập trung dự phòng các loại lỗi này. Ví dụ: Những đoạn lời nào sau đây có thể thêm dấu chấm để thành câu? Vì sao? - Mặt nước loang loáng như gương. - Trên mặt nước loang loáng như gương. - Những bông hoa giẻ thơm ngát ấy. - Những bông hoa giẻ thơm ngát ấy được dành để tặng cô giáo. - Những cô bé ngày nào nay đã trở thành. - Những cô bé ngày nào nay đã trưởng thành. Về phương pháp, khi luyện tập nên để các đoạn lời là câu, không là câu ở cạnh nhau theo từng cặp để học sinh dễ phát hiện ra những điểm khác nhau, nhưng khi đưa vào đề thi, để tăng độ khó, thường người ta không để các cặp đối lập cạnh nhau. 1.2.2.3. Sắp xếp từ, cụm từ thành câu Loại bài tập này chỉ trở nên thú vị khi các bộ phận đưa ra để sắp xếp sẽ tạo ra được nhiều câu khác nhau (ngữ liệu đa trị), ví dụ bài tập: Ghép các bộ phận sau thành câu theo các cách có thể: trên cành, chim, líu lo, hót. Với bốn bộ phận trên, có thể ghép được để tạo được 10 câu khác nhau: 1/ Trên cành, chim hót líu lo. 2/ Trên cành, líu lo chim hót. 3/ Trên cành, chim líu lo hót. 4/ Chim hót líu lo trên cành. 5/ Chim hót trên cành líu lo. 6/ Chim trên cành hót líu lo. 7/ Chim líu lo hót trên cành. 8/ Chim trên cành líu lo hót. 9/ Líu lo trên cành chim hót. 10/ Líu lo chim hót trên cành. 1.2.2.4. Chữa câu sai thành câu đúng Cũng trên nguyên tắc dự phòng các lỗi câu, người ta xây dựng các bài tập chữa lỗi câu sai ngữ pháp. Sự thú vị của bài tập nâng cao là ở chỗ nhờ những ngữ liệu đa trị, ta có thể chữa thành câu theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ: - Hãy chữa câu sai sau đây thành câu đúng bằng hai cách khác nhau: Khi em nhìn thấy ánh mắt trìu mến, thương yêu của Bác. - Dòng sau chưa thành câu, hãy chữa lại để thành câu theo ba cách khác nhau: Những bạn học sinh giỏi đứng ở hàng đầu tiên ấy. Ở ví dụ thứ hai, ta có thể chữa dòng đã cho thành câu theo ba cách: cách thứ nhất bỏ "ấy", cách thứ hai xem đoạn lời đã có là chủ ngữ, thêm vị ngữ để tạo câu, ví dụ thêm "là những bạn đã đạt giải trong kì thi học sinh giỏi thành phố", cách thứ ba đưa "ấy" chuyển ra trước, đứng vào sau "Những bạn học sinh giỏi"để có câu "Những bạn học sinh giỏi ấy đứng ở hàng đầu tiên". Để tăng độ thú vị của các dạng bài tập về câu, có thể thêm yêu cầu nêu nghĩa và tác dụng của câu: Câu nói này có tác dụng gì? Câu này nhằm hỏi (yêu cầu, kể…) về điều gì? Đây là dạng bài tập mới của chương trình tiếng Việt 2000. Để làm được những bài tập này, HS phải dịch câu đã có thành một câu đồng nghĩa với một động từ chỉ hoạt động nói năng: “Câu này nhằm kể (tả, khẳng định, giới thiệu, mời, nhờ, hỏi, nói lên…) ”. 1.3. Làm giàu vốn từ - kĩ năng nắm nghĩa, mở rộng vốn từ và sử dụng từ Làm giàu vốn từ là mục đích của các bài học mở rộng vốn từ theo chủ đề và tất cả các bài học liên quan đến từ. Đó là những bài học theo mạch các lớp từ vựng, mạch cấu tạo từ và mạch từ loại. Các bài tập làm giàu vốn từ rất phong phú, tựu trung được sắp xếp thành ba nhóm sau: 1.3.1. Nhóm bài tập dạy nghĩa 1.3.1.1. Bài tập yêu cầu chỉ ra nghĩa của các yếu tố mang nghĩa (tiếng, từ, cụm từ, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ) Những bài tập này yêu cầu giải nghĩa các từ ngữ cụ thể, nhất là các thành ngữ. Ví dụ: - Em hiểu "lao động trí óc" nghĩa là gì? - Em hiểu các thành ngữ dưới đây như thế nào: a) Cầu được ước thấy. b) Ước sao được vậy. c) Ước của trái mùa. d) Đứng núi này trông núi nọ. Tục ngữ cũng trở thành một ngữ liệu để dạy nghĩa. Ví dụ: Mỗi câu tục ngữ sau đây khuyên người ta điều gì? a) Lửa thử vàng, gian nan thử sức. b) Nước lã mà vã nên hồ Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan. c) Có vất vả mới thanh nhàn Không dưng ai dễ cầm tàn che cho. Bài tập dạy nghĩa rất thú vị. Giải nghĩa từ có thể trở thành một yêu cầu bổ sung cho bất kì một bài tập nào liên quan đến từ. Nó tạo ra sự mới mẻ không lặp lại cho những bài tập về từ. Chẳng hạn, sau khi yêu cầu HS tìm các từ có tiếng “mới” cho một bài tập cấu tạo từ, chúng ta yêu cầu các em phân biệt nghĩa và cách dùng của hai từ “mới tinh” và “mới mẻ” hoặc sau khi HS tìm được các từ láy có tiếng “nhỏ” (nho nhỏ, nhỏ nhắn, nhỏ nhen), chúng ta yêu cầu các em phân biệt nghĩa của chúng thì những bài tập này sẽ trở nên thú vị hơn. Ngữ liệu nâng cao cho kiểu bài tập này là lớp từ được dùng theo nghĩa bóng, lớp từ đa nghĩa, lớp từ Hán Việt, đặc biệt là các thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ. Ví dụ: - Nêu nghĩa của nhà trong "nhà rộng", "nhà có năm người", "đời nhà Trần", "nhà văn", "nhà tôi đi vắng". - Tìm các nghĩa khác nhau của từ đánh. - "Tham quan" nghĩa là gì? - "Thiên" trong "thiên phú", "thiên biến vạn hóa", "thiên vị" có những nghĩa gì? 1.3.1.2. Chỉ ra các thế đối lập về nghĩa của các yếu tố mang nghĩa (tiếng, từ, cụm từ, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ) Ngữ liệu nâng cao của các bài tập này có thể là những từ có cùng yếu tố cấu tạo, nhiều khi cũng là lớp từ đồng nghĩa, ví dụ bài tập yêu cầu phân biệt nghĩa của các từ “cần cù”, “cần kiệm”, phân biệt nghĩa của các từ “kết quả”, “hậu quả”, “thành quả”. Đó cũng có thể là những từ nhiều nghĩa, ví dụ “Nghĩa của từ quả trong quả ổi, quả cam, quả bưởi có gì khác so với quả trong quả tim, quả đồi, quả đất?”. Đó cũng có thể là những từ đồng nghĩa, gần nghĩa. Ví dụ: Phân biệt nghĩa của các từ “chết”, “từ trần”, “hi sinh”. 1.3.2. Bài tập hệ thống hoá vốn từ (mở rộng vốn từ) Đây là dạng bài tập để phát triển vốn từ cho HS, cũng là dạng đề đo sự phong phú về vốn từ và tính hệ thống của vốn từ của HS. Chúng gồm các kiểu sau: 1.3.2.1. Bài tập tìm từ Những bài tập này yêu cầu HS kể ra những từ thuộc một trường liên tưởng nào đó. Trước hết đó là những từ cùng chủ đề. Ví dụ, kể tên những đồ dùng học tập, kể ra những đức tính tốt của người học sinh. Đây là dạng bài tập đặc trưng của nhóm mở rộng vốn từ theo chủ đề. Ngoài ra, những bài tập này cũng yêu cầu tìm những từ cùng lớp từ vựng (tìm từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, tìm từ cùng từ loại, tiểu loại, tìm từ có cùng đặc điểm cấu tạo, tìm các thành ngữ, tục ngữ có nội dung nào đó) Ví dụ: “Tìm các từ có tiếng nhân với nghĩa là người”. Những bài tập này là những bài tập mở, rất thuận lợi để tổ chức thực hiện dưới dạng các trò chơi khi chúng ta chọn các ngữ liệu là những từ ngữ có tính "năng sản" cao, ví dụ: tìm từ có tiếng "ăn", tìm từ có tiếng "sáng", tìm các thành ngữ tả gương mặt, tìm các thành ngữ chỉ các kiểu chạy, tìm các thành ngữ có từ "mèo"... 1.3.2.2. Bài tập phân loại từ Bài tập phân loại từ là những bài tập cho sẵn các từ, yêu cầu HS phân loại theo một căn cứ nào đó. Bài tập có thể cho sẵn các từ rời, cũng có thể để các từ ở trong câu, đoạn. Dựa vào các căn cứ để phân loại, cũng chính là các căn cứ để tìm từ, các bài tập phân loại từ có thể chia thành những bài tập phân loại từ theo chủ đề, theo các nhóm nghĩa, phân loại từ theo các lớp từ vựng, theo từ loại, tiểu loại của từ, phân loại từ dựa vào cấu tạo. Các bài tập phân loại từ có thể có các kiểu: Cho từ rời, dựa vào nghĩa, phân nhóm, ví dụ: - Cho một số từ sau: vạm vỡ, trung thực, đôn hậu, tầm thước, mảnh mai, béo, thấp, trung thành, gầy, phản bội, khoẻ, cao, yếu, hiền, cứng rắn, giả dối. Dựa vào nghĩa, xếp các từ trên vào hai nhóm và đặt tên cho từng nhóm. - Cho các từ: bánh dẻo, bánh nướng, bánh cốm, bánh nếp, bánh rán, bánh ngọt, bánh mặn, bánh cuốn, bánh gai. Hãy chia các từ trên thành ba nhóm và chỉ ra những căn cứ dùng để chia. Cũng có thể cho từ trong câu, đoạn, yêu cầu dựa vào nghĩa phân nhóm. Ví dụ, yêu cầu HS tìm các từ đồng nghĩa trong đoạn văn. Đặc biệt, trong các tài liệu nâng cao thường có những bài tập yêu cầu loại bỏ từ lạc ra khỏi nhóm. Ví dụ: Gạch bỏ từ không cùng nghĩa với các từ còn lại trong dãy từ sau: a) Tổ quốc, đất nước, giang sơn, dân tộc, sông núi, nước nhà, non sông, nước non. b) Quê hương, quê cha đất tổ, quê hương bản quán, quê mùa, nơi chôn rau cắt rốn, quê hương xứ sở. 1.3.3. Bài tập tích cực hoá vốn từ (dạy sử dụng từ) Dạng bài tập để luyện kĩ năng sử dụng từ cũng là để đo năng lực, khả năng sử dụng từ của HS giỏi gồm các kiểu sau: 1.3.3.1. Bài tập yêu cầu thay thế từ, điền từ Bài tập điền thế có thể cho trước từ cần điền, thế hoặc yêu cầu HS tự tìm từ trong vốn của mình. Tính thú vị của bài tập này sẽ được nâng lên khi yêu cầu HS lựa chọn giữa những từ cùng yếu tố cấu tạo, những từ đồng nghĩa, gần nghĩa, từ nào dùng chính xác nhất, có hiệu quả giao tiếp nhất. Ví dụ: Thay từ được gạch dưới bằng một từ láy để các câu văn sau gợi tả hơn: Gió thổi mạnh. Lá cây rơi nhiều. Từng đàn cò bay nhanh trong mây. Loại bài tập điền từ được dùng cho học sinh giỏi thường yêu cầu học sinh nhận ra được sự khác nhau về nghĩa và cách dùng của các từ đồng nghĩa, gần nghĩa, ví dụ: Chọn "tự lập" hay "tự lực" điền vào chỗ trống trong mỗi câu sau cho thích hợp: Anh ấy sống...từ bé. Chúng ta phải....làm bài. Đề nâng cao có thể đưa thêm yêu cầu giải thích vì sao lựa chọn một từ nào đó. Nếu từ được chọn là một từ có giá trị nghệ thuật thì thực chất bài tập đã yêu cầu HS đánh giá giá trị của từ như một dạng đề cảm thụ văn học. 1.3.3.2. Bài tập tạo ngữ Đây là những bài tập yêu cầu học sinh đưa ra những kết hợp từ đúng. Ví dụ: nối "náo nức" với những từ ngữ có thể kết hợp được: "đến trường", "học bài", "đón tết", "trả lời", "chuẩn bị biểu diễn", "nghe giảng". Để có những bài tập dành cho học sinh giỏi cần chọn những ngữ liệu là những từ học sinh khó giải nghĩa bằng định nghĩa hoặc là những từ có giá trị gợi tả, gợi cảm. Ví dụ: Những từ ngữ nào có thể kết hợp được với từ "nhấp nhô"? 1.3.3.3. Bài tập đặt câu với từ Ví dụ " Đặt câu với từng từ tả hoạt động của thú rừng: rình, rượt, vồ, quắp". Bài tập đặt câu với từ là một bài tập mở. Những bài tập đặt câu với từ dành cho HS giỏi thường chọn những từ có khả năng kết hợp thấp. Đặc biệt, những bài tập này sẽ trở nên thú vị hơn khi đề bài có thêm một yêu cầu nào đó: hoặc quy định chức vụ ngữ pháp của từ được dùng để đặt câu, ví dụ: “Đặt ba câu với từ “ năm nay” sao cho chúng giữ chức vụ trạng ngữ, chủ ngữ, nằm ở bộ phận vị ngữ”, hoặc yêu cầu đặt câu có quy định về mục đích nói, tức là quy định về nghĩa. Đây là loại bài tập xây dựng những tình huống để HS đặt mình vào hoàn cảnh nói năng, sản sinh ra những câu đã được dự tính trước. Những bài tập này có thể được thực hiện bằng hình thức trò chơi đóng vai. Đây là nội dung để xây dựng loại trò chơi học tập, các hình thức thi “ Ai tài đối đáp”. 1.3.3.4. Bài tập viết đoạn văn với từ Những bài tập này yêu cầu học sinh viết đoạn văn với những từ đã cho. Ví dụ: "Em hãy viết bốn câu về người bạn của em, cố gắng sử dụng những từ sau..." Dạng bài tập đặt câu, viết đoạn với từ dành cho học sinh giỏi là những bài tập yêu cầu học sinh luyện viết câu, đoạn hay, yêu cầu các em tự tìm những từ ngữ và cách diễn đạt để từ những câu chưa gợi tả, gợi cảm, viết thành những câu gợi tả, gợi cảm; từ những câu chỉ có nội dung sự việc đến những câu có tình cảm, cảm xúc. Đây là những bài tập có tính chất tổng hợp từ ngữ - ngữ pháp - luyện viết văn. Ví dụ từ câu có nội dung sự việc " Chúng em đã đến thăm quảng trường Ba Đình, lăng Bác được dựng ở đây" trở thành câu có nội dung liên cá nhân, có cảm xúc như: "Thế là chúng em đã được đến thăm quảng trường Ba Đình lịch sử. Chính nơi đây, toàn dân ta đã chung sức xây nên nơi an nghỉ cuối cùng của Người". 1.3.4. Bài tập chữa lỗi dùng từ Đây là những bài tập yêu cầu học sinh chữa lỗi dùng từ sai. Bài tập chữa lỗi dùng từ cũng là một dạng bài tập thú vị. Chúng sẽ càng thú vị hơn khi chúng ta sử dụng các lỗi dùng từ phổ biến ở học sinh. Đó là các loại lỗi dùng từ sai do nhầm các từ gần âm, gần nghĩa, do không nắm khả năng kết hợp của từ… ví dụ bài tập “Chỉ ra từ dùng sai trong câu sau và chữa lại cho đúng: Trong học kì I vừa qua, bạn Cường có một số yếu điểm cần phải khắc phục”. Bài tập chữa lỗi dùng từ cũng sẽ trở nên thú vị hơn khi chúng ta đưa thêm yêu cầu giải thích vì sao dùng từ như thế lại sai. Chẳng hạn bài tập chỉ ra từ dùng sai trong câu sau và chữa lại cho đúng “ bạn Hùng chạy bon bon” có thể là bài tập cho HS lớp 2-3 nhưng nếu thêm yêu cầu giải thích vì sao dùng từ như thế bị xem là sai thì sẽ trở thành bài tập dành cho HS giỏi cả ở lớp 4,5. Có thể đưa vào nhóm bài tập nâng cao của mạch làm giàu vốn từ dạng bài tập yêu cầu HS đánh giá giá trị của việc sử dụng từ. Đây cũng là một dạng bài tập quan trọng của mạch “Cảm thụ văn học” nên sẽ được trình bày sau. 1.4. Các lớp từ vựng - kĩ năng nhận diện, nắm nghĩa và sử dụng từ theo các lớp từ vựng Các lớp từ vựng là tên tạm gọi để nói về mạch kiến thức, kĩ năng liên quan đến các vấn đề lí thuyết về từ mà phân môn luyện từ và câu hình thành cho HS. Đó là các lớp từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiều nghĩa. Cũng như mạch kiến thức - kĩ năng làm giàu vốn từ, các bài tập theo các lớp từ vựng cũng có hai nhóm: bài tập hệ thống hoá vốn từ và bài tập tích cực hoá vốn từ. Chúng có các dạng sau: 1.4.1. Bài tập cho sẵn từ, yêu cầu xác định lớp từ Những bài tập này đưa ra các từ rời hoặc một câu, đoạn,yêu cầu HS tìm các từ theo từng lớp từ. Ví dụ: - Xếp các từ sau theo từng nhóm từ đồng nghĩa: trái, quả, chết, hi sinh, toi mạng, quy tiên, tàu hoả, xe hoả, xe lửa, máy bay, phi cơ, tàu bay, vùng trời, ăn, xơi, không phận, hải phận, vùng biển, mời, tọng, đớp, ngốn, xinh, bé,kháu khỉnh, đẹp, nhỏ, loắt choắt, rộng, rộng rãi, bao la, bát ngát, vui vẻ, mênh mông, phấn khởi, đàn bà, phụ nữ. - Tìm từ đồng âm khác nghĩa trong câu sau: Một nghề cho chín còn hơn chín nghề. - Trong câu tục ngữ “Chết trong còn hơn sống đục” có những cặp từ nào trái nghĩa? 1.4.2. Cho từ, yêu cầu tìm từ khác cùng lớp từ vựng Những bài tập này cho sẵn một từ, yêu cầu học sinh tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa hoặc đồng âm với nó. Ví dụ: - Tìm từ đồng nghĩa (hoặc trái nghĩa ) với từ lễ phép. - Đặt hai câu để có từ đường đồng âm. Về lí thuyết, chúng ta cần phân biệt các từ đồng âm với một từ nhiều nghĩa: trừ kiểu đồng âm đặc biệt, đồng âm khác từ loại như bàn (trong cái bàn) và bàn (trong bàn công việc); cày (trong cái cày) và cày (trong cày ruộng)...mà có những tác giả cho là từ nhiều nghĩa, nghĩa của các từ đồng âm không có quan hệ với nhau, ví dụ đường (để đi) và đường (có vị ngọt để ăn) không có quan hệ về nghĩa. Chúng là những từ đồng âm. Trong khi đó, các nghĩa trong từ nhiều nghĩa có quan hệ với nhau và chúng ta có thể chỉ ra quy luật chuyển nghĩa của chúng. Ví dụ từ đường 1: từ nghĩa “nơi để người, xe cộ đi lại” đến nghĩa “nơi chuyển tải dòng điện” (trong đường điện) và “hướng mà sự vật phát triển” (trong đường cách mạng) có quy luật chuyển nghĩa theo lối ẩn dụ (so sánh dựa vào điểm giống nhau). Từ cốc 1 (vật để đựng nước uống) và cốc 2 (dùng ngón tay gõ lên đầu làm cho đau) không có quan hệ về nghĩa nên chúng là 2 từ đồng âm. Nhưng ở từ cốc 1 có hiện tượng chuyển nghĩa:từ nghĩa chỉ vật chứa nước uống thành nghĩa chỉ đơn vị-lượng nước được chứa trong một cái cốc. Ở đây từ đã được chuyển nghĩa theo lối hoán dụ (thay thế nhau) - dùng cái chứa đựng để gọi tên cái được chứa đựng. Đây là 2 nghĩa khác nhau của một từ cốc. Từ đường 2: từ nghĩa “chất có vị ngọt, vị người ta thích” đến nghĩa “lời nói phỉnh nịnh, dễ ưa, dễ làm người khác xiêu lòng” (trong lời đường mật) có quy luật chuyển nghĩa. Ngữ liệu thú vị cho dạng bài tập này là những từ đa nghĩa tạo cho bài tập có nhiều đáp án, tạo điều kiện có thể tổ chức các trò thi đố tìm nhanh, tìm nhiều từ. Ví dụ: Tìm các từ đồng nghĩa với từ "tươi", tìm các từ trái nghĩa với từ "tươi". Mục đích dạy các lớp từ vựng cho HS không chỉ giúp các em nhận diện ra các lớp từ này mà điều quan trọng là giúp các em sử dụng từ đúng, tiến tới sử dụng từ hay. Vì vậy, ứng dụng kiến thức về các lớp từ vựng, chúng ta có thể xây dựng thành hai nhóm bài tập để bồi dưỡng cho học sinh giỏi: 1.4.2.1. Bài tập giúp HS cảm nhận được cái hay của việc dùng từ Ví dụ: Từ tím ngát trong câu “Hoa sầu riêng nở tím ngát” có gì hay? Sở dĩ ví dụ này được xem là bài tập thuộc mạch "Các lớp từ vựng" vì để chỉ ra cái hay của "tím ngát" phải đặt nó trong thế đối lập với "tím ngắt" và "ngan ngát" là những từ gần nghĩa với nó. 1.4.2.2. Những bài tập giúp lựa chọn sử dụng từ hay Ví dụ: Chọn 1 trong 3 từ mọc, nhô, ngoi điền vào chỗ trống để có câu văn miêu tả: - Mặt trời … lên. - Thay từ được gạch dưới bằng một từ láy để các câu văn trở nên gợi tả hơn: Những giọt sương đêm nằm trên những ngọn cỏ. Đêm ấy, trăng sáng lắm. Dưới trăng dòng sống trông như dát bạc. Bài tập có thể kèm thêm yêu cầu giải thích vì sao dùng từ như thế lại hay, ví dụ: Chọn 1 trong 3 từ “ rơi, rụng, rắc” em cho là hay nhất để điền vào chỗ trống trong câu thơ sau và giải thích vì sao em chọn từ đó: Mỗi mùa xuân thơm lừng hoa bưởi … trắng vườn nhà những cánh hoa vương. Khi kèm thêm yêu cầu giải thích vì sao dùng từ như thế lại hay thì đó cũng là một dạng bài tập cảm thụ văn học - cảm thụ cái hay của việc dùng từ. 1.5. Cấu tạo từ - kĩ năng nhận diện, nắm nghĩa, tạo từ và sử dụng từ theo kiểu cấu tạo Về mặt lí thuyết, để phân loại, nhận diện từ theo cấu tạo, phải nắm chắc các kiến thức sau: Xét về cấu tạo, dựa vào số lượng tiếng, người ta chia từ ra thành từ có một tiếng (từ đơn) và nhóm từ có hai tiếng trở lên (từ đa âm, ở tiểu học gọi là từ phức). Để phân loại nhóm từ phức, phải dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng ở trong từ: Nếu các tiếng trong từ có quan hệ về nghĩa (lúc này mỗi tiếng đều có nghĩa và các tiếng trong từ có thể có quan hệ chính phụ hoặc quan hệ đẳng lập) thì đó là từ ghép, nếu các tiếng trong từ chỉ có quan hệ về âm (có một bộ phận âm đầu, vần hay cả khuôn tiếng (âm đầu và vần), cả tiếng giống nhau) thì đó là từ láy. Như vậy, mối quan hệ giữa các tiếng trong từ là căn cứ để phân biệt từ ghép và từ láy. Ngoài những trường hợp rất tiêu biểu cho từ ghép như nhà cửa, sách vở, xe đạp, học sinh… tiêu biểu cho từ láy như xanh xao, đẹp đẽ, nhỏ nhắn…, trong thực tế, khi phân loại một từ nào đó theo cấu tạo, có các trường hợp không nằm ở phần tâm của bảng phân loại, thường được xem là trường hợp trung gian không tiêu biểu cho mỗi loại, khiến cho HS gặp nhiều khó khăn, dễ mắc sai lầm khi phân loại nên cần phải được lưu ý lưu ý. Đó là các trường hợp sau: - Có những từ mà các tiếng trong từ vừa có quan hệ về nghĩa vừa có quan hệ về âm như tươi tốt, thúng mủng, đi đứng… thì xếp vào từ ghép theo nguyên tắc ưu tiên về nghĩa, lúc này sự giống nhau về âm được xem là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Như vậy về lí thuyết, từ láy phải là những từ giữa các tiếng có quan hệ về âm và chỉ có quan hệ về âm mà thôi. - Có những từ đứng trên quan điểm lịch sử thì cả hai tiếng trong từ đều có nghĩa nhưng theo quan điểm đồng đại thì có một tiếng mất nghĩa. Những từ này sẽ được chia làm 2 nhóm. Nhóm thứ nhất giữa hai tiếng lại có quan hệ về âm như chùa chiền, chim chóc, đất đai... thì được xếp vào từ láy. Nhóm thứ hai gồm những từ có một tiếng mất nghĩa nhưng giữa hai tiếng không có quan hệ về âm như tre pheo, bếp núc, xe cộ...thì lại được xếp vào từ ghép. - Về cấu tạo từ, ở tiểu học không nên đặt vấn đề phân loại đối với các từ thuần Việt ngẫu kết như tắc kè, mồ hôi, bồ kết…, từ vay mượn như mì chình, xà phòng, mít tinh… là những từ mà cả hai tiếng trong từ dù xét theo quan điểm đồng đại hay lịch đại đều không có quan hệ cả về nghĩa lẫn về âm. Vì vậy, những từ này sẽ không được dùng làm ngữ liệu để ra bài tập khi ôn luyện lí thuyết cấu tạo từ. Nếu học sinh chủ động đưa các từ này ra và yêu cầu phân loại thì giáo viên cần giải thích cho các em rằng những từ đó là một loại từ ghép đặc biệt, các em sẽ được học sau. Ngoài ra, cần lưu ý rằng danh từ riêng cũng không phải là ngữ liệu của những bài tập cấu tạo từ. - Các kiểu từ như ồn ào, ầm ĩ, ọc ạch, ỏn ẻn… đều được xem là từ láy và được giải thích là các tiếng trong từ giống nhau ở chỗ cùng vắng khuyết phụ âm đầu. Ngoài ra, khi xét từ láy lưu ý không bỏ qua trường hợp các từ láy phụ âm đầu nhưng trên dạng thức chữ viết lại được viết bằng các con chữ khác nhau như cong queo, cuống quýt, kính coong… Cuối cùng, cần lưu ý không xếp nhầm các trường hợp như cần mẫn, chuyên chính… vào từ láy do không nắm nghĩa của mỗi tiếng trong từ. Những từ này chứa các tiếng có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng đây là những từ Hán Việt, mỗi tiếng đều có nghĩa, giữa các tiếng trong từ có quan hệ về nghĩa. Vì vậy, mặc dù chưa nắm nghĩa của từng tiếng nhưng nếu biết đó là từ Hán Việt thì phải thận trọng xem xét khi phân loại. - Dựa vào tính chất quan hệ về nghĩa giữa các tiếng, từ ghép lại được chia thành từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại. Trong từ ghép tổng hợp, các tiếng có quan hệ đẳng lập, trong từ ghép phân loại, các tiếng có quan hệ chính phụ. Nghĩa của từ ghép tổng hợp mang tính khái quát, tổng hợp, còn trong từ ghép phân loại có yếu tố cụ thể hoá, cá thể hoá nghĩa cho các yếu tố kia. Khi phân loại cụ thể các kiểu từ ghép nên lưu ý trường hợp đồng âm (một hình thức ngữ âm) ứng với hai nghĩa khác nhau như bút mực, sáng trong... Ví dụ sáng trong là từ ghép tổng hợp trong câu: “Người chiến sĩ ấy có tấm lòng sáng trong như ngọc”, lúc này sáng trong cũng có thể đổi thành trong sáng. Sáng trong là từ ghép phân loại trong những câu như “Nhớ mua bóng đèn sáng trong, đừng mua bóng sáng đục (sáng mờ). Những trường hợp cần lưu ý đã nêu sẽ là ngữ liệu nâng cao yêu cầu nhận diện kiểu từ theo cấu tạo. Để phù hợp với đối tượng HS tiểu học, khi đưa những trường hợp này và yêu cầu xếp loại từ theo cấu tạo, chúng ta nên “cảnh báo”, chỉ dẫn để học sinh lưu ý. Ví dụ ở bài tập “Gạch bỏ từ không thuộc nhóm cấu tạo với các từ còn lại trong dãy từ sau: nắng nôi, nóng nảy, nứt nẻ, nồng nàn, nơm nớp. Việc trong dãy từ có một từ không phải là từ láy đã được báo trước trong lệnh bài tập. Ngữ liệu tạo được sự thú vị của bài tập nhận diện lớp từ theo cấu tạo là những trường hợp đồng âm - cấu tạo từ như cánh chim (có khả năng là một từ ghép hoặc là hai từ đơn), may máy (có khả năng là một từ ghép hoặc một từ láy), bút mực, nhà đất (có khả năng là một từ ghép tổng hợp hoặc một từ ghép phân loại). Bài tập nhận diện, phân loại từ đơn, từ ghép (phân loại, tổng hợp), từ láy gồm các dạng sau: 1) Cho sẵn từ rời, yêu cầu xếp loại, ví dụ: Hãy xếp các từ thật thà, bạn bè, hư hỏng, bạn học, chăm chỉ, gắn bó, bạn đường, ngoan ngoãn, giúp đỡ, bạn đọc, khó khăn vào ba nhóm: Từ ghép tổng hợp Từ ghép phân loại Từ láy 2) Cho sẵn một đoạn, một câu, yêu cầu học sinh tìm một hoặc một số kiểu từ theo cấu tạo có trong đoạn, câu đó, ví dụ: Tìm các từ láy có trong ba câu sau: Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn. Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc. Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người. (Thép Mới) Với những bài tập này, trước khi đi vào phân loại từ theo cấu tạo, học sinh phải vạch được đúng ranh giới từ. Nhiều lúc, vấn đề mấu chốt lại là vấn đề phân cắt đơn vị từ. 3) Cho sẵn một yếu tố cấu tạo từ (một tiếng), yêu cầu học sinh tìm từ có tiếng gốc đó theo những kiểu cấu tạo khác nhau. Ví dụ: - Tìm những tiếng có thể kết hợp với "sáng" để tạo thành từ ghép (tổng hợp, phân loại ) và từ láy. - Điền tiếng thích hợp vào chỗ trống để có: Các từ ghép Các từ láy mềm... mềm... xanh... xanh... khỏe... khỏe... lạnh.... lạnh... vui... vui... Những bài tập yêu cầu học sinh từ một tiếng đã cho tạo từ theo kiểu cấu tạo nào đó sẽ tăng độ thú vị khi chúng ta tìm được những tiếng (cũng là một từ đơn) có khả năng tạo từ lớn, ví dụ, bài tập "Tìm các từ có tiếng "mờ" sao cho được nhiều kiểu cấu tạo nhất" là một trò thi đố thú vị vì học sinh sẽ tìm được nhiều từ có các kiểu cấu tạo khác nhau, ví dụ: mờ (từ đơn), mờ nhạt (từ ghép tổng hợp), mờ mắt (từ ghép phân loại), mờ mịt (láy phụ âm đầu), lờ mờ (láy vần), mờ mờ (láy tiếng), mập mà mập mờ (láy tư). Ngoài dạng bài tập nhận diện, phân loại từ theo cấu tạo, những dạng bài tập được xem là hay thường được dùng nhiều cho học sinh giỏi gồm: 1) Bài tập yêu cầu chỉ ra sự khác nhau về nghĩa của các từ phức có cùng yếu tố cấu tạo, sự khác nhau về nghĩa giữa một từ ghép và các tiếng (cũng là những từ đơn ) tạo nên từ ghép đó. 2) Bài tập chỉ ra cái hay của việc dùng từ, đặc biệt là từ láy. 3) Bài tập yêu cầu lựa chọn, sử dụng từ, đặc biệt là từ láy, có hiệu quả. Những dạng bài tập này đã được bàn đến ở mạch “Làm giàu vốn từ”. 1.6. Biện pháp tu từ - kĩ năng nhận diện, sử dụng biện pháp tu từ 1.6.1. Nhận diện biện pháp tu từ Đây là những bài tập yêu cầu HS nhận ra biện pháp tu từ (so sánh, nhân hoá) trong đoạn văn, đoạn thơ. Bài tập cũng có thể yêu cầu HS chỉ ra từng bộ phận cấu tạo nên từng biện pháp tu từ. Đề thi học sinh giỏi ít khi chỉ có yêu cầu nhận diện biện pháp tu từ. 1.6.2. Bài tập cấu trúc yêu cầu tạo lập biện pháp tu từ Thuộc dạng bài tập này là những bài tập yêu cầu HS lắp ghép hoặc thêm bộ phận còn thiếu để tạo biện pháp tu từ. Những bài tập được xem là thú vị trong nhóm này là những bài tập dùng hình ảnh hoặc từ ngữ để gợi ra các mối quan hệ so sánh, ví dụ bài tập x: Quan sát từng cặp sự vật được vẽ dưới đây rồi viết những câu có hình ảnh so sánh các sự vật trong tranh (xem mục Một số bài tập tiếng Việt nâng cao, bài 25). Ta đã biết mục đích của so sánh là làm cho đối tượng được so sánh trở nên gần gũi, sinh động và có đặc điểm được đánh giá, nhận định trở nên thuyết phục hơn. Đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh phải được thừa nhận đạt chuẩn nào đó. Vì quả bóng cụ thể hơn trăng, chữ S cụ thể hơn hình dáng đất nước Việt Nam nên trong bài tập này, bức tranh 1 chỉ có thể nói "Trăng tròn như quả bóng" mà không nói "Quả bóng tròn như trăng". Ở bức tranh 4 chỉ có thể nói "Nước Việt Nam như hình chữ S" mà không nói "Chữ S giống hình nước Việt Nam". Ở hình 2, hoa đạt hai chuẩn: tươi và đẹp nên hai so sánh được tạo ra là "Mặt đẹp như hoa", "Mặt tươi như hoa" mà không thể nói "Hoa như mặt người". Đặc biệt thú vị là bức tranh số 3, vì đèn có chức năng soi sáng, trăng sao đạt chuẩn về vẻ đẹp nên trên thực tế sẽ tạo được nhiều so sánh đúng: "Những ngọn đèn như những ngôi sao" và "Vầng trăng (ngôi sao) như ngọn đèn soi đường cho chúng ta đi". Khi dạy biện pháp tu từ, chúng ta cần làm cho học sinh hiểu được mục đích, giá trị của biện pháp tu từ chứ không chỉ hình thức của chúng. Vì không chú ý đến mục đích của so sánh nên nhiều học sinh khi giải bài tập trong đề thi học sinh giỏi yêu cầu viết câu có hình ảnh so sánh từ các cặp từ ngữ chiếc đĩa bạc - vầng trăng, tấm thảm vàng - cánh đồng lúa chín đã tạo ra những câu không rõ mục đích so sánh để làm gì như Chiếc đĩa bạc như vầng trăng, Tấm thảm vàng như cánh đồng lúa chín. 1.6.3. Bài tập yêu cầu phân tích đánh giá giá trị của biện pháp tu từ Bản thân biện pháp tu từ là thú vị, nó tạo nên giá trị nghệ thuật của ngôn ngữ văn chương. Vì vậy dạng bài tập này xuất hiện nhiều trong đề thi học sinh giỏi. Ví dụ: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó: Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng (Nguyễn Khoa Điềm) Yêu cầu phân tích, đánh giá giá trị của biện pháp tu từ chính là một kiểu bài tập cảm thụ văn học, vì vậy chúng sẽ được bàn kĩ khi nói về mạch kiến thức, kĩ năng 15 - Cảm thụ văn học, rèn kĩ năng đọc hiểu. 1.6.4. Bài tập sáng tạo- yêu cầu HS sử dụng biện pháp tu từ để luyện viết câu văn có hình ảnh, có cảm xúc Ví dụ: Viết ba câu văn có hình ảnh nhân hóa để tả: - Giọt nắng sớm - Cánh cổng trường - Lá cờ giữa sân trường Những bài tập này là những bài tập sáng tạo, yêu cầu học sinh sử dụng biện pháp tu từ để luyện viết câu văn có hình ảnh, có cảm xúc, chúng được sử dụng nhiều khi luyện viết văn. Vì vậy, những bài tập này được sử dụng nhiều ở mạch kiến thức, kĩ năng 16 - Làm văn - rèn kĩ năng viết đoạn, bài văn. 1.7. Từ loại - kĩ năng nhận diện, sử dụng từ theo đúng từ loại, tiểu loại Bài tập về từ loại gồm các dạng sau: 1.7.1. Cho từ rời, yêu cầu xác định từ loại, tiểu loại Dạng bài tập này trở thành thú vị khi chúng ta chọn ngữ liệu là những từ đồng âm, đa nghĩa, có hiện tượng chuyển từ loại, ví dụ bài tập yêu cầu xác định từ loại của các từ: cân, hay, kén, bò, sơn… Khi giải bài tập này, cần lưu ý HS đưa từ vào tất cả những ngữ cảnh có thể để không bỏ sót nghĩa và khả năng hiện thực hoá từ loại của từ. Nhiều khi khả năng đa từ loại đã được chỉ dẫn trong lệnh bài tập, ví dụ "Từ trẻ con có thể là một tính từ, lúc đó nghĩa của nó là gì? Hãy đặt câu có từ trẻ con với nghĩa đó" Nhận diện các tiểu loại từ như danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ khái niệm là khó đối với học sinh tiểu học. Vì vậy dẫu là bài tập dành cho học sinh giỏi, cần phải lựa chọn các ngữ liệu điển hình, dễ nhận diện khi xây dựng các bài tập yêu cầu học sinh phân biệt các tiểu loại từ này. Chẳng hạn để luyện tập về danh từ chỉ khái niệm, chúng ta chỉ nên chọn ngữ liệu là ba trường hợp sau: 1/ Có thế đối lập về nghĩa cụ thể và nghĩa bóng (trừu tượng), ví dụ: lòng (trong cháo lòng) là bộ phận nằm trong khoang bụng của người, động vật và lòng (trong lòng mẹ) chỉ tình cảm, tình yêu; tim (quả tim cơ học) và tim (tình yêu, tình cảm), 2/ Hiện tượng đồng âm của những danh từ trừu tượng có khả năng chuyển từ loại thành động, tính từ như suy nghĩ, khó khăn, nhận thức... 3/ Hiện tượng cấu tạo từ có sự, cuộc, nỗi, niềm đứng trước các động từ, tính từ để tạo thành một danh từ chỉ khái niệm như cuộc đấu tranh, nỗi buồn, niềm vui. 1.7.2. Cho từ trong câu đoạn, yêu cầu xác định từ loại Đây là những bài tập yêu cầu HS tìm danh từ, động từ, tính từ… trong đoạn thơ, văn. Lúc này, vấn đề đặt ra cho học sinh là phải phân định đúng ranh giới từ trong đoạn. Nhiều khi, do không phân định được đúng ranh giới từ mà học sinh đã xác định sai từ loại. Ví dụ nhiều học sinh cho non cao, nắng chang, xoài biếc, cam vàng, dừa nghiêng, cau thẳng là một từ nên không xem cao,chang, biếc, vàng, nghiêng, thẳng là tính từ khi giải bài tập theo đề bài sau: Tìm các tính từ trong khổ thơ sau: Việt Nam đẹp khắp trăm miền Bốn mùa một sắc trời riêng đất này Xóm làng, đồng ruộng, rừng cây. Non cao gió dựng sông đầy nắng chang Sum sê xoài biếc cam vàng Dừa nghiêng, cau thẳng, hàng hàng nắng soi. (Bài tập trên có đáp án là 10 tính từ: đẹp, riêng, cao, đầy, chang (chang chang), sum suê, biếc, vàng, nghiêng, thẳng). Khi xác định từ loại, học sinh hay gặp khó khăn trong những trường hợp từ có nghĩa và dấu hiệu hình thức không điển hình cho từ loại. Ví dụ như các em rất dễ nhầm động từ với tính từ, danh từ với tính từ khi xác định từ loại của mòn, ngược, xuôi, riêng, đầy trong các câu “Nước chảy đá mòn”, “Đi ngược về xuôi”, “Bốn mùa một sắc trời riêng đất này”, “Non cao gió dựng sông đầy nắng chang”. Những từ có cùng yếu tố cấu tạo cũng dễ gây cho học sinh sự nhầm lẫn về từ loại, ví dụ: tình yêu, yêu thương, đáng yêu. Các động từ chỉ cảm xúc kết hợp được với phụ từ chỉ mức độ như vui, buồn, giận cũng hay bị học sinh cho là tính từ. 1.7.3. Bài tập yêu cầu sử dụng từ theo lớp từ loại Những bài tập này là những bài tập tích cực hoá vốn từ mà ngữ liệu là những từ cùng từ loại. Bài tập sẽ trở nên thú vị nếu chúng ta lựa chọn được các ngữ liệu điển hình sử dụng nhiều từ cùng từ loại, từ đồng nghĩa như bài tập sau: - Chọn tính từ chỉ màu trắng thích hợp cho dưới đây điền vào từng chỗ trống trong bài thơ sau: (trắng phau, trắng hồng, trắng bạc, trắng ngần, trắng đục, trắng trẻo, trắng xoá, trắng bệch, trắng nõn, trắng tinh, trắng muốt, trắng bóng). Tuyết rơi ………………… một màu Vườn chim chiều xế …………………cánh cò Da ………………người ốm o Bé khoẻ đôi má non tơ ………………… Sợi len ………………… như bông Làn mây ………………… bồng bềnh trời xanh …………………đồng muối nắng hanh Ngó sen ở dưới bùn tanh ………………… Lay ơn ………………… tuyệt trần Sương mù ………………… không gian nhạt nhoà Gạch men ………………… nền nhà Trẻ em ………………… hiền hoà dễ thương. (Đáp án: Thứ tự các từ cần điền: 1.trắng xóa 2.trắng phau 3. trắng bệch 4. trắng hồng 5. trắng muốt 6. trắng bạc 7. trắng tinh 8. trắng ngần 9. trắng nõn 10. trắng đục 11. trắng bóng 12. trắng trẻo) g. 1.7.4. Bài tập chữa lỗi sử dụng sai từ loại, tiểu loại Ví dụ 1: - Hãy tìm từ dùng sai trong câu sau: Em thân thương bạn Linh. Từ dùng sai là danh từ, động từ hay tính từ? Hãy đặt một câu với từ đó. Câu trên có lỗi dùng từ vì đã dùng tính từ thân thương như một động từ. Ví dụ 2: - Tìm chỗ sai trong các câu dưới đây và chữa lại cho đúng: a) Bạn Vân đang nấu cơm nước. b) Bác nông dân đang cày ruộng nương. c) Mẹ cháu vừa đi chợ búa. d) Em có một người bạn bè rất thân. Bài tập này có thể xếp vào bài tập sử dụng từ sai cấu tạo, cũng có thể xếp vào bài tập sử dụng từ sai theo tiểu loại của từ. Ba câu đầu ở bài tập này bị sai vì đã sử dụng những danh từ tổng hợp kết hợp với một động từ cụ thể. Câu 4 sai vì danh từ tổng hợp bạn bè không kết hợp được với danh từ chỉ đơn vị “người”. 1.8. Câu phân loại theo chức năng của vị ngữ - kĩ năng nhận diện, sử dụng đúng kiểu câu theo chức năng của vị ngữ Đây là tên gọi tạm đặt cho cách phân loại câu thành ba kiểu “Ai - là gì?”, “Ai - làm gì?”, “Ai thế nào?” - Một cách phân loại câu mới của chương trình Tiếng Việt 2000. Nội dung phân loại câu này gồm ba dạng bài tập sau: 1.8.1. Xác định kiểu câu theo chức năng của vị ngữ Nhiều người cho rằng căn cứ để phân loại câu theo chức năng của vị ngữ là từ loại của vị ngữ: Nếu vị ngữ của câu là động từ “là” (chỉ quan hệ) thì câu thuộc kiểu “Ai-là gì?”; nếu vị ngữ của câu là động từ (hoặc cụm động từ) chỉ hoạt động thì câu thuộc kiểu “Ai-làm gì?”; nếu vị ngữ của câu là tính từ (hoặc cụm tính từ), là động từ (hoặc cụm động từ) chỉ trạng thái, ta có câu kiểu “Ai-thế nào?”. Nhận xét này chỉ đúng cho trường hợp kiểu câu “Ai-là gì?”. Từ loại của vị ngữ không phải là căn cứ chắc chắn để phân loại kiểu câu “Ai-làm gì?”. “Ai-thế nào ?”. Đây cũng chính là hai kiểu câu thực tế cho thấy HS khó phân loại nhất. Cần dựa vào nghĩa câu,mục đích thông báo đích thực của câu để phân loại hai kiểu câu này. Và cách làm đáng tin cậy nhất và cũng đơn giản nhất chính là đặt câu hỏi cho bộ phận vị ngữ của câu. Các bài tập nâng cao thuộc dạng bài tập xác định kiểu câu theo chức năng của vị ngữ nên chọn những ngữ liệu gây khó và cũng là những trường hợp thú vị như sau: a. Các câu có từ “là” nhưng không thuộc mẫu câu “Ai-là gì?” như “Cái chổi là để quét nhà”, “Hồng nói như thế là tốt”, “Vừa buồn mà lại vừa vui mới thực là nỗi niềm hoa phượng”...được dùng để xây dựng bài tập nâng cao yêu cầu xác định kiểu câu “Ai-là gì?”,ví dụ bài tập sau: - Câu nào trong hai câu sau thuộc kiểu câu "Ai là gì?" ? Anh ấy là người nói hay. Anh ấy nói là hay. Khi giải bài tập này, học sinh có thể bị nhầm câu thứ hai thuộc kiểu câu "Ai - là gì?" nhưng cả chủ ngữ “Anh ấy nói” và vị ngữ “là hay”của câu không được cấu tạo như bộ phận chủ ngữ và vị ngữ của kiểu câu "Ai - là gì?". Bài tập này sẽ được tăng độ khó và thú vị hơn khi ta thêm yêu cầu nêu nghĩa của câu, ví dụ: “Nghĩa của hai câu đó khác nhau như thế nào?”. Về nghĩa, câu thứ nhất giới thiệu, đánh giá về khả năng nói của "Anh ấy" là tốt còn câu thứ hai nhận định rằng tư cách phát biểu (nói) của "anh ấy" là tốt, thích hợp. b. Các câu có cùng một động từ hoặc một cụm động nào đó làm vị ngữ nhưng tùy vào từng ngữ cảnh khác nhau mà có trọng tâm nghĩa,trọng tâm thông báo khác nhau là những trường hợp khó phân biệt và cũng tạo nên sự thú vị khi cần phân biêt kiểu câu “Ai-làm gì ?” và “Ai-thế nào?”Ví dụ hai bài tập sau: - Mỗi câu sau thuộc kiểu câu “Ai-làm gì ?” hay “Ai-thế nào?”? Hoa đi chơi. Hoa hay đi chơi. Câu thứ nhất có vị ngữ “đi chơi” trả lời cho câu hỏi “Làm gì?”nên thuộc kiểu câu “Ai- làm gì?”. Câu thứ hai mặc dầu có trung tâm của vị ngữ là “đi chơi” nhưng trọng tâm ngữ nghĩa,trọng tâm thông báo của câu lại nằm ở phụ từ “hay”, vị ngữ của câu trả lời cho câu hỏi “Thế nào?” nên nó thuộc kiểu câu “Ai - thế nào?”. - Trong hai câu in đậm sau, chỉ có câu thứ nhất thuộc kiểu câu kể "Ai-thế nào?". Vì sao? Thỏ chạy nhanh. (Còn rùa chạy chậm). Nhìn thấy Rùa gần đến đích, Thỏ chạy nhanh. (Nó cố sức băng qua cánh đồng để đuổi kịp Rùa). Chỉ có câu thứ nhất đánh giá về khả năng chạy của Thỏ, có vị ngữ trả lời cho câu hỏi "Thỏ thế nào?", lúc này trong vị ngữ “chạy nhanh”, trọng tâm thông báo nằm ở “nhanh” mà không nằm ở “chạy”. Trong khi đó, câu thứ hai kể về hành động của Thỏ, có vị ngữ trả lời cho câu hỏi "Thỏ làm gì?", trọng tâm thông báo của câu lúc này lại nằm ở “chạy” mà không nằm ở “nhanh”. c. Các câu có cùng một động từ hoặc một cụm động nào đó làm vị ngữ nhưng tùy vào từng ngữ cảnh khác nhau mà động từ làm vị ngữ lại chỉ hành động hoàn thành hay chưa hoàn thành khiến cho vị ngữ lúc thì có tác dụng miêu tả, lúc thì nhằm thông báo về một hoạt động, ví dụ như ngữ liệu trong bài tập sau: - Trong hai câu sau, chỉ có một câu thuộc kiểu câu kể "Ai thế nào?". Vì sao? Hôm nay Thanh mặc một chiếc áo khoác đen. Nghe tiếng chuông reo, Thanh mặc vội chiếc áo khoác đen rồi đi ra mở cửa. Trong hai câu trên, chỉ có ở câu thứ nhất, từ "mặc" chỉ hoạt động đã hoàn thành, kết thúc nên vị ngữ của câu này trả lời cho câu hỏi "Ai thế nào?" còn ở câu thứ hai, "mặc" chỉ hoạt động đang diễn ra,chưa hoàn thành, trả lời cho câu hỏi "Làm gì?" nên câu này thuộc kiểu câu kể "Ai làm gì?". d. Các câu có cùng một động từ làm vị ngữ nhưng tùy thuộc vào ngữ cảnh, động từ đó có thể chủ động hay bị động mà câu thuộc thuộc kiểu câu “Ai-làm gì ?”hay “Ai-thế nào?”. Ví dụ câu “Hôm nay, tôi sẽ đi gặp hiệu trưởng.”thuộc kiểu câu “Ai-làm gì?” nhưng những câu “Sáng nay, tớ vừa gặp Lan ở chợ.”, “Hai người đang đi bỗng gặp một con gấu.”... lại thuộc kiểu câu “Ai- thế nào?”. Các câu có vị ngữ là động từ chỉ trạng thái như “Hòa rất băn khoăn.”, “Mai hồi hộp lắm.” Hay vị ngữ là động từ bị động như “Em bé ngã.”, “Vân được điểm mười.”... đều thuộc mẫu câu “Ai-thế nào”. Ngoài ra, các trường hợp câu có chủ ngữ là bất động vật,kể cả khi chúng được nhân hóa,vẫn được xếp vào kiểu câu “Ai-thế nào ?”. Trừ trường hợp các câu trong truyện đồng thoại có chủ ngữ là bất động vật nhưng lại được người hóa và tên chúng được viết hoa thì khi phân loại được xem như là câu có chủ ngữ là động vật. 1.8.2. Đặt câu theo mẫu Những bài tập đặt câu theo mẫu thường quy định cả hình thức mẫu câu và nội dung câu. Ví dụ: Đặt một câu theo mẫu "Ai - thế nào?", một câu theo mẫu "Ai - là gì?" có cùng nội dung khen bạn Minh học toán giỏi. Hai câu đáp án của bài tập là Minh học toán giỏi, Minh là người học toán giỏi (hoặc Minh là một cây toán của lớp em). Chúng là những câu đồng nghĩa. Đây là một dạng bài tập nâng cao thú vị. 1.8.3. Chuyển đổi kiểu câu theo chức năng của vị ngữ Có thể đưa thêm dạng bài tập yêu cầu chuyển đổi kiểu câu theo chức năng của vị ngữ. Các câu sau khi được chuyển đổi phải có cùng nội dung, đồng nghĩa với câu gốc. Ví dụ: - Chuyển câu “Hùng vẽ giỏi” thành một câu có mẫu “Ai - là gì?” - Những câu nào không thuộc kiểu câu “Ai - là gì?”? Hãy chuyển chúng thành câu kiểu "Ai là gì?". a) Nha Trang có bãi biển rất nổi tiếng và thơ mộng. b) Nha Trang là thành phố biển nổi tiếng của Việt Nam. c) Nha Trang được nhiều người xem là thành phố biển thơ mộng nhất của nước ta. Để giải được bài tập này, học sinh cần hiểu rằng chuyển kiểu câu tức là tạo ra một câu mới theo kiểu cấu tạo đã cho nhưng phải đồng nghĩa với câu đã có. Nha Trang là tên một thành phố nên muốn chuyển những câu không thuộc kiểu câu "Ai - là gì?" như câu a và câu c ở trên thành câu kiểu "Ai - là gì?" đồng nghĩa với nó, cần phải thêm vào vị ngữ của những câu này bộ phận "là gì", ví dụ "là thành phố", "là nơi". Câu a và câu c sẽ được chuyển thành "Nha Trang là thành phố có bãi biển rất nổi tiếng và thơ mộng" và "Nha Trang là nơi được nhiều người xem là thành phố biển thơ mộng nhất của nước ta".
- Xem thêm -