Tài liệu Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía bắc việt nam hiện nay

  • Số trang: 109 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 148 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT -------***------- NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà nội – 2005 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT -------***------- NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật Mã số: 6.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Đức Thảo Hà nội - 2005 CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CBCC Cán bộ, công chức GDPL Giáo dục pháp luật HĐND Hội đồng nhân dân UBND Uỷ ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN 11 BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM Tổng quan lý luận chung về giáo dục pháp luật. Khái niệm và đặc điểm của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. 1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, 1.1. 1.2. 11 26 32 38 CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY Khái quát thực trạng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay. 2.2. Thực trạng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay. 2.3. Đánh giá chung về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay. Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG GIÁO 2.1. 38 43 57 65 DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY Tăng cƣờng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính 65 quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam - yêu cầu cấp thiết hiện nay. 3.2. Phƣơng hƣớng tăng cƣờng giáo dục pháp luật cho cán bộ, 72 công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay. 3.3. Các giải pháp tăng cƣờng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công 75 chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay. KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 3.1. "Con người vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục. Và do đó, con người đã thay đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi" [25.tr10] MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. GDPL cho toàn thể nhân dân nói chung, cho đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng luôn là mối quan tâm lớn đối với Đảng và Nhà nước ta. Điều đó được phản ảnh qua các văn kiện của Đảng và thể hiện trong nhiều quy định pháp luật do Nhà nước ban hành. Trong các văn kiện của Đảng, quan điểm coi trọng công tác GDPL được thể hiện nhất quán và ngày càng rõ nét, đặc biệt là kể từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI tới nay. Thể chế hoá quan điểm do Đảng đề ra, nhiều văn bản pháp luật đã được Nhà nước ban hành, như: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 do Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 136-2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001, trong đó xác định một trong những nhiệm vụ cần thực hiện nhằm đảm bảo việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức là “cung cấp cho cán bộ, công chức đầy đủ thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước để vận dụng, giải quyết công việc theo chức trách, thẩm quyền"; Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 01 năm 2003 được Thủ tướng Chính phủ ban hành Phê duyệt chương trình phổ biến, GDPL từ năm 2003 đến năm 2007; Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004 do Thủ tướng Chính phủ ban hành Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về phổ biến, GDPL và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010… Trên cơ sở đó, thời gian qua, công tác GDPL nói chung, GDPL cho cán bộ, công chức nói riêng đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, góp phần nâng 2 cao trình độ hiểu biết về pháp luật, nâng cao văn hoá pháp lý, bước đầu tạo dựng sự ổn định trong lối sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, cho đến nay, so với nhu cầu thực tiễn, công tác GDPL vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, nhất là GDPL cho các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, trong đó có miền núi phía Bắc. Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Chỉ thị 32-CT/TW của Ban Bí thư ngày 09/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, GDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã đưa ra nhận định: "Sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác phổ biến, GDPL chưa được tập trung đúng mức; trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với công tác này chưa được xác định cụ thể, rõ ràng nên kết quả đạt được còn thấp so với yêu cầu, sự hiểu biết pháp luật của cán bộ và nhân dân còn nhiều hạn chế" Về phía Quốc hội, tại kỳ họp thứ 6 - Khoá XI (tháng 11/2004), nhiều đại biểu cho rằng chúng ta chưa đặt vấn đề này đúng tầm vóc, rằng, khi sách GDPL còn nằm im trong tủ thì tình trạng vi phạm pháp luật gia tăng là điều dễ hiểu. Đến kỳ họp thứ 7 - Khoá XI (tháng 5, tháng 6/2005), Quốc hội tiếp tục nhấn mạnh: đưa các đạo luật vào cuộc sống, đó mới là điều có ý nghĩa quyết định. Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị [5.tr3]. Tất nhiên, GDPL không chỉ đơn thuần là việc mang những quyển sách ra khỏi tủ sách pháp luật. Và mặc dù xét trên phương diện lý luận, chúng ta không còn phải tranh cãi nhiều về khái niệm, nội dung, hình thức, phương pháp GDPL, song, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả những lý thuyết ấy trên thực tế quả thực còn là câu chuyện trăn trở của những nhà giáo dục, các báo cáo viên, tuyên truyền viên; còn là niềm hy vọng, sự nỗ lực của nhà làm luật, nhà quản lý. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để đưa pháp luật vào cuộc sống? Làm thế nào để GDPL đạt hiệu quả? Theo khoa học lý luận chung về nhà nước và 3 pháp luật, một trong những nguyên tắc được đề cập đến đầu tiên là “phải tính toán khả năng lĩnh hội những kiến thức pháp lý của các tầng lớp dân cư, các loại đối tượng, từ đó lựa chọn những biện pháp và hình thức giáo dục thích hợp” [49.tr285]. Như vậy, đối tượng là yếu tố mà GDPL hướng tới, là yếu tố quyết định hình thức, biện pháp, nội dung và cũng là yếu tố quan trọng kiểm định hiệu quả GDPL. Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là đối tượng hết sức đông đảo và quan trọng của GDPL. Thời gian qua, được sự chú trọng xây dựng và phát triển của Đảng, của Nhà nước, họ đã không ngừng lớn mạnh. Tuy nhiên, trước những yêu cầu ngày càng cao của xã hội, đội ngũ này không phải không có những bất cập, cả về lực lượng, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về kỹ năng thực hiện công việc và về kiến thức pháp luật. Sự bất cập này thể hiện rõ nét hơn ở các địa phương miền núi phía Bắc, xuất phát từ nhiều lý do khách quan và chủ quan. Về khách quan, miền núi phía Bắc Việt Nam là địa bàn có nhiều đồi núi, gây khó khăn trong quy tụ dân cư, là trở lực lớn đối với công tác quản lý ngay từ cấp chính quyền cơ sở; ở đây có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống với sự đa dạng phong tục, tập quán tham gia chi phối, điều chỉnh quan hệ xã hội, mà nhiều khi các phong tục, tập quán đó còn có vai trò ưu trội hơn pháp luật, là trở lực đối với việc đưa pháp luật vào cuộc sống; bên cạnh đó, cùng với những khó khăn về địa lý, về giao thông thì dân trí thấp chính là nguyên nhân kìm hãm phát triển và khiến mặt bằng kinh tế ngày càng tụt hậu, kéo theo sự tụt hậu trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống, đặt cán bộ, công chức chính quyền cấp xã trước những thách thức và đòi hỏi ở họ sự nỗ lực nhiều khi vượt quá khả năng đáp ứng. Về chủ quan, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc không nằm ngoài tình trạng bất cập chung của đội ngũ cán bộ, công chức 4 cấp xã ở Việt Nam hiện nay. Thậm chí, sự cách biệt trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội so với nhiều vùng, miền khác còn dẫn đến một hệ quả tất yếu là sự cách biệt về trình độ của cán bộ, công chức cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong mối tương quan với trình độ của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã nhiều địa phương trong cả nước. Điều này càng bộc lộ rõ nét hơn sau khi chủ trương công chức hoá cán bộ chính quyền cấp xã được thể chế thành các quy định pháp luật, rồi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2003 ra đời, cùng nhiều văn bản khác mang nội dung phân cấp, phân quyền theo tinh thần hướng mạnh về cơ sở, giao cho cấp xã một số nhiệm vụ trong thi hành án dân sự, trong chứng thực giấy tờ v.v.. lần lượt được ban hành. Những yếu tố khách quan và chủ quan đó cản trở không nhỏ tới sự lớn mạnh của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, cản trở không nhỏ đến nhận thức về nhu cầu hiểu biết pháp luật và khả năng nắm bắt pháp luật của bản thân họ. Có thể khẳng định, thực hiện công tác GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã các tỉnh miền núi phía Bắc, từ chính sách, từ văn bản đến thực tiễn triển khai không phải là khoảng cách gần gũi. Mà nhu cầu về kiến thức pháp luật, nhu cầu tạo dựng nền văn hoá pháp lý cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã các tỉnh miền núi phía Bắc thì đã và đang ngày càng trở nên vô cùng bức thiết. Xuất phát từ nhận thức đó, học viên lựa chọn đề tài: "GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay" để làm luận văn tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu. GDPL là một nội dung quan trọng của lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Vì vậy, đây là vấn đề luôn được nhiều cơ quan nghiên cứu khoa 5 học, các nhà khoa học pháp lý, giáo dục học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Tìm hiểu các công trình khoa học đã được công bố trong nước và nước ngoài cho thấy, GDPL được đề cập dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, về cơ bản gồm các nhóm vấn đề sau: Nhóm 1, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về GDPL, gồm khái niệm, mục đích, đối tượng, nội dung, hình thức của GDPL. Điều này được minh chứng qua các công trình khoa học: Giáo dục ý thức pháp luật, Nguyễn Trọng Bích, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4/1989, tr34-35. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1994, mã số 92-98-223 ĐT, Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp. Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật, Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX 07 - 17, Viện Nhà nước và Pháp luật - Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn chủ trì. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới, Đề tài khoa học cấp bộ, mã số 92-98-223-ĐT của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp. Bàn về giáo dục pháp luật, Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1995. Xã hội hoá công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong tình hình mới, Hồ Việt Hiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 9/2000. Nhóm 2, nghiên cứu GDPL đối với các đối tượng cụ thể nhằm lý giải tính đặc thù và tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả GDPL cho từng đối tượng, thể hiện qua các công trình như: Giáo dục pháp luật cho nhân dân, Nguyễn Ngọc Minh, Tạp chí 6 Cộng sản, số 10, tr34-38, năm 1983. Tìm kiếm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người, Đề tài khoa học cấp bộ, Bộ Tư pháp, năm 1995. Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ của Dương Thị Thanh Mai, năm 1996. Giáo dục pháp luật trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ở nước ta hiện nay, Luận án Phó tiến sĩ của Đinh Xuân Thảo năm 1996. Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khơ-me Nam Bộ, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Lê Văn Bền, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia, năm 1998. Giáo dục pháp luật trong các trường sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Phạm Trung Nghĩa, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia, năm 2000. Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000. Thực trạng và phương hướng đổi mới giáo dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Đặng Ngọc Hoàng, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia, năm 2000. Nhìn lại một năm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Gia Lai, Trần Xuân Thiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 2/2000. Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người ở tỉnh Đắk Lắk - thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Phạm Hàn Lâm, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia, năm 2001. 7 Nhóm 3, nghiên cứu GDPL trong mối quan hệ với các nội dung khoa học pháp lý khác, với một số công trình nghiên cứu: Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cường pháp chế XHCN và xây dựng con người mới, Phùng Văn Tửu, Tạp chí Giáo dục Lý luận, số 4/1985, tr18-22. Ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Luật học của Nguyễn Đình Lộc, năm1985. Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế XHCN, Luận án Phó tiến sĩ Luật học của Trần Ngọc Đường, năm 1988. Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về GDPL nói chung, GDPL cho các đối tượng đặc thù và GDPL trong mối quan hệ với các vấn đề khác như đã kể trên, song đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã gắn với địa bàn cụ thể là miền núi phía Bắc Việt Nam. Vì vậy, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu vấn đề này ở cấp độ Luận văn thạc sĩ. Tuy nhiên, các công trình nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn. 3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn. Về thời gian, luận văn nghiên cứu vấn đề từ năm 1998 đến năm 2004. (Năm 1998 là năm Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 02/1998/CTTTg ngày 7/01/1998 về việc tăng cường công tác PBGDPL trong giai đoạn hiện nay và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg ngày 7/01/1998 về việc Ban hành Kế hoạch triển khai công tác PBGDPL từ năm 1998 - 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL). Đặc biệt, luận văn đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời gian từ sau năm 1999 đến năm 2004 (năm 1999 là năm mà các cơ quan: Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 8 Uỷ ban Dân tộc miền núi và Hội Nông dân cùng ký Nghị quyết liên tịch số 01/1999/NQLT-TP-VHTT-NNPTNT-DTMN-ND ngày 07/9/1999 về việc phối hợp phổ biến GDPL cho cán bộ, nhân dân ở nông thôn vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, và năm 2004, các địa phương trên cả nước tiến hành tổng kết năm năm thực hiện Nghị quyết này). Về đối tượng, luận văn nghiên cứu về GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Về địa bàn khảo sát, nghiên cứu: Hiện nay, miền núi phía Bắc Việt Nam được hợp thành bởi hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc gồm có 15 đơn vị hành chính cấp tỉnh, là một địa bàn rộng đối với việc khảo sát vấn đề GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã trong một luận văn tốt nghiệp cao học, do vậy, học viên chỉ tiến hành khảo sát tại một số tỉnh trên cơ sở đảm bảo các tiêu chí đặc thù của khu vực miền núi phía Bắc như: các tỉnh có đa thành phần dân tộc sinh sống; một số tỉnh có đường biên giới chạy qua, có cửa khẩu quốc tế hoặc quốc gia; hầu hết các tỉnh có sự phát triển kinh tế – xã hội không đồng đều giữa các vùng, các dân tộc… 4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn. 4.1- Mục đích của luận văn. Luận văn có mục đích là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi phía Bắc, đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay. 4.2- Nhiệm vụ của luận văn. Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau: + Phân tích cơ sở lý luận về GDPL và GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở miền núi phía Bắc Việt Nam, trên cơ sở đó, làm rõ khái niệm, đặc trưng, mục đích, chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi phía Bắc. 9 + Phân tích, đánh giá thực trạng GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở miền núi phía Bắc. + Nêu và phân tích phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn. 5.1- Cơ sở lý luận. Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và khoa học lý luận Nhà nước, pháp luật nói chung, lý luận về GDPL nói riêng. 5.2- Phương pháp nghiên cứu. Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác Lênin với các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, Tổng hợp, Lịch sử cụ thể; Đồng thời, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: thống kê, so sánh, điều tra xã hội học… 6. Những đóng góp khoa học của luận văn. Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và toàn diện về GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc, với những đóng góp khoa học mới, cụ thể sau: - Về phương diện lý luận: Trên cơ sở các tri thức khoa học về GDPL nói chung, luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã gắn với địa phương cụ thể là các tỉnh miền núi phía Bắc. Đó là, xác định khái niệm, đặc điểm, đồng thời, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến GDPL cho đối tượng này, trong đó, chú ý nhấn mạnh các yếu tố lịch sử, văn hoá, địa lý, trình độ phát triển kinh tế v.v.. làm nên tính đặc thù của đối tượng GDPL và có ảnh hưởng đến hiệu quả GDPL. 10 - Về phương diện thực tiễn: Luận văn đánh giá khách quan, khoa học về thực trạng, chỉ rõ những nguyên nhân của kết quả đạt được và các hạn chế của công tác GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Đồng thời, đề xuất và luận giải một hệ thống phương hướng và các giải pháp đồng bộ, cụ thể nhằm tăng cường hiệu quả GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã các tỉnh miền núi phía Bắc. 7. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 1.1- Tổng quan lý luận chung về giáo dục pháp luật. 1.1.1- Khái niệm GDPL. GDPL là một nội dung quan trọng của lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về GDPL. Có quan điểm cho rằng, GDPL đồng nghĩa với hoạt động dạy, học pháp luật ở các trường học. Như vậy, quan điểm này không xếp các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật diễn ra ngoài phạm vi trường học là GDPL. Khi coi GDPL chỉ là hoạt động dạy, học pháp luật ở trong nhà trường thì vô hình chung chúng ta đã coi nhẹ các hoạt động GDPL diễn ra ngoài trường học, được tiến hành bởi các chủ thể khác những người giáo viên, mà hoạt động GDPL diễn ra ngoài trường học nhiều khi lại có ý nghĩa xã hội hết sức to lớn, có tác dụng cho nhiều đối tượng, có tác động kịp thời, thường xuyên, lâu dài. Một quan điểm khác lại cho rằng, GDPL là hoạt động tuyên truyền, phổ biến, thông tin pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Quan điểm này là nguyên nhân dẫn đến thái độ thụ động của những người làm công tác GDPL, khiến họ chỉ thực hiện việc GDPL khi có văn bản mới ra đời, do vậy, hoạt động GDPL không được tiến hành thường xuyên, có mục đích, có định hướng, khó tạo nên nền văn hoá pháp lý ổn định và ngày càng phát triển trong xã hội. Có quan niệm thậm chí còn cho rằng, pháp luật vốn dĩ có chức năng giáo dục, bản thân pháp luật với những chế tài nghiêm khắc của nó là sự giáo 12 dục hữu hiệu nhất, ngoài ra, hoạt động GDPL do bất kỳ chủ thể nào tiến hành cũng đều là điều không cần thiết. Đây thực sự là một quan điểm hết sức cực đoan. Vì, mặc dù bản thân pháp luật đã có chức năng giáo dục, có giá trị giáo dục, song, nếu chúng ta chỉ đơn thuần thực hiện việc công bố các văn bản pháp luật tới nhân dân với hy vọng các chế tài nghiêm khắc được đặt ra trong trường hợp vi phạm các quy định do Nhà nước ban hành sẽ tác động mạnh mẽ đến tri thức người dân, làm giàu hiểu biết pháp luật, thì chắc chắn chúng ta chỉ có được sự hiểu biết pháp luật dưới dạng thực hành xã hội nhỏ lẻ mà thôi. Pháp luật theo con đường tự thân đó, muốn đi vào đời sống, trở thành hành vi cuộc sống sẽ vô cùng khó khăn. Để có một khái niệm tương đối hoàn thiện và đầy đủ về GDPL, thiết nghĩ, trước hết cần làm rõ khái niệm giáo dục, qua đó, tiếp cận khái niệm GDPL từ cả góc độ khoa học ngôn ngữ học, khoa học giáo dục học và khoa học pháp lý. Dưới góc độ khoa học ngôn ngữ học, giáo dục được hiểu là "(đgt) tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra" [51.tr734]. Như vậy, trong hoạt động giáo dục luôn phải có yếu tố chủ thể giáo dục, là người thực hiện việc tác động lên đối tượng giáo dục. Việc tác động đó cần hướng tới những mục tiêu cụ thể được xác định từ trước và là điều mà đối tượng được giáo dục cần đạt tới sau quá trình giáo dục. Giáo dục nói chung và GDPL nói riêng đều phải đảm bảo các yêu cầu đó. Dưới góc độ khoa học giáo dục học, giáo dục được tiếp cận theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những nhân tố khách quan và chủ quan nhằm hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục. Yếu tố khách quan ở đây bao gồm chế độ xã hội, 13 trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống v.v..; Còn yếu tố chủ quan chính là các tác động tự giác, có chủ định và có định hướng của nhân tố con người. Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhân tố chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội. Trong hai cách tiếp cận về giáo dục theo khoa học giáo dục học nêu trên, mặc dù các nhà khoa học luôn đề cao yếu tố khách quan, tức là giáo dục hiểu theo nghĩa rộng, song, vấn đề được đặc biệt nhấn mạnh, được coi là có ý nghĩa quyết định chính là nhân tố chủ quan. Bởi, trong cả hai yếu tố khách quan và chủ quan thì yếu tố khách quan là nhóm yếu tố ảnh hưởng, nó có thể ảnh hưởng theo các chiều hướng tiêu cực và tích cực khác nhau, vai trò chủ động của chủ thể và đối tượng giáo dục rất mờ nhạt; còn yếu tố chủ quan là nhóm yếu tố tác động, ở đây, vai trò của chủ thể vô cùng quan trọng. Do vậy, chúng ta thường sử dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp. Theo đó, GDPL với tính cách là một hoạt động có định hướng, có mục đích, cũng cần được tiếp cận dưới góc độ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục. GDPL là sự tác động có hệ thống, có định hướng của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành nên ở đối tượng giáo dục những tri thức pháp lý, tạo nên niềm tin vào pháp luật, để họ có đầy đủ khả năng tham gia các quan hệ xã hội một cách phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật hiện hành. Như vậy, GDPL là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi các chủ thể nhất định, tác động lên những đối tượng nhất định, chứa đựng các nội dung và được truyển tải bằng các hình thức, phương pháp cụ thể. 1.1.2- Mục đích của GDPL. Hoạt động giáo dục nói chung, GDPL nói riêng luôn phải hướng tới những mục đích nhất định. Bởi vì đây là loại hoạt động có hệ thống, có tổ 14 chức và luôn mang tính định hướng. Mục đích của GDPL là yếu tố có vai trò chi phối đến các yếu tố khác cấu thành nên hoạt động GDPL. Từ mục đích, chúng ta lựa chọn chủ thể có khả năng thực hiện việc GDPL, qua đó, xác định nội dung, hình thức, phương pháp GDPL phù hợp với đối tượng đã được xác định trước. Trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay, pháp luật được khẳng định là chiếm vị trí thượng tôn trong hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi con người. Pháp luật bởi vậy không chỉ là công cụ của Nhà nước, mà còn là công cụ của nhân dân1. Mọi tầng lớp nhân dân, tất cả cán bộ, công chức nhà nước đều phải có kiến thức pháp lý vững vàng, hình thành nên niềm tin vào pháp luật, vào sự nghiêm minh, công bằng, khách quan, nhân đạo của pháp luật và có thói quen xử sự phù hợp với yêu cầu của pháp luật. Mục đích của GDPL vì vậy có thể khẳng định bao gồm: Thứ nhất, cung cấp tri thức pháp lý. Tri thức nói chung, là "những điều hiểu biết có hệ thống" [51.tr1704]. Theo đó, tri thức pháp lý chính là sự hiểu biết một cách có hệ thống về pháp luật với tư cách là tổng thể các quy phạm hiện hành điều chỉnh hành vi con người trong xã hội. Việc cung cấp tri thức pháp lý là mục đích đầu tiên và là mục đích quan trọng nhất của GDPL, nếu mục đích này đạt được thì các mục đích tiếp theo mới có khả năng trở thành hiện thực. Con người muốn có niềm tin vào pháp luật trước hết phải có sự am tường về hệ thống pháp luật. Từ chỗ hiểu biết, có niềm tin vào pháp luật, con người mới tạo nên cho mình khả năng tham gia các quan hệ xã hội một cách tự chủ, tự tin và phù hợp với đòi hỏi của pháp luật. Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng các quan hệ xã hội cần có sự điều chỉnh của pháp luật, với xu thế hội nhập quốc tế, gia nhập các tổ chức hợp tác nhiều lĩnh vực trên thế giới, yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện 1 Quan niệm của PGS, TS Nguyễn Đăng Dung – Khoa Luật ĐHQG Hà Nội. 15 hệ thống pháp luật luôn đặt ra như một thách thức với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, mục tiêu cung cấp tri thức pháp lý cho các đối tượng GDPL lại càng trở nên cần thiết và phải được chú trọng thực hiện. Vấn đề cần lưu ý là, khối lượng tri thức pháp lý ngày càng đồ sộ và luôn có sự biến động, phần lớn các đối tượng không thể nắm bắt chúng một cách trọn vẹn. Từng nhóm đối tượng của GDPL sẽ có những nhu cầu về tri thức pháp lý khác nhau. Xác định rõ nhu cầu đó, hay nói cách khác, xác định rõ tính đặc thù của mục đích nhận thức là nhiệm vụ không thể xem nhẹ của các chủ thể GDPL. Thứ hai, tạo niềm tin vào pháp luật. Ngoài việc cung cấp những tri thức pháp lý, hoạt động GDPL còn nhằm mục đích tạo ra những tình cảm pháp lý, hay còn gọi là niềm tin vào pháp luật. Đối tượng GDPL cần cảm nhận được những ưu việt, những giá trị xã hội của pháp luật như tính nhân đạo, sự công bằng, thước đo tính chuẩn mực của hành vi, giá trị thông tin nằm trong các quy phạm v.v.., cần có thái độ không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật. Niềm tin pháp luật là động lực mạnh mẽ thôi thúc con người hành động đúng pháp luật. Trên thực tế, có nhiều người rất am hiểu về pháp luật, song lại không xử sự đúng yêu cầu pháp luật đặt ra, mà luôn tìm cách "lách luật". Đó là bởi, ngoài tri thức pháp lý đơn thuần ra, họ không có được niềm tin vào pháp luật, không nhìn nhận pháp luật như một công cụ để bảo vệ tự do, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội, mà lại chỉ coi pháp luật như là sự hạn chế quyền, tự do của chính bản thân mình. Thứ ba, hình thành thói quen hành vi phù hợp quy định của pháp luật khi tham gia các quan hệ xã hội. Tính chất pháp lý của hành vi của các cá nhân, tổ chức khi tham gia quan hệ pháp luật, quan hệ xã hội luôn thuộc một trong hai trạng thái: hoặc là hợp pháp, hoặc là vi phạm pháp luật. Việc các chủ thể của quan hệ pháp luật 16 lựa chọn loại hành vi nào thông thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó, yếu tố tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý đóng vai trò hết sức quan trọng. Có tri thức pháp luật con người mới biết được trong hoàn cảnh, điều kiện mà mối quan hệ xã hội mình tham gia đang xảy ra, pháp luật quy định như thế nào về hành vi của mình (bắt buộc phải là gì, cho phép làm gì, cấm làm gì v.v..), đó là căn cứ xác định tính đúng, sai của hành vi. Sau đó, yếu tố niềm tin pháp lý, tình cảm pháp lý sẽ là yếu tố thúc đẩy sự lựa chọn hành vi xử sự đúng đắn. Như vậy, mục đích thứ ba là mục đích đạt được dựa vào hệ quả của mục đích thứ nhất và thứ hai. Nếu không đạt được mục đích thứ nhất và thứ hai thì không thể có mục đích thứ ba. Mục đích thứ ba cũng chính là mục đích cuối cùng, là điều mà bất kỳ nhà nước nào, bất kỳ chủ thể GDPL nào cũng đều hướng tới, mong muốn đạt được. Ngày nay, chúng ta đề cập rất nhiều đến pháp chế, pháp chế XHCN. GDPL với những mục đích như trên chính là nhiệm vụ cần thiết mà qua đó, pháp chế ngày càng được tăng cường. Từ mục đích của GDPL được đề ra từ khi hoạt động GDPL bắt đầu, cho đến khi chấm dứt một chu trình GDPL, đánh giá lại những điều đạt được, đánh giá về hiệu quả GDPL, chúng ta lại cần tham chiếu đến mục đích ban đầu đó, bao gồm những kiến thức pháp luật cụ thể mà các đối tượng lĩnh hội được, những tình cảm pháp lý nảy sinh trong lòng đối tượng GDPL, sự biểu hiện ra bên ngoài thành thói quen cư xử đúng pháp luật của đối tượng được GDPL thể hiện qua sự giảm thiểu vi phạm pháp luật trong xã hội. Như vậy, ba mục đích trên đồng thời cũng là ba tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động GDPL. 1.1.3- Chủ thể và đối tượng của GDPL. 1.1.3.1- Chủ thể của GDPL Khi phân tích, đánh giá hoạt động có mục đích của con người, yếu tố chủ thể luôn được đề cập, coi trọng, như là một nguyên nhân chính dẫn đến sự
- Xem thêm -