Tài liệu Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam

  • Số trang: 138 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 108 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Tham gia: 29/07/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT VŨ QUỐC HÙNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGÔ HUY CƯƠNG HÀ NỘI - 2005 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1: 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM 1.1. 10 Khái niệm về tranh chấp thƣơng mại và giải quyết tranh chấp thƣơng mại 10 1.2. Giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án 25 1.3. Yêu cầu của cải cách tƣ pháp đối với việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại 33 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 49 2.1. Lƣợc sử quá trình hình thành và phát triển của cơ quan giải quyết tranh chấp thƣơng m ại ở Việt 49 Nam 2.2. Tì nh hì nh hoạt động giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án ở nƣớc ta 2.3. Tổ chức và nguyên tắc hoạt động của hệ thống Tòa có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thƣơng mại 2.4. 57 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án ở Việt Nam hiện nay CHƢƠNG 3: 54 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI 65 QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG M ẠI BẰNG TÒA ÁN THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM 3.1. 92 Các định hƣớng cơ bản hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án ở nƣớc ta 3.2. 92 Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về gi ải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án ở Việt 97 Nam KẾT LUẬN 114 DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 CCTP Cải cách tư pháp NNPQ Nhà nước pháp quyền NXB Nhà xuất bản PLTTGQCVAKT Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 PLTTTM Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 TS. Tiến sĩ TSKH. Tiến sĩ khoa học TAND Tòa án nhân dân TANDTC Tòa án nhân dân tối cao TAQSTW Tòa án quân sự Trung ương tr. Trang TCTM Tranh chấp thương mại TTTM Trọng tài thương mại VKS Viện Kiểm sát VKSNDTC Viện Kiểm sát nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH Chữ viết tắt AAA TIẾNG ANH American Arbitration TIẾNG VIỆT Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ Association AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ASEM Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương Association of South - East Hiệp hội các quốc gia Đông Asian Nations ASEAN Asia - Pacific Economic Cooperation APEC Nam Á Asia - Europe Summit Diễn đàn hợp tác Á - Âu Meeting GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội HKIAC Hong Kong International Trung tâm Trọng tài quốc tế Arbitration Centre Hồng Kông London Maritime Hiệp hội Trọng tài hàng hải Arbitration Association Luân Đôn Singapore International Trung tâm Trọng tài quốc tế Arbitration Centre Xingapo United Nations Ủy ban Liên Hợp Quốc về Commission on Luật Thương mại quốc tế LMAA SIAC UNCITRAL International Trade Law USD United States Dollar Đô-la Mỹ WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước gần hai mươi năm qua với thực tiễn của nó, đặc biệt là quá trình hình thành về cơ bản thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã và đang đòi hỏi đồng thời phải đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong đó xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế… [6, tr. 673 - 678] và xây dựng một xã hội công dân [96, tr. 13]. Như vậy, trong sự nghiệp đổi mới, công cuộc đổi mới về Nhà nước và pháp luật là một vấn đề rất quan trọng và được đặt trong tổng thể chung của sự nghiệp đổi mới đất nước [86, tr. 726 - 727]. Đổi mới kinh tế, tất yếu phải đổi mới thể chế, tổ chức bộ máy Nhà nước cho phù hợp [76, tr. 482]. Song việc xây dựng NNPQ XHCN trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm [5, tr. 40]. Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là NNPQ của dân, do dân, vì dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [6, tr. 673 - 674], [15, tr. 517]. Quyền tư pháp là một bộ phận của quyền lực Nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động của các cơ quan khác của Nhà nước như điều tra, công tố, thi hành án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp: luật sư, công chứng, giám định tư pháp… Hoạt động xét xử của TAND thể hiện tập trung nhất của quyền tư pháp [60, tr. 6 - 15]. Như vậy, nằm trong hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước, hoạt động xét xử của Tòa án đối với các vụ án về TCTM cũng như pháp luật về giải quyết TCTM bằng Tòa án trong bối cảnh hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, hội nhập 1 kinh tế khu vực và quốc tế của nền kinh tế nước ta đặt ra những yêu cầu cần được cải cách theo hướng nhanh, gọn, khoa học nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đáp ứng những đặc thù của hoạt động kinh doanh, thương mại trong nền kinh tế đang chuyển đổi thể chế với bối cảnh tự do hóa thương mại toàn cầu và những nhiệm vụ, yêu cầu của tiến trình CCTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân. Bởi, giải quyết TCTM trong giai đoạn hiện nay đã trở thành một lĩnh vực hoạt động quan trọng, có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đất nước [38, tr. 235] và tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng, các cơ quan trong bộ máy Nhà nước nói chung sẽ góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đưa lại tăng trưởng kinh tế một cách ổn định và bền vững [59, tr. 10]. Giải quyết các tranh chấp kinh tế bằng Tòa án ở nước ta trước đây có nhiều tồn tại, bất cập do rất nhiều nguyên nhân khác nhau [119, tr. 235], trong đó đặc biệt là pháp luật về giải quyết các tranh chấp kinh tế bằng Tòa án v.v.. Do đó, nhằm pháp điển hóa các quy định của pháp luật trước đây, bổ sung những thiếu sót về nguyên tắc và cơ chế giải quyết trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động trước đây, khắc phục sự tản mạn, trùng lặp, thiếu đồng bộ trong các quy định của pháp luật; đồng thời, thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về CCTP được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-012002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội) về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế [120, tr. 10 - 11], ngày 15-062004 Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp thứ năm đã thông qua BLTTDS gồm 9 phần với 36 Chương và 418 điều. Đây là bộ luật về thủ tục tố tụng dân sự (theo nghĩa rộng) đầu tiên của nước ta, quy định về trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động 2 (gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân s ự (gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án; thi hành án dân sự;… [3, tr. 2 - 3]. BLTTDS được ban hành là cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt động xét xử các vụ án về TCTM của Tòa án. Nó đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật về thủ tục tố tụng phi hình sự [99, tr. 75 - 76] (trừ thủ tục tố tụng hành chính) ở nước ta kể từ khi Nhà nước ta được thành lập gần sáu thập kỷ qua. Bởi vậy, nghiên cứu pháp luật về giải quyết TCTM bằng Tòa án, đặc biệt là những quy định của BLTTDS về trình tự, thủ tục khởi kiện và trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án về TCTM là rất cần thiết hiện nay. Bên cạnh đó, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng s ản xuất; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế… [6, tr. 637 - 638], thực hiện nghiên cứu pháp luật về giải quyết TCTM bằng Tòa án cũng như pháp luật giải quyết TCTM nói chung là hoạt động khoa học quan trọng, thiết thực bởi nước ta đang tiến hành CCTP, xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật phù hợp với kinh tế thị trường định hướng XHCN, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành ph ù hợp với yêu cầu thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế [6, tr. 840]. Thực tế này cho thấy, chúng ta đang và cần phải tiếp tục cải cách pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật liên quan đến quy trình và thủ tục cũng như hoạt động xét xử các vụ án về TCTM của Tòa án. Do vậy, nghiên cứu về pháp luật về giải quyết TCTM bằng Tòa án góp phần đưa ra những kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này trong tổng thể Chiến lược CCTP ở nước ta. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn luôn coi trọng nhiệm vụ đổi mới các hoạt động tư pháp, xem đó là một đòi hỏi khách quan nảy sinh từ thực tế cuộc sống, từ yêu cầu củng cố niềm tin của nhân dân, của xã hội đối với nền 3 công lý Việt Nam [66, tr. 5]. Bởi vậy, đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung thiếu về số lượng, yếu về trình độ và năng lực nghiệp vụ, một bộ phận không nhỏ cán bộ đã sa ngã, sa sút về phẩm chất đạo đức [66, tr. 4] nên không nắm vững pháp luật, không thực hiện nghiêm, không giải quyết đúng pháp luật của Nhà nước các vụ án về TCTM sẽ làm mất lòng tin của doanh nhân, nhân dân vào cơ quan tư pháp của Nhà nước, tác động xấu đến môi trường hoạt động kinh doanh, thương mại... Nghị quyết số 08 -NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục cao và trong thời hạn pháp luật quy định”. Đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt công tác xét xử tại các phiên tòa của Tòa án. Như vậy, một trong những vấn đề đặt ra của CCTP là phải từng bước đổi mới công tác xét xử của Tòa án, trong đó có án kinh doanh, thương mại theo hướng mở rộng tranh tụng tại phiên tòa, coi trọng xem xét kết quả tranh tụng ở Tòa khi kết án, coi đây là khâu đột phá của CCTP, của hoạt động tư pháp [27, tr. 118] nhằm nâng cao và đảm bảo năng lực, hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án trong giải quyết các vụ án về TCTM và hiệu lực thực thi của các bản án, quyết định của Tòa án cũng như phát huy giá trị và ưu điểm, giảm tối đa nhược điểm của hình thức giải quyết các vụ án về TCTM bằng Tòa án trong môi trường các hoạt động kinh doanh, thương mại rất sôi động ở nước ta hiện nay với sự gia nhập thị trường ngày một tăng của các doanh nghiệp [72, tr. 768]. Từ thực tế này, giải quyết các vụ án về TCTM của Tòa án có hiệu quả sẽ góp phần đắc lực cho các hoạt động kinh doanh, thương mại của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế để Tòa án từng bước là chỗ dựa của doanh nhân, doanh nghiệp trong bối cảnh cải cách nền tư pháp dưới sức ép của cạnh tranh kinh tế đã mang tính toàn cầu hiện nay [72, tr. 666 - 688]. Do vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Giải 4 quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam” là đề tài cho Luận văn tốt nghiệp khóa học Cao học Luật của mình. 2. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài Đề tài được thực hiện nghiên cứu với mục đích trước hết là làm rõ cơ sở lý luận về giải quyết các vụ án về TCTM bằng Tòa án ở nước ta, đồng thời làm rõ những nội dung, yêu cầu của tiến trình CCTP theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đối với việc giải quyết TCTM bằng Tòa án trong giai đoạn xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân theo Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 12-2001 của Quốc hội khi nền kinh tế đang từng bước chuyển đổi, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế thế giới đang diễn ra sâu rộng hiện nay. Thực hiện đề tài đặc biệt hướng tới mục đích là nghiên cứu phân tích các quy định mới của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án về TCTM thông qua Tòa án cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế trước đây. Cuối cùng, việc thực hiện nghiên cứu đề tài cũng với mục đích đưa ra các định hướng, một số các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCTM bằng Tòa án ở nước ta theo tinh thần CCTP. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại của cá nhân, tổ chức thông qua Tòa án điều chỉnh trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án về TCTM ở nước ta hiện nay theo tinh thần CCTP trong giai đoạn xây dựng và từng bước hoàn thiện NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân. 5 Luận văn tốt nghiệp được thực hiện nghiên cứu trong phạm vi là những vấn đề lý luận về giải quyết TCTM bằng Tòa án theo tinh thần CCTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam; về trình tự, thủ tục khởi kiện và trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án về TCTM ở nước ta bằng Tòa án theo những quy định của BLTTDS ngày 15-06-2004 và các văn bản có liên quan, thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta trước đây. Trên cơ sở đó, có sự so sánh giữa các hình thức giải quyết TCTM, so sánh những quy định mới trong BLTTDS về trình tự, thủ tục khởi kiện và trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án về TCTM với các quy định về trình tự, thủ tục khởi kiện và trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế theo quy định của PLTTGQCVAK T ngày 1603-1994. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật [25, tr. 7], [29, tr. 163 - 164], về vai trò của pháp luật và mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế [117, tr. 216 - 217]. Luận văn vận dụng những chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng và những quy định pháp luật của Nhà nước ta về giải quyết TCTM bằng Tòa án theo tinh thần CCTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ XHCN và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng và hoàn thiện NNPQ ở nước ta là NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng [57, tr. 62 - 63] và tiến trình CCTP nhằm mục tiêu xây dựng một nền tư pháp Việt Nam dân chủ và tiến bộ, phục vụ có hiệu quả tiến trình đổi mới về kinh tế xã hội của đất nước [65, tr. 3], hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế vì mục tiêu chung là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trên cơ sở phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học là phép biện chứng duy vật [63, tr. 34], Luận văn sử dụng những phương pháp 6 nghiên cứu thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học chủ yếu như phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp thống kê… [63, tr. 86 - 96]. 5. Tì nh hình nghiên cứu đề tài Trong thời gian qua, đã có những công trình khoa học nghiên cứu về đề tài này có thể kể ra là Đề án tổ chức Tòa án kinh tế Việt Nam của Bộ Tư phá p tháng 9/1991; đề tài “Tòa án thương mại” của Trọng tài kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ Chương trình “Đổi mới quản lý Nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” tháng 11/1990 [37, tr. 421 - 422]; đề tài “Mô hình tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trọng tài kinh tế Nhà nước; Dự án mang tên “Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam” mã số VIE/94/003 do Bộ Tư pháp chủ trì. Tiếp theo đó, còn có đề tài khoa học như đề tài khoa học cấp bộ của Bộ Tư ph áp “Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay” năm 1999; đề tài “Tính đặc thù trong thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, lao động - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do TAND TC chủ trì năm 2001 [55, tr. 3] ... Kể từ khi đi vào hoạt động từ ngày 01-07-1994, Tòa Kinh tế TAND đã có những bước phát triển, đóng góp tích cực trong việc giải quyết các vụ án kinh tế, song cũng bộc lộ không ít những khiếm khuyết, phản ánh những bất cập, tồn tại của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Tòa án trước đây ở nước ta. Những điều này đã được nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khi thực hiện nghiên cứu về đề tài này trong các Luận án Tiến sĩ Luật học như: “Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Đào Văn Hội, Hà Nội, 2003; “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Tòa án ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Vinh, Hà Nội, 2003... Bên cạnh đó, có các Luận văn Thạc sĩ Luật học nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Tòa án như: “Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế bằng Tòa án trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của học viên Lê Công Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1996; “Giải quyết tranh 7 chấp bằng Tòa án” của học viên Đào Vĩnh Tường, Hà Nội, 1997 [118, t r. 3]; “Giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án nhân dân qua thực tế tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội” của học viên Phạm Anh Tuấn, Hà Nội, 1999 [55, tr. 3]… Bên cạnh đó, có rất nhiều các bài báo khoa học, sách nghiên cứu về đề tài này như: “Kinh tế thị trường và sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật kinh tế” của TS. Lê Hồng Hạnh; “Về mô hình tổ chức Tòa án Kinh tế ở Việt Nam” của TS. Hoàng Thế Liên; “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng Tòa án và Trọng tài” của TSKH. Đào Trí Úc; “Tăng cường vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế” của TS. Phan Chí Hiếu; “Về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của TS. Phạm Hữu Nghị; “Tòa Kinh tế thuộc hệ thống Tòa án nhân dân - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS. Nguyễn Văn Dũng; Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Tòa án (1999) của tác giả Đào Văn Hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án Việt Nam” của tác giả Đinh Ngọc Hiện (1999) trong Chuyên đề c ác phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Thông tin khoa học pháp lý số 5; “Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh tế” của TS. Nguyễn Như Phát, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2001; “Về mối quan hệ giữa tố tụng kinh tế và tố tụng dân sự” của TS. Phạm Duy Nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8/2000 [55, tr. 3 - 4]… Có ý kiến cho rằng, chúng ta nên quay trở lại với mô hình tòa thương mại phổ biến trên thế giới đã xuất hiện ở nước ta là một gợi ý cần tham khảo [72, tr. 666], điều này cho thấy đề tài về giải quyết TCTM bằng Tòa án ở nước ta sẽ tiếp tục được nghiên cứu trong tương lai. 6. Những đóng góp mới của Luận văn Nghiên cứu đề tài, tôi tâm nguyện đóng góp những vấn đề mới như (i) nêu rõ khái niệm về TCTM và giải quyết TCTM bằng Tòa án; (ii) phân tích và đánh giá các quy định mới của BLTTDS về trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, 8 thủ tục giải quyết các vụ án về TCTM bằng Tòa án ở nước ta; (iii) làm rõ các quan điểm về CCTP ở Việt Nam, những nội dung yêu cầu của CCTP đối với hoạt động giải quyết TCTM bằng Tòa án ở nước ta trong giai đoạn xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quá trình hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế đất nước với bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế thế giới; (iv) kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này qua quá trình nghiên cứu phân tích làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết TCTM bằng Tòa án gắn liền với tiến trình CCTP ở nước ta. 7. Ý nghĩ a khoa học và thực tiễn của Luận văn Ý nghĩa khoa học của Luận văn là bước đầu khẳng định làm sáng tỏ những chủ trương, quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng và những quy định pháp luật của Nhà nước ta về giải quyết TCTM bằng Tòa án trong tiến trình CCTP theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và công cuộc cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước theo các qu y định của Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001) về xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế với bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế thế giới. Luận văn nhấn mạnh pháp luật về giải quyết TCTM bằng Tòa án trong tiến trình CCTP nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, phục vụ có hiệu quả cho các hoạt động kinh doanh, thương mại ở nước ta. Đặc biệt, khi nền kinh tế đang từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế đòi hỏi Tòa án khi giải quyết vụ án về TCTM có những bản án, quyết định đảm bảo hiệu lực thực thi, hiệu quả kinh tế cũng như những yêu cầu đặc thù c ủa hoạt động kinh doanh, thương mại trong bối cảnh tự do hóa thương mại toàn cầu. Đồng thời, Luận văn cũng nêu ra những thành tựu thực tế bước đầu đạt được của tiến trình CCTP. Luận văn góp phần nhận thức 9 đúng và thực hiện nghiêm những quy định trong BLTTD S của các cán bộ tư pháp khi giải quyết các vụ án về TCTM, là tài liệu tham khảo của sinh viên, học viên Luật học. 8. Bố cục của Luận văn Luận văn được trình bày thành các phần theo bố cục sau đây: - Mở đầu; - Chương 1: Lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam; - Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án ở Việt Nam hiện nay; - Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam; - Kết luận; - Danh mục tài liệu tham khảo. CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM 1.1. Khái niệm về tranh chấp thƣơng mại và giải quyết tranh chấp thƣơng mại 1.1.1. Tranh chấp thương mại Trong mỗi quốc gia, hoạt động kinh doanh, thương mại luôn tồn tại và phát triển trong đời sống xã hội, đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà còn diễn ra trên phạm vi khu vực và quốc tế. Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế có liên quan chặt chẽ đến tự do hóa thương mại. Đây là quá trình giảm bớt sự can thiệp 10 mang tính chất bảo hộ của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh, thương mại, theo đó vai trò của Nhà nước chỉ nên giới hạn ở việc tạo ra môi trường phù hợp cho các quan hệ thương mại [64, tr. 18]. Nhìn nhận tổng quát, lịch sử thương mại gắn với lịch sử quan hệ giữa các dân tộc. Những bước suy thoái, những cuộc thăng trầm tạo nên biết bao sự kiện lớn trong lịch sử thương mại thế giới [69, tr. 160]. Trong thế kỷ XX, thương mại quốc tế đã phát triển rất mạnh mẽ. Kết quả là các quốc gia vốn trước đây rất biệt lập về kinh tế đã ngày càng trở nên gắn bó với nhau, p hụ thuộc lẫn nhau, do những luồng hàng hóa, dịch vụ trao đổi ngày càng tăng cao. Sự gia tăng này là yếu tố cơ bản quyết định xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra hiện nay [64, tr. 78]. Ở Việt Nam, gần hai thập niên đổi mới vừa qua, hoạt động kinh doanh, thương mại đã đóng góp đáng kể cho nền kinh tế [62]. Cùng với sự tồn tại và phát triển của các hoạt động kinh doanh, thương mại, những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại cũng phát sinh do rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Hoạt động kinh doanh, thương mại có đặc điểm cơ bản là gắn liền với yếu tố lợi nhuận. Do vậy, tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại cũng có những khác biệt so với các loại tranh chấp khác trong đời sống xã hội (như tranh chấp dân sự chẳng hạn) và yêu cầu giải quyết những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại cũng có những điểm đặc thù. Vậy, TCTM cần được hiểu như thế nào?. Theo Từ điển pháp luật của Hoa Kỳ, tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi); sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền; sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia [54, tr. 9] và theo UNCITRAL, thuật ngữ “thương mại” phải được giải thích theo nghĩa rộng để bao trùm hết các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại, dù có hợp đồng hay không. Các quan hệ có bản chất thương mại bao gồm (nhưng không bị giới hạn) những giao dịch sau: các giao dịch thương mại để cung cấp hay trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; hợp đồng phân phối; chi nhánh hoặc đại diện thương mại, đại lý, cho thuê, gia công sản phẩm, tư vấn, công nghệ, sáng chế, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hợp đồng khai thác hay nhượng đất, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh 11 doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ… [70, tr. 197]. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì “thương mại” có nghĩa là “thương nghiệp, trao đổi mua bán hàng hóa” và “tranh chấp” có nghĩa là “bất đồng, trái ngược nhau” [121, tr. 773, 808]. Ở nước ta cho đến trước khi ban hành PLTTTM và đặc biệt là BLTTDS, giới nghiên cứu luật học có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh. Theo TS. Bùi Ngọc Cường, tranh chấp kinh tế được hiểu là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ, lợi ích kinh tế giữa các bên chủ thể khi tham gia quan hệ sản xuất kinh doanh [38, tr. 137]. Theo TS. Lê Thị Thu Thủy, tranh chấp kinh tế cần được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh tế liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế [93, tr. 476]. Tranh chấp trong kinh doanh được hiểu là sự bất đồng chính kiến, xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia kinh doanh… Tranh chấp trong kinh doanh còn được hiểu là sự bất đồng chính kiến về một hiện tượng hay sự kiện pháp lý (quyền và nghĩa vụ) phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản [97, tr. 64]. Tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau. Theo đó, tranh chấp kinh tế có thể có các dạng cơ bản sau (i) tranh chấp trong kinh doanh: được diễn ra giữa các chủ thể tham gia kinh doanh. Cụ thể, đó là những tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi; (ii) tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư: loại hình tranh chấp này nảy sinh trong việc thực hiện các hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, xây dựng - chuyển giao, xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, thực hiện các điều ước quốc tế về khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương và đa dạng; (iii) tranh chấp giữa các quốc gia trong việc thực hiện các điều ước quốc tế 12 về thương mại song phương và đa dạng; (iv) tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại đa phương như: tranh chấp giữa Mỹ và Liên minh Châu Âu về nhập khẩu chuối tại WTO. Có thể nói, trong các loại hình tranh chấp kinh tế kể trên, tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó trong một số trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương nhau. Từ cách tiếp cận khác, tranh chấp trong kinh doanh còn được hiểu là sự bất đồng về một hiện tượng pháp lý phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản [33, tr. 411 - 412]. Theo TS. Lê Thị Châu, tranh chấp trong kinh doanh là một dạng tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh… Tuy nhiên, dù tồn tại dưới dạng nào và có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan hết sức khác nhau, nhưng đặc trưng chung các tranh chấp trong kinh doanh là luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh và chủ thể tham gia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ảnh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên. Cũng vì vậy mà trong nhiều trường hợp các tranh chấp trong kinh doanh được gọi chung là tranh chấp kinh tế [79, tr. 286]. Còn theo nghiên cứu sinh Đào Văn Hội, tranh chấp kinh tế là những mâu thuẫn hay bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ kinh tế [55, tr. 23]. Những khái niệm nêu trên xét ở một khía cạnh nào đó đều phù hợp với những quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Luật Thương mại năm 1997, PLTTGQCVAKT... Song với sự ra đời của PLTTTM và BLTTDS, đã có bước phát triển hơn thì đề cập tới TCTM. Các nước theo truyền thống luật Anh - Mỹ như Anh, Mỹ, Úc và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống luật này không phân biệt lĩnh vực kinh doanh (với mục đích tìm kiếm lợi nhuận) và lĩnh vực dân sự (mục đích tiêu dùng). Điều này 13 dẫn đến hệ quả là các nước này không phân biệt tranh chấp kinh doanh (những tranh chấp phát sinh từ các hoạt động kinh doanh của các công ty hoặc liên quan mật thiết tới chúng) với các tranh chấp phát sinh từ các hoạt động dân sự. Mọi tranh chấp dù phát sinh từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động dân sự đều được giải quyết bằng phương thức giống nhau. Nói như vậy không có nghĩa là các quốc gia này không tồn tại những thiết chế riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân. Ví dụ: Vương quốc Anh có Tòa án giải quyết những khiếu nại về hạn chế quyền tự do kinh doanh; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thương mại quốc tế. Trong Tòa án dân sự thẩm quyền chung của Nhật Bản có những Ban riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh hoặc các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh được phân cho Thẩm phán nào có nhiều kiến thức kinh doanh hoặc kinh nghiệm trong việc giải quyết các loại tranh chấp này. Các nước theo truyề n thống luật Châu Âu lục địa như Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống luật này phân biệt hoạt động kinh doanh với hoạt động dân sự và thừa nhận sự tồn tại của pháp luật thương mại bên cạnh pháp luật dân sự. Pháp luật của c ác nước này có khái niệm thương nhân (thương gia) và hành vi thương mại với việc đưa ra các tiêu chí khá cụ thể để phân biệt thương nhân với người không phải là thương nhân; hành vi thương mại với hành vi dân sự. Sự phân biệt này dẫn đến hệ quả là (i) đối với hành vi thương mại sẽ ưu tiên áp dụng Luật Thương mại; những gì Luật Thương mại không quy định thì áp dụng Luật Dân sự và (ii) những tranh chấp phát sinh từ hành vi thương mại có thể được giải quyết bằng các phương thức riêng như TTTM và Tòa án thương mại… Như vậy, các nước trên thế giới không có quan niệm thống nhất về tranh chấp kinh doanh. Có rất nhiều nước không phân biệt tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động dân sự. Bên cạnh đó, một số quốc gia khác phân biệt tranh chấp kinh doanh với tranh chấp dân sự bằng các quy định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp loại này cho các cơ quan tài 14 phán là Tòa án thương mại hay TTTM. Các quốc gia này đều quan niệm tranh chấp kinh doanh theo nghĩa rộng, gồm toàn bộ các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể khi chúng tiến hành các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận [55, tr. 9 - 14]. Theo tôi, tranh chấp thương mại là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại có liên quan tới lợi ích kinh tế của các bên. Trong Luật Thương mại ngày 14-06-2005 và có hiệu lực từ ngày 01-012006, Luật này cũng không xác định rõ hành vi thương mại mà chỉ quy định điều chỉnh hoạt động thương mại (theo Điều 1) mà hoạt động thương mại theo khoản 1 Điều 3 của Luật này là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác [10, tr. 4]. Như vậy, hoạt động thương mại được hiểu theo nghĩa rộng tương tự quy định tại khoản 3 Điều 2 PLTTTM về hoạt động thương mại và tương đương khái niệm kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999. 1.1.2. Giải quyết tranh chấp thương mại Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất toàn cầu, nên kinh tế quốc gia phát triển thì xung đột về lợi ích và tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tất yếu gia tăng [72, tr. 640]. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội [79, tr. 287]. Đáp ứng yêu cầu về giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế, các hình thức giải quyết TCTM khác nhau được thiết lập. Hiện nay, ở nước ta có các hình thức giải quyết TCTM khác nhau bao gồm (i) thương lượng; (ii) hòa giải; (iii) TTTM; (iv) Tòa án. Việc ban hành PLTTTM, BLTTDS đã cho thấy quy định của pháp luật nước ta về những TCTM thuộc 15
- Xem thêm -