Tài liệu Giải pháp về nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm ở siêu thị sao hà nội

  • Số trang: 42 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 54 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế Chương I: Tổng quan nghiên cứu giải pháp về nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm ở siêu thị sao Hà Nội 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Như chúng ta thấy, thực phẩm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, cung cấp năng lượng cho con người sống và làm việc đồng thời thực phẩm trong khẩu phần ăn hàng ngày cần đảm bảo đầy đủ theo một tỷ lệ thích hợp các chất bột, đạm, béo, vitamin, chất khoáng và các chất vi lượng. Nếu như con người ăn không đủ năng lượng hoặc thiếu chất dinh dưỡng sẽ làm cho cơ thế hoạt động không hiệu quả, sức khoẻ yếu, chậm phát triển trí tuệ. Chính vì vậy, thực phẩm có vai trò rất quan trọng nó quyết định đến sự tồn tại hay diệt vong của loài người. Thời gian qua thế giới đang trải qua những giai đoạn giá thực phẩm liên tục tăng cao đẩy chỉ số giá tiêu dùng ở nhiều nước lên ngoài dự đoán. Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn “Giá thực phẩm cao” Liên hợp quốc và các chính phủ các quốc gia nhiều nước đang nỗ lực tăng sản lượng lương thực và trợ giúp người nghèo trong cơn bão giá. Với diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, việc tìm ra một nguồn hàng cung ứng sản phẩm cho thị trường không phải là điều dễ, hầu hết các doanh nghiệp đều gặp vấn đề khó khăn về việc tìm nguồn hàng. Thêm vào đó, hiện nay xuất hiện nhiều loại hoá chất trong thực phẩm gây ra nhiều ảnh hưởng tới sức khoẻ vì thế việc lựa chọn thực phẩm an toàn, tiện ích cũng phù hợp với gia đình là rất cần thiết. Do biến động bất thường của nền kinh tế trong nước nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung đồng thời ảnh hưởng mạnh mẽ của hiện tượng biến đổi khí hậu trên toàn cầu nên vấn đề tìm nhà cung ứng nguồn hàng thực phẩm trên thị trường là điều hết sức khó khăn. Chính vì vậy, việc tổ chức nguồn hàng ảnh hưởng mạnh tới việc phát triển thương mại hàng thực phẩm trên thị trường nói chung và phát triển thương mại hàng thực phẩm của siêu thị sao Hà Nội nói riêng. Sau thời gian thực tập tại công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang, xuất phát từ thực tế hoạt động thương mại nói chung và một số vấn đề còn tồn tại về nguồn hàng trong phát triển thương mại hàng thực phẩm của công ty mà em đã tìm hiểu qua phiếu điều tra, phỏng vấn đối với cán bộ nhân viên trong công ty, em đã chọn đề tài: Giải pháp về nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm ở siêu thị sao Hà Nội”cho chuyên đề của mình 1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài Về lý luận: Căn cứ vào đề tài đã chọn lựa, chuyên đề sẽ hệ thống lại những lý thuyết liên quan đến thương mại và phát triển thương mại hàng thực phẩm gồm có: -Thế nào là phát triển thương mại hàng thực phẩm? GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 1 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế -Hệ thống chỉ tiêu, vai trò của phát triển thương mại hàng thực phẩm, cơ sở để phát triển thương mại hàng thực phẩm - Vai trò của việc tổ chức nguồn hàng đối với việc phát triển thương mại hàng thực phẩm Về thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng và giải pháp phát triển thương mại hàng thực phẩm trên thị trường Hà Nội, phải đi vào giải quyết các vấn đề sau: -Thực trạng phát triển thương mại hàng thực phẩm của siêu thị sao Hà Nội trong đó tập trung vào đánh giá thực trạng việc tổ chức nguồn hàng. Chỉ rõ những thành công về phát triển thương mại hàng thực phẩm, đặc biệt về việc tổ chức nguồn hàng thực phẩm của siêu thị về hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó đưa ra giải pháp phát triển thương mại hàng thực phẩm của siêu thị sao Hà Nội từ 2011-2015. 1.3 Các mục tiêu nghiên cứu Về mặt lý luận: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến phát triển thương mại hàng thực phẩm từ đó là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài. Về mặt thực tiễn: Khảo sát đánh giá thực trạng phát triển thương mại nhóm hàng thực phẩm của công ty TNHH TM Thiên Giang, chỉ rõ các hoạt động liên quan tới hoạt động tổ chức nguồn hàng tại công ty. Chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân vấn đề trọng tâm cần giải quyết về phát triển thương mại hàng thực phẩm. Đề xuất một số giải pháp việc tổ chức nguồn hàng đối với phát triển thương mại hàng thực phẩm đối với công ty và kiến nghị để công ty thực hiện các giải pháp đã đề xuất. 1.4 Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại như quy mô, tốc độ tăng trưởng, hiệu quả thương mại, mối quan hệ giữa kinh tế xã hội với môi trường. Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại nhóm hàng thực phẩm trọng tâm tập trung vào các nhân tố liên quan tới việc tổ chức nguồn hàng thực phẩm. Về không gian: Chuyên đề nghiên cứu về phát triển thương mại hàng thực phẩm của công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang trên địa bàn Hà Nội đặc biệt là hai tuyến phố Phạm Ngọc Thạch và tuyến phố Cát Linh quận Đống Đa, tập trung nghiên cứu việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm của công ty. Về thời gian: Chuyên đề tập trung nghiên cứu hoạt thực trạng phát triển thương mại hàng thực phẩm của công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang trong vòng 4 năm 2007-2010. Các giải pháp đưa ra trong vòng 5 năm từ 2011-2015. 1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung nghiên cứu 1.5.1 Khái quát về thực phẩm Thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 2 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế xử lý thực phẩm nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như dược phẩm. Phân loại hàng thực phẩm: Gồm có thực phẩm tươi sống và thực phẩm chế biến -Thực phẩm tươi sống: Đây là sản phẩm mà tất cả chúng ta thường xuyên gặp và sử dụng. Có rất nhiều nơi bán thực phẩm tươi sống nhưng không phải tất cả đều đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nó đòi hỏi một nguồn cung thật đảm bảo. -Thực phẩm chế biến: là nhóm thực phẩm đã được qua một công nghệ chế biến và phải tuân thủ một chế độ bảo quản chặt chẽ. Các sản phẩm này có thể sử dụng hoặc vẫn phải qua một số thao tác chế biến nữa. Đặc điểm của thực phẩm: Thực phẩm là nhóm hàng rất đặc biệt, nó là mặt hàng tiêu dùng thường xuyên, yêu cầu bảo quản khó khăn, đặc biệt thời gian sử dụng ngắn, công đoạn chế biến thô sơ, không đòi hỏi công nghệ phức tạp. Nó cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố khách quan như: khí hậu thời tiết, dịch bệnh…Nhưng hiện nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, thực phẩm không chỉ để sử dụng trong thời gian ngắn nữa mà nó có thể sử dụng trong thời gian dài hơn. Không những vậy, hiện nay cũng đã xuất hiện rất nhiều loại thực phẩm chế biến sẵn, chúng ta có thể sử dụng ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào. Vai trò của thực phẩm : -Thực phẩm đảm bảo an ninh lương thực -Thực phẩm cải thiện cơ cấu bữa ăn cho nhân dân, nâng cao chất lượng dân cư của quốc gia -Thực phẩm khuyến khích nông nghiệp phát triển theo hướng đa dạng hoá -Phát triển thực phẩm góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước tạo sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động 1.5.2 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến phát triển thương mại hàng thực phẩm a. Thương mại và phát triển thương mại *Khái niệm và bản chất của thương mại + Khái niệm: Thương mại là một phạm trù kinh tế ra đời và tồn tại gắn liền với sự ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hoá. Phạm trù thương mại được hiểu theo nhiều cách khác nhau. + Bản chất của thương mại: Thương mại là tổng hợp các hiện tượng, các hoạt động và các quan hệ kinh tế gắn và phát sinh cùng với trao đổi hàng hoá và cung ứng dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận. *Khái niệm và bản chất của phát triển thương mại + Khái niệm: Phát triển thương mại là tất cả các hoạt động của con người tác động theo hướng tích cực đến lĩnh vực thương mại( mua bán sản phẩm , dịch vụ và các hoạt GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 3 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế động hỗ trợ thúc đẩy quá trình mua bán sản phẩm dịch vụ) làm cho lĩnh vực này ngày càng mở rộng về quy mô, tăng về chất lượng, nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững. + Bản chất của phát triển thương mại: Các hoạt động nhằm phát triển thương mại thì phải đảm bảo làm cho lĩnh vực này có sự mở rộng và quy mô, sự thay đổi về chất lượng, nâng cao tính hiệu quả kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững hoặc cả bốn vấn đề trên: ●Phát triển thương mại thể hiện ở sự tăng lên về quy mô tức là sự gia tăng về giá trị thương mại, thị phẩn của doanh nghiệp trên thị trường, mở rộng quy mô thị trường và khai thác được nhiều khách hàng tiềm năng. Cụ thể là sự tăng lên về khối lượng tiêu thụ và doanh thu tiêu thụ. ●Phát triển thương mại thể hiện ở sự thay đổi về chất lượng là sự đổi mới, cải tiến hoạt động thương mại sản phẩm nhằm nâng cao lòng tin, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng. Phát triển thương mại hướng tới thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó còn có sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm theo hướng tối ưu trên từng thị trường, từng thời kỳ. ●Phát triển thương mại gắn liền với nâng cao hiệu quả thương mại tức là phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được từ hoạt động kinh doanh với chi phí bỏ ra. Hoạt động thương mại đạt hiệu quả cao khi nó tối thiểu hoá được chi phí sản xuất kinh doanh và tối đa hoá lợi nhuận. ●Phát triển thương mại phải hướng tới sự hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường tức là nhằm đạt tới sự phát triển bền vững. Sự ổn định và phát triển bền vững của thương mại sản phẩm không chỉ thể hiện ở vị thế của nó trên thị trường và sự hấp dẫn đối với khách hàng, thể hiện ở thị phần, thị trường ổn định và ngày càng gia tăng mà còn thể hiện ở sự đóng góp của nó trong việc cải thiện các vấn đề xã hội như tạo ta việc làm cho nhiều lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo vệ môi trường. b. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại ●Về mặt quy mô Quy mô phát triển thương mại của một doanh nghiệp liên quan đến sản lượng, doanh thu, lợi nhuận… Sản lượng: Là chỉ tiêu phản ánh số lượng hàng hoá doanh nghiệp tiêu thụ được trong một thời kỳ nhất định Doanh thu: Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp. Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng. DT = P X Q GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 4 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế Trong đó : DT: doanh thu P: giá một đơn vị sản phẩm Q: sản lượng tiêu thụ Lợi nhuận: Trong kinh tế học là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó bao gồm cả chi phí cơ hội, là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí ●Tốc độ phát triển Tốc độ phát triển: Là chỉ tiêu so sánh mức gia tăng tương đối của sự phát triển giữa các thời kỳ khác nhau(thường tính theo năm). Tốc độ phát triển vừa là chỉ tiêu phản ánh quy mô phát triển ngành hàng, vừa là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng phát triển thương mại. Tốc độ phát triển nếu cao và đều đặn, ổn định qua các năm cho thấy dấu hiệu của một nền thương mại phát triển mạnh, tiềm năng mở rộng trong tương lai. Ngược lại, nếu tốc độ phát triển thấp hoặc tốc độ phát triển cao nhưng không ổn định là biểu hiện của sự phát triển thương mại chưa vững chắc, chưa hiệu quả. Tốc độ phát triển có thể được thể hiện thông qua tốc độ tăng trưởng bình quân, mức tăng trưởng so với tiềm năng. Mức tăng trưởng bình quân là mức tăng trưởng trung bình của doanh nghiệp qua các năm, cho thấy khi bỏ ra một đơn vị vốn thì đóng góp trung bình bao nhiêu % cho tăng trưởng chung. Trong đó tốc độ tăng trưởng của năm(n+1) so với năm n tính theo doanh thu là: Qn là khối lượng hàng thực phẩm trong năm n Pn là giá của hàng thực phẩm trong năm n Q n + 1 là khối lượng hàng thực phẩm trong năm n +1 P n + 1 là giá của hàng thực phẩm trong năm n+1 Tốc độ tăng trưởng bình quân được xác định như sau Trong đó: : Tốc độ tăng trưởng bình quân t2 , t3…tn : Tốc độ tăng trưởng hàng năm ●Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng trong thương mại Sự dịch chuyển cơ cấu mặt hàng trong thương mại phải đảm bảo tăng trưởng hợp lý, đảm bảo tính ổn định, tính bền vững trong tăng trưởng. Sự dịch chuyển trong cơ cấu phải có sự dịch chuyển về mặt hàng, hàm lượng chế biến và thị trường. GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 5 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế Cơ cấu mặt hàng là tập hợp có chọn lựa và phân phối các nhóm, loại, nhãn hiệu, mặt hàng và được ghi vào tổng mục hàng hoá và một công ty, một cơ sở doanh nghiệp thương mại chào hàng và chuẩn bị sẵn sang để bán cho tập khách hàng trọng điểm trên một khu vực thị trường mục tiêu xác định. Sự dịch chuyển cơ cấu mặt hàng trong thương mại được thể hiện ở tỷ trọng từng mặt hàng kinh doanh, tỷ trọng của từng thị trường trong tổng các thị trường của doanh nghiệp. Cơ cấu mặt hàng hợp lý sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả. ● Hiệu quả thương mại Hiệu quả thương mại không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế, nó còn được nghiên cứu là một phạm trù kinh tế-xã hội tổng hợp trên cả tầm vĩ mô và phạm vi doanh nghiệp. Trên bình diện vĩ mô, hiệu quả thương mại phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực phục vụ cho hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ nói chung của cả nền kinh tế. Ở góc độ doanh nghiệp, nhóm chỉ tiêu này thể hiện ở doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp như vốn, lao động…Hệ thống chỉ tiêu phản ánh phát triển về mặt hiệu quả bao gồm các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận và chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp. Công thức hiệu quả thương mại: Trong đó: H: là hiệu quả thương mại K: là kết quả đạt được C: chi phí sử dụng nguồn lực *Một số chỉ tiêu hiệu quả bộ phận: -Hiệu quả sử dụng vốn: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về các tài sản cần thiết nhằm thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của kinh doanh. Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp được đánh giá bằng 2 chỉ tiêu: Trong đó: là số vốn bình quân sử dụng trong năm LN là lợi nhuận đạt được trong kỳ M là doanh thu -Hiệu quả sử dụng lao động được đo lường đánh giá bằng chỉ tiêu năng suất lao động. Nó phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh của một lao động được biểu hiện bằng doanh thu bình quân của một lao động đạt được trong kỳ. GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 6 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế Trong đó: W là năng suất lao động của một nhân viên là số nhân viên bình quân trong kỳ Ngoài ra, hiệu quả sử dụng lao động được đo lường và đánh giá bằng chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí tiền lương. Trong đó: M là doanh thu QL là tổng quỹ lương trong kỳ *Một số chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp -Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp Trong đó: là hiệu quả kinh tế M là doanh thu là giá trị vốn hàng hoá đã tiêu thụ F là chi phí đã bỏ ra để đạt doanh thu Chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ trình độ sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp càng cao. -Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận: Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu bán hàng thuần, chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả doanh nghiệp càng cao. -Ngoài ra, ta có thể sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng chi phí, chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận doanh nghiệp đạt được trên một đồng chi phí bỏ ra. ●Sự kết hợp giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường Sự kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế xã hội và môi trường nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Phát triển bền vững phải đảm bảo đồng thời GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 7 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế cả ba khía cạnh: Phát triển kinh tế bền vững, phát triển xã hội bền vững, phát triển môi trường bền vững. Ba nội dung đó có mối quan hệ biện chứng với nhau vừa tác động qua lại vừa chế ước lẫn nhau nó được biểu hiện cụ thể như sau: Phát triển kinh tế góp phần vào việc thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng bền vững thể hiện ở chỗ: -Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp tăng thu nhập, góp phẩn xoá đói nghèo, xoá bỏ tệ nạn xã hội -Cải thiện giáo dục nâng cao trình độ dân trí, nâng cao năng lực sức cạnh tranh về việc làm cho người lao động -Phát triển kinh tế giúp cải thiện tình hình y tế, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng Phát triển kinh tế xã hội phải đi đôi với bảo vệ môi trường phát triển thương mại kéo theo việc gia tăng khai thác và sử dụng các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng giao tuông vận tải, bưu chính viễn thông. Mặt khác phát triển thương mại cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường sinh thái, nguồn lực, không khí, tiếng ồn, phá huỷ hệ sinh thái… Do vậy cần có sự tham gia và quản lý của nhà nước nhằm đảm bảo yêu cầu của phát triển bền vững. c. Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại hàng thực phẩm * Chất lượng thực phẩm: Chất lượng thực phẩm là tập hợp các thuộc tính của thực phẩm nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người sử dụng. Chất lượng cơ bản của thực phẩm là đưa đến cho người sử dụng các chất dinh dưỡng và năng lượng cần thiết cho các quá trinh sống. Để tạo ra một sản phẩm thì trước hết phải đi từ khâu nguyên liệu. Nguyên liệu được đưa vào chế biến thành bán thành phẩm, rồi thành thành phẩm. Thành phẩm sẽ được lưu thông, phân phối đến tay người tiêu dùng và được sử dụng. Như vậy phải trải qua các quá trình sản xuất nông nghiệp tạo ra nguyên liệu, chế biến công nghiệp tạo ra thành phẩm và hệ thống thương nghiệp làm nhiêm vụ lưu thông, phân phối. Tuỳ vào mục đích và phạm vi sử dụng khác nhau mà nguyên liệu đầu vào có thuộc tính như nhau, sau quá trình chế biến sẽ có chất lượng khác nhau do tính chất công nghệ khác nhau mà như vậy thì chỉ tiêu chất lượng của chúng sẽ khác nhau. Các yếu tố cấu thành chất lượng được thể hiện ở tất cả các khâu từ nguyên liệu đến sản xuất, phân phối, tiêu thụ. *Thị trường thực phẩm: Thị trường là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thương mại. Nói đến thị trường là nói tới người mua – khách hàng, nhà cung cấp và đối thủ cạnh tranh. Trong nhóm những nhân tố này, nhân tố khách hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, chất lượng thương mại mặt hàng. Nhu cầu, thị hiếu của người mua sẽ quyết định số lượng, giá cả, chủng loại và cơ cấu mặt hàng trên thị trường. Thực phẩm là một mặt hàng thiết yếu đối với người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi. Khách hàng của thực phẩm là cá nhân, hộ gia đình, bếp ăn tập thể, nhà hàng, khách sạn… Vì GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 8 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế vậy, dung lượng thị trường thực phẩm Thủ đô là rất lớn. Khi mức sống và thu nhập của người dân tăng lên thì họ càng chú trọng hơn tới chế độ dinh dưỡng và sự an toàn của bữa ăn, đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây là một trong những thách thức buộc các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải quan tâm tới chất lượng và cơ cấu mặt hàng. Nắm được tâm lý và thị hiếu của người tiêu dùng Hà Nội, các doanh nghiệp cung ứng, phân phối thực phẩm đang cố gắng sản xuất và tìm nguồn hàng đạt tiêu chuẩn, đảm bảo an toàn với sức khỏe của người dân. *Môi trường: Khí hậu có thể gây ra những tác động tích cực hoặc tiêu cực tới chất lượng thực phẩm. Nếu khí hậu tốt lành thì nông thực phẩm được mùa, hàm lượng các chất như gluxit, protein thô, lipit thô, vitamin… được đảm bảo, gia súc, gia cầm phát triển tốt. Như vậy nguồn nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất thực phẩm sẽ có chất lương tốt, dồi dào. Ngược lại thì sẽ làm cho nguồn nguyên liệu bị khan hiếm, không đảm bảo tiêu chuẩn đã định. Từ đó sẽ gây ảnh hưởng tới chất lượng thực phẩm. Hiện nay ô nhiễm cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với an toàn thực phẩm. Ô nhiễm đất, không khí, nguồn nước… đều ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất thực phẩm. Ô nhiễm càng cao thì càng làm cho quá trình sản xuất thực phẩm càng dễ bị nhiếm khuẩn, mất vệ sinh… gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng thực phẩm. *Quản lý Nhà nước: Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với ngành thực phẩm nước ta. Đối với một đất nước mà ý thức tự giác của doanh nghiêp cũng như của người dân chưa cao, đời sống xã hội còn thấp, còn chưa có ý thức gì về vệ sinh an toàn thực phẩm như nước ta thì vai trò của Nhà nước là rất quan trọng. Nhà nước ra những pháp lệnh về thực phẩm, để từ đó các ngành, các bộ có liên quan ra những qui định, những tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại thực phẩm. Đó là những căn cứ, những chuẩn mà những nhà sản xuất, lưu thông thực phẩm phải tuân theo để đạt được những sản phẩm có chất lượng và phù hợp với người tiêu dùng. Nhà nước còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện những qui định đã ban hành cũng như việc xem xét và cấp giấy phép hoạt động cho các cơ sở kinh doanh thực phẩm. *Ý thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng -Doanh nghiệp trong ngành thực phẩm: nguồn nguyên liệu có vai trò rất quan trọng, nhưng hiện nay một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất vì lợi nhuận mà đã thu mua nguyên liệu một cách đại trà mà không có biện pháp kiểm tra, kiểm soát nào cả, thu mua cả những nguyên liệu không đạt tiêu chuẩn cho phép, nhiều khi hư hang ôi thu, làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Hay trong quá trình sản xuất họ cũng cắt giảm nhiều công đoạn hoặc không đảm bảo chất lượng của từng quy trình trong quá trình sản xuất. Vì lợi nhuận chính các xí nghiệp nhà máy chế biến thực phẩm lại là nơi GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 9 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế mất vệ sinh nhất, chất thải không được xử lý đúng tiêu chuẩn, bầu không khí làm việc bị ô nhiễm. -Còn đối với người dân, nhiều khi họ chưa có nhận thức đầy đủ về vệ sinh an toàn thực phẩm, họ mua cả những nguyên liệu, thực phẩm bày bán một các tràn lan, mất vệ sinh về sử dụng. (Theo thống kê mới nhất của Bộ Y tế cho thấy, ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có 88,8% số cơ sở thức ăn đường phố mua thực phẩm rẻ tiền, kém chất lượng, 81,7% để lẫn thức ăn sống với thức ăn chín, 74% sử dụng phụ gia, phẩm màu ngoài danh mục cho phép, 67,3% số người phục vụ ở các cơ sở này vẫn dùng tay bốc thức ăn cho khách…)Và một số người còn mất vệ sinh trong quá trình chế biến thực phẩm. Hơn nữa nhìn chung người Việt Nam chưa có ý thức giữ gìn môi trường xung quanh của mình.Tất cả những điều đó đều có tác động nhất định đến chất lượng thực phẩm. d. Nhân tố ảnh hưởng tới việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm *Vai trò của việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm Nguồn hàng: Nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại là toàn bộ khối lượng và cơ cấu hàng hoá thích hợp với nhu cầu của khách hàng đã và có khả năng mua được trong kỳ kế hoạch. Đối với doanh nghiệp thương mại, tổ chức nguồn hàng nhằm tạo điều kiện vật chất lưu chuyển hàng hoá để đảm bảo lưu thông hàng hoá được tiến hành thường xuyên liên tục góp phần thực hiện chức năng và mục tiêu của doanh nghiệp thương mại. Đồng thời còn thể hiện sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp để cạnh tranh với doanh nghiệp khác trên thị trường. Tổ chức nguồn hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp thương mại thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng về mặt số lượng chất lượng để nâng cao mức sống cho mọi thành viên trong xã hội đồng thời góp phần ổn định giá cả thị trường. Tổ chức nguồn hàng có tác dụng thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất phát triển.Vài năm trở lại đây nền kinh tế của nước ta đang trên đà phát triển, tỷ suất hàng hoá ngày càng tăng. Những hàng hoá cần thiết phải được tiêu thụ nhanh chóng, thu hồi lại vốn cho sản xuất và tích luỹ để mở rộng sản xuất tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, cải tiến kỹ thuật… Tổ chức nguồn hàng góp phần mở rộng xuất khẩu thực hiện tích luỹ cho các doanh nghiệp và cho xã hội. Tổ chức nguồn hàng tạo điều kiện thực hiện tốt mối liên hệ kinh tế giữa các ngành và các khu vực kinh tế. Đặc biệt đối với hàng nông sản chủ yếu do nông dân sản xuất đó là hàng tiêu dùng và nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm thông qua việc tổ chức nguồn hàng của doanh nghiệp mà các mối quan hệ kinh tế giữa các ngành các vùng được thực hiện. GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 10 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế Tóm lại tổ chức nguồn hàng được coi là nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp thương mại nhằm tạo ra nguồn hàng dồi dào về số lượng, chất lượng và cơ cấu,thời gian phù hợp, giá cả hợp lý để đáp ứng nhu cầu của thị trường. *Nhân tố ảnh hưởng tới việc tổ chức nguồn hàng ●Mua hàng trong doanh nghiệp thương mại: Đưa đến cho doanh nghiệp những hàng hoá nhằm thoả mãn thường xuyên đầy đủ nhất cho nhu cầu tiêu dùng về mặt số lượng, chất lượng chủng loại hàng hoá với chi phí thấp. Mua hàng trong doanh nghiệp thương mại dựa vào các yếu tố sau: Chọn người cung ứng ,chọn nhân viên mua hàng, quá trình mua hàng ●Dự trữ hàng hoá: Dự trữ hàng hoá đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có hàng hoá bán cho người tiêu dùng. Dự trữ hợp lý giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường ●Môi trường: Khí hậu, dịch bệnh, mùa vụ cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc tổ chức nguồn hàng nếu khí hậu mưa lũ lụt, hạn hán không cung cấp đủ nguyên liệu đầu vào cho hàng thực phẩm sẽ làm nguồn cung hạn chế, dịch bệnh như bệnh tai xanh ở lợn, bò điên, lở mồm long móng ở trâu bò… cũng ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn cung thịt tươi sống cũng như thịt đã qua chế biến đối với các doanh nghiệp kinh doanh nhóm hàng thực phẩm. Nếu vào chính mùa các vùng quê cung cấp một lượng lớn thực phẩm cho các doanh nghiệp nguồn cung đảm bảo khi vào thời gian trái vụ nguồn cung hạn chế hơn nên các doanh nghiệp kinh doanh trong nhóm hàng thực phẩm xây dựng kế hoạch cung cấp ổn định đối với người dân đảm bảo nguồn cung ứng ổn định. ●Trình độ tổ chức quản lý: Nếu trình độ tổ chức quản lý của siêu thị tốt đưa ra kế hoạch, mục tiêu phù hợp với khả năng của siêu thị mình và đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của thị trường thì sẽ thúc đẩy siêu thị phát triển và có vị thế trong thị trường còn nếu trình độ tổ chức quản lý của siêu thị kém sẽ làm hạn chế khả năng phát triển của siêu thị, thu hẹp quy mô kinh doanh. ●Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng là một yếu tố quan trọng đối với việc tổ chức nguồn hàng. Nếu cơ sở hạ tầng như kho bãi tốt, lớn sẽ dự trữ và trao đổi được lượng hàng hoá nhiều đáp ứng được nhu cầu của thị trường đồng thời cơ sở hạ tầng không gian trong siêu thị rộng có thể trang trí, bày để các kệ hàng hoá một cách hợp lý, khoa học bắt mắt hơn thu hút sự chú ý của người tiêu dùng, nếu cơ sở hạ tầng kho bãi kém sẽ làm giảm khả năng dự trữ mua bán hàng hoá của siêu thị làm giảm khả năng cạnh tranh của mình so với đối thủ cạnh tranh. ●Chính sách của Nhà nước: Chính sách của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn hàng. Bởi Nhà nước đưa ra các chính sách hỗ trợ và khuyến khích đối với những nhà cung ứng nguyên liệu, chính sách tác động đến cầu, môi trường thương mại của doanh nghiệp ( vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, tiêu chuẩn, thuế…) GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 11 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế 1.5.3 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu Về lý luận: Để giải quyết các vấn đề và đạt được mục tiêu nghiên cứu đã nêu chuyên đề đã hệ thống lại những vấn đề về lý thuyết liên quan đến phát triển thương mại hàng thực phẩm như: khái niệm về phát triển thương mại, các lý thuyết về hàng thực phẩm, đưa ra những chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại hàng thực phẩm, phân tích những nhân tố tác động đến phát triển thương mại và những nhân tố tác động tới việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm. Về thực tiễn: Chuyên đề đánh giá một số thực trạng, ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến phát triển thương mại hàng thực phẩm, tổng hợp những dữ liệu thứ cấp, sơ cấp, nêu ra được thành công và bài học kinh nghiệm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm của siêu thị. Đồng thời cũng thông qua những dự báo, phương hướng và giải pháp tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm trong đó tập trung chủ yếu vào nhóm hàng thực phẩm tươi sống, thực phẩm đông lạnh và rau củ quả đóng hộp. Nghiên cứu vấn đề thông qua các chương sau: Chương I: Tổng quan nghiên cứu giải pháp về nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm ở siêu thị sao Hà Nội Chương II: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm ở siêu thị sao Hà Nội Chương III: Các kết luận và đề xuất giải pháp về nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm ở siêu thị sao Hà Nội GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 12 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế Chương II: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm ở siêu thị sao Hà Nội 2.1 Các phương pháp nghiên cứu Khi nghiên cứu bất cứ vấn đề gì thì việc định hướng các phương pháp sẽ sử dụng là vô cùng cần thiết. Phương pháp nghiên cứu mô tả cách thức, mục đích nội dung để tiến hành thu nhập các thông tin. Trong trường hợp này, phương pháp nghiên cứu phù hợp sẽ giúp chúng ta hiểu kỹ hơn về thực trạng việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm trên địa bàn Hà Nội của siêu thị sao Hà Nội. Cụ thể, trong chuyên đề này sẽ sử dụng phương pháp thu nhập dữ liệu qua nguồn tin có sẵn và qua điều tra, phỏng vấn và sau đó sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu. 2.1.1 Phương pháp thu nhập dữ liệu Chủ yếu sử dụng hai phương pháp sau: a. Phương pháp điều tra trắc nghiệm -Mục đích điều tra: Để nghiên cứu trên phạm vi rộng và khắc phục được những khó khăn về tài chính, nhân lực, thời gian, việc sử dụng phương pháp điều tra trắc nghiệm là rất phù hợp. Nhằm mục đích thu nhập thông tin về phát triển thương mại nhóm hàng thực phẩm, cần được xem xét ở nhiều khía cạnh để làm cơ sở đánh giá thành công, hạn chế trong chương 3. Các vấn đề được đề cập trong phiếu điều tra trắc nghiệm liên quan đến việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm gồm: -Quy mô phát triển thương mại hàng thực phẩm trên thị trường hiện nay -Ảnh hưởng của lạm phát tới giá cả hàng thực phẩm -Mặt hàng tiềm năng trong siêu thị -Công tác tổ chức nguồn hàng trong siêu thị -Vai trò của việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm -Cơ cấu nguồn hàng thực phẩm ảnh hưởng tới phát triển thương mại hàng thực phẩm -Ảnh hưởng của chính sách của nhà nước tới phát triển thương mại hàng thực phẩm Cách thức điều tra: Phát phiếu điều tra cho đối tượng điều tra là cán bộ công nhân viên của công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang(siêu thị sao Hà Nội). Sau đó thu nhập lại rồi tổng hợp kết quả điều tra và đưa ra kết luận. b. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong việc thu thập dữ liệu, nó thể hiện tính khách quan, xác thực của các thông tin được thu nhập giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn. GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 13 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế Mục đích nghiên cứu: Nhằm tăng tính khách quan của chuyên đề, việc tìm hiểu ý kiến của các chuyên gia trong việc đánh giá thực trạng, những thành công, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong phát triển thương mại nhóm hàng thực phẩm của doanh nghiệp gồm: -Tình hình cạnh tranh trên thị trường về hàng thực phẩm -Khó khăn trong việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm -Mặt hàng thực phẩm hiệu quả kinh doanh tốt nhất -Dự báo phát triển thương mại hàng thực phẩm -Giải pháp khắc phục khó khăn việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm Cách thức điều tra: Đặt câu hỏi có liên quan đến phát triển thương mại nhóm hàng thực phẩm, trực tiếp gặp gỡ các cán bộ công nhân viên của công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang(siêu thị sao Hà Nội), phát phiếu phỏng vấn rồi tiến hành thu nhập thông tin. Tổng hợp các ý kiến được phỏng vấn thành những vấn đề cụ thể. c.Phương pháp thu nhập thông tin qua nguồn tin có sẵn Ngoài hai phương pháp trên, phương pháp thu nhập thông tin có sẵn có qua mạng internet, báo chí, tài liệu tham khảo…là rất cần thiết và có hiệu quả cao. Mục đích nghiên cứu: Nhằm thu nhập thông tin cần thiết qua các nguồn tin có sẵn có cách nhanh chóng, đầy đủ và chính xác. Phương pháp này tiết kiệm thời gian sinh lực, kinh phí… lại cung cấp thông tin cả về lý luận và thực tiễn. Cách thức và đối tượng thu nhập:Tìm kiếm những tài liệu cần thiết qua internet, sách báo, tài liệu liên quan đến đề tài giải pháp về nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm. Trong đó, thu thập số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang(siêu thị sao Hà Nội). Các số liệu này được thu thập chủ yếu từ phòng kế toán của công ty. Từ đó, đưa ra những đánh giá về thành công, hạn chế về tình hình phát triển thương mại của công ty và đưa ra những giải pháp đối với doanh nghiệp và kiến nghị đối với nhà nước. 2.1.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu Các thông tin mà ta thu được gồm rất nhiều loại khác nhau liên quan đến đề tài mà ta nghiên cứu, cần phải tổng hợp, so sánh và phân tích những dữ liệu thu được từ đó đưa ra những đánh giá chính xác và phù hợp. Dựa vào những thông tin thu nhập được phải tổng hợp dữ liệu thành một hệ thống rồi tiến hành so sánh sử dụng các kiến thức đã học để lập ra các bảng, biểu, sơ đồ liên quan đến việc phản ánh tình hình phát triển thương mại hàng thực phẩm. Trong quá trình so sánh các dữ liệu sẽ nhận ra được đặc điểm, xu hướng phát triển thương mại nhóm hàng thực phẩm. Từ đó, đưa ra những kết quả đánh giá khái quát về vấn đề nghiên cứu, dự báo xu hướng, tìm ra những giải pháp. GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 14 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế 2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đối với việc tạo lập nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm của siêu thị sao Hà Nội 2.2.1 Tổng quan tình hình phát triển thương mại nhóm hàng thực phẩm trên thị trường Hà Nội của siêu thị sao Hà Nội a. Khái quát về công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang Tên công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang Địa chỉ: Số 2B – Phạm Ngọc Thạch – Trung Tự - Đống Đa – Hà Nội Điện thoại: 04.7.330.436 Fax: 04.7.330.436 Siêu thị Sao là một bộ phận của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang. Công ty được thành lập từ tháng 9 năm 1996 với các ngành nghề kinh doanh chính là: Siêu thị, vui chơi giải trí, trang trại hoa lan,… Hiện nay Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thiên Giang có các chi nhánh sau: -Siêu thị Sao Hà Nội 36 Cát Linh và 2B Phạm Ngọc Thạch -Trung tâm vui chơi Vũ trụ Bay(Số 1 Nguyễn Đình Chiểu và Game 2B Phạm Ngọc Thạch) -Công Ty Hoa Lan (T&G orchid) Trang trại Hoa Lan Xuân Mai – Hoà Bình Trang trại Lan và Quýt Bình Phước – TP Hồ Chí Minh *Lĩnh vực kinh doanh của công ty là thương mại và dịch vụ. b. Tổng quan tình hình phát triển thương mại hàng thực phẩm trên thị trường Hà Nội. Hiện nay, các loại thực phẩm đang lưu thông trên thị trường khá dồi dào về mặt hàng, đa dạng về mẫu mã nhưng chất lượng chưa cao. Ngoài các loại thực phẩm sản xuất trong nước còn có một lượng lớn thực phẩm tươi sống đông lạnh nhập khẩu. Ngược lại với vỏ ngoài của các loại thực phẩm tươi nguyên, bao gói đẹp, được đóng dấu kiểm chứng chất lượng nhưng khi kiểm tra thì trong ruột đã bị mốc, ôi thiu, tình trạng thực phẩm hết hạn sử dụng, mất vệ sinh này xảy ra phổ biến trên khắp cả nước. Đối với thực phẩm sản xuất trong nước chưa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong khâu trồng tỉa, thu hái, chế biến. Thực phẩm tươi sống nhập khẩu vào thị trường Việt Nam ngày càng tăng và khó kiểm soát. Chỉ tính riêng Trung Quốc, trong năm 2008, kim ngạch nhập khẩu từ nước này vào Việt Nam là 15,6 tỷ USD (trong tổng kim ngạch 80,71 tỷ USD nhập khẩu của Việt Nam). Theo Cục quản lý thị trường, nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc không rõ xuất xứ, hàng hết hạn sử dụng, tẩm ướp hóa chất (như sữa, gia vị, thực phẩm, đồ uống…) đã đi lậu vào thị trường Việt Nam bằng con đường tiểu ngạch, hàng lậu. Điều này, ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của người tiêu dùng làm giảm uy tín của doanh nghiệp kinh doanh hàng thực phẩm trên thị trường. Tình hình giá cả hàng thực phẩm trên thị trường Hà Nội đang tăng lên mang GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 15 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế lại không ít khó khăn đối với người sản xuất, kinh doanh lẫn người tiêu dùng. Những ngày qua, do thời tiết lạnh và rét, nguồn thực phẩm trở nên khan hiếm, các lò mổ chỉ cung cấp bằng một nửa lượng bình quân hàng ngày, cộng với dịch bệnh trước Tết khiến giá rau, giá thịt tăng đột biến.Tại một số chợ lớn ở Hà Nội, giá rau củ tăng bình quân 30%, giá thịt lợn tăng 25% so với cách đây 1 tháng, trong khi đó, giá trứng tăng “chóng mặt” lên tới 45% điều này tác động không nhỏ tới hệ thống siêu thị trên Hà Nội nói chung và siêu thị sao Hà Nội nói riêng như nguồn hàng thực phẩm cung ứng vào hệ thống siêu thị, chất lượng thực phẩm, giá cả hàng thực phẩm,… ngoài ra, người tiêu dùng chưa ý thức đầy đủ về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm họ mua cả hàng thực phẩm bán tràn lan, mất vệ sinh về sử dụng tạo điều kiện cho các hàng hoá kém chất lượng, không rõ nguồn gốc lưu thông trên thị trường. 2.2.2 Đánh giá khái quát ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đối với việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm của siêu thị sao Hà Nội. ●Nhóm nhân tố ảnh hưởng phát triển thương mại hàng thực phẩm * Chất lượng thực phẩm: Chất lượng thực phẩm của siêu thị mà càng cao thì khả năng cạnh tranh trên thị trường càng mạnh và ngược lại nếu chất lượng thực phẩm của siêu thị thấp thì siêu thị sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi thị trường. * Thị trường thực phẩm: Sau tết các loại thực phẩm như rau, củ, quả, loại thịt tăng cao do thời tiết mưa và lạnh ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển thương mại hàng thực phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh hàng thực phẩm nói chung và việc kinh doanh hàng thực phẩm của siêu thị sao Hà Nội nói riêng. Hiện nay trên thị trường chỉ có mặt hàng rau củ là giảm, còn các loại thực phẩm khác vẫn có xu hướng đứng giá. Riêng đối với thịt lợn hiện chiếm tới 70% nhu cầu về thịt của người dân lại có xu hướng tăng, do nguồn cung hiện nay đang có dấu hiệu thiếu hụt. * Môi trường: Hàng thực phẩm là nhóm hàng phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên như khí hậu, dịch bệnh,…môi trường tự nhiên thuận lợi sẽ giúp siêu thị có nguồn cung ứng ổn định, chất lượng thực phẩm đảm bảo sẽ phục vụ tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng và ngược lại nếu môi trường tự nhiên không thuận lợi như mưa, bão lụt, dịch bệnh kéo dài sẽ làm giảm nguồn cung ứng hàng hoá cho siêu thị, làm giảm chất lượng hàng thực phẩm. ●Những nhân tố ảnh hưởng tới việc tổ chức nguồn hàng thực phẩm của siêu thị. *Mua hàng thực phẩm trong siêu thị: Trong thời gian qua việc tìm nhà cung ứng, chọn nhân viên mua hàng, quá trình mua hàng, được quan tâm rất lớn việc mua hàng và tổ chức các mặt hàng thực phẩm kinh doanh trong siêu thị. Siêu thị nên có tổng hợp GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 16 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế nhiều loại mặt hàng thực phẩm khác nhau, có nhiều dạng khác nhau, giá cả khác nhau để thu hút người mua. *Dự trữ hàng thực phẩm trong siêu thị: Dự trữ hàng thực phẩm nhằm phục vụ bán hàng liên tuc, không bị gián đoạn trong việc kinh doanh của siêu thị. Nếu dự trữ vượt quá yêu cầu của xã hội thì sẽ dẫn tới ứ đọng hàng hoá, tốc độ chu chuyển hàng hoá chậm, chi phí lớn và ngược lại nếu dự trữ hàng thực phẩm hợp lý sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của siêu thị. *Trình độ tổ chức quản lý trong việc tổ chức mua hàng và bán hàng trong siêu thị: Nếu việc tổ chức quản lý trước trong và sau khi bán hàng tốt sẽ thu hút được khách hàng và lấy được lòng tin của khách hàng còn ngược lại việc tổ chức quản lý mua hàng, bán hàng không hiệu quả làm mất niềm tin của khách hàng sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của siêu thị. *Cơ sở hạ tầng: Hệ thống bán lẻ của Hà Nội hiện có 402 chợ, 11 trung tâm thương mại và 62 siêu thị, chiếm 20 - 21% số trung tâm thương mại - siêu thị cả nước. Tuy hệ thống chợ dày, nhưng và đa phần đã xuống cấp. 81% số chợ trên địa bàn là chợ loại III. Hệ thống trung tâm thương mại – siêu thị nhiều, nhưng quy mô vừa và nhỏ, phân bố không đồng đều, hầu hết tập trung tại các quận nội thành, chất lượng dịch vụ thấp. Theo bản đề án quy hoạch hệ thống bán buôn, bán lẻ từ nay đến 2020, tại các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, ngành Công Thương sẽ không xây thêm chợ mới, và sẽ chọn nâng cấp, cải tạo một số chợ quy mô lớn (diện tích đất trên 3.000m²) thành chợ - trung tâm thương mại với quy mô loại I, kết hợp với các trung tâm thương mại – siêu thị... để hình thành các khu thương mại trung tâm. Dự kiến đến năm 2030, sẽ xây dựng thêm 130 trung tâm mua sắm, 30 siêu thị lớn. Việc quy hoạch phát triển hệ thống bán lẻ trên địa bàn Hà Nội tác động không nhỏ tới việc kinh doanh của siêu thị sao hà Nội, để không bị đào thải ra khỏi thị trường, không cạnh tranh được với các đổi thủ cạnh tranh thì siêu thị sao Hà Nội phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình về chất lượng hàng thực phẩm, giá cả hàng thực phẩm, chương trình khuyến mãi, giảm giá đối với các mặt hàng thực phẩm. Tóm lại, để siêu thị tồn tại và phát triển được cần có nguồn hàng cung ứng ổn định.Việc tìm ra nguồn hàng thực phẩm đảm bảo ổn định an toàn, chất lượng để cung cấp cho khách hàng là điều vô cùng quan trọng. Nguồn hàng dồi dào sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo được sản lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ cùng kinh doanh. Doanh nghiệp phải đảm bảo việc mua hàng và dự trữ hàng thực phẩm một cách hợp lý nhằm thoả mãn đầy đủ nhất nhu cầu tiêu dùng về mặt số lượng, chất lượng và chủng loại hàng hoá 2.3 Kết quả phiếu điều tra trắc nghiệm, phỏng vấn GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 17 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế 2.3.1 Kết quả phiếu điều tra Thông qua việc sử dụng phiếu điều tra tình hình việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm( phần phụ lục). Phiếu điều tra phát ra 15 phiếu thu về được 15 phiếu hợp lệ tóm lại kết quả từ phiếu điều tra: Câu 1: Quy mô thương mại hàng thực phẩm trên thị trường hiện nay của siêu thị: STT 1 2 3 Nội dung trả lời Rất lớn Bình thường Nhỏ Số phiếu chọn 10/15 3/15 2/15 Nhìn vào bảng ta thấy, quy mô phát triển hàng thực phẩm lớn chiếm 67% còn 33% cho rằng quy mô phát triển thương mại hàng thực phẩm ở mức trung bình. Như vậy, quy mô thương mại hàng thực phẩm trên thị trường rất lớn do vậy tiềm năng phát triển hàng thực phẩm các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất nhóm hàng này rất cao. Câu 2: Ảnh hưởng của lạm phát tới giá cả hàng thực phẩm trong siê u thị cũng như ngoài thị trường: STT 1 2 3 Nội dung trả lời Lớn Nhỏ Bình thường Số phiếu chọn 13/15 1/15 1/15 86% cho rằng sự ảnh hưởng của lạm phát tới giá cả hàng thực phẩm trong siêu thị cũng như ngoài thị trường là lớn còn 14% cho rằng ảnh hưởng của lạm phát tới giá cả hàng thực phẩm trong siêu thị cũng như ngoài thị trường nhỏ và bình thường. Do vậy , lạm phát tác động rất lớn tới giá cả hàng hoá đặc biệt là hàng thực phẩm vì nó là mặt hàng thiết yếu của con người chính vì vậy chính phủ cần đưa ra các biện pháp kìm chế lạm phát để nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người dân. Câu 3: Mặt hàng thực phẩm siêu thị kinh doanh có hiệu quả nhất: STT 1 2 3 4 5 Nội dung trả lời Nước mắm , nước chấm Rau, củ, quả đóng hộp Thực phẩm chế biến Thực phẩm tươi sống Thực phẩm đông lạnh Số phiếu chọn 10/15 2/15 3/15 67% phiếu điều tra cho rằng nước mắm, nước chấm là mặt hàng thực phẩm siêu thị kinh doanh có hiệu quả nhất còn 13% ý kiến cho rằng mặt hàng rau, củ, quả đóng hộp siêu thị kinh doanh có hiệu quả nhất ngoài ra còn 20% ý kiến cho rằng mặt hàng thực phẩm đông lạnh là mặt hàng thực phẩm siêu thị kinh doanh có hiệu quả nhất. Như vậy, ta có thể thấy rằng mặt hàng thực phẩm mà siêu thị kinh doanh có hiệu quả nhất là nước mắm, nước chấm do giá cả những mặt hàng này hiện nay thuộc mặt hàng bình ổn giá của nhà nước nên thời gian này mặt hàng này được bán chạy trong hệ thống siêu thị. Câu 4: Công tác tổ chức nguồn hàng thực phẩm của siêu thị: GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 18 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế STT 1 2 3 Nội dung trả lời Rất tốt Bình thường Kém Số phiếu chọn 15/15 100% ý kiến cho rằng công tác tổ chức nguồn hàng thực phẩm của siêu thị bình thường, do hàng thực phẩm là mặt hàng theo mùa vụ, thời tiết do vậy việc cung ứng tổ chức nguồn hàng phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, thời tiết chính vì vậy việc tìm ra nhà cung ứng hợp lý sẽ đem lại kết quả kinh doanh cao. Câu 5:Vai trò việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm của siêu thị: STT 1 2 3 4 5 Nội dung trả lời Rất lớn Lớn Bình thường Nhỏ Rất nhỏ Số phiếu chọn 15/15 100% ý kiến đều cho rằng vai trò việc tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại hàng thực phẩm của siêu thị là rất lớn. Do vậy, việc tổ chức nguồn hàng tốt đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất khác phát triển Câu 6: Cơ cấu nguồn hàng thực phẩm ảnh hưởng tới phát triển thương mại hàng thực phẩm trong siêu thị: STT 1 2 3 4 5 Nội dung trả lời Nước mắm, nước chấm Thực phẩm tươi sống Rau, củ, quả đóng hộp Thực phẩm chế biến Thực phẩm đông lạnh Ý kiến đánh giá mức độ quan trọng 1 2 3 4 5 10/15 1/15 2/15 4/15 8/15 2/15 5/15 6/15 4/15 2/15 1/15 1/15 4/15 4/15 5/15 1/15 4/15 1/15 4/15 6/15 Theo đánh giá thứ tự như sau: Nước mắm, nước chấm, thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, rau củ quả đóng hộp, thực phẩm đông lạnh Câu 7: Ảnh hưởng của chính sách nhà nước tới phát triển thương mại hàng thực phẩm: STT 1 2 3 Nội dung trả lời Lớn Trung bình Nhỏ Số phiếu chọn 13/15 2/15 87% ý kiến cho rằng chính sách nhà nước có ảnh hưởng lớn tới phát triển thương mại hàng thực phẩm còn lại 13% ý kiến cho rằng chính sách nhà nước có ảnh hưởng trung bình tới phát triển thương mại hàng thực phẩm. 2.3.2 Kết quả phiếu phỏng vấn *Tình trạng cạnh tranh hiện nay trên thị trường về hàng thực phẩm GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 19 SVTH: Phạm Thị Thanh Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh tế Vì đây là nhóm hàng thiết yếu nên có rất nhiều đối thủ tham gia kinh doanh nhóm hàng này nên cạnh tranh trên thị trường là rất khắc nghiệt. Nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng thương hiệu, chữ tín cho doanh nghiệp thông qua chất lượng sản phẩm, giá cả và các dịch vụ kèm theo. *Khó khăn trong công tác tổ chức nguồn hàng thực phẩm Tình hình thời tiết, dịch bệnh heo tai xanh và giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, sự biến động bất thường của giá vàng và tỷ giá, điều này đã góp phần tăng giá các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng, chưa phát triển thương mại hàng thực phẩm theo hướng tập trung, chưa khuyến khích trồng cây nguyên liệu để cung cấp cho doanh nghiệp. *Mặt hàng thực phẩm đạt hiệu quả cao nhất Nước mắm, nước chấm, thực phẩm đông lạnh, rau của quả đóng hộp *Dự báo về phát triển hàng thực phẩm giai đoạn 2011-2015 Phát triển hàng thực phẩm sẽ rất phức tạp do xuất hiện nhiều phương thức kinh doanh mới, nhiều thực phẩm không rõ nguồn gốc được đưa vào sử dụng. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và thu nhập sau thuế của người dân ngày càng cao, Việt Nam hiện là một thị trường hấp dẫn cho các nhà sản xuất Thực phẩm *Khó khăn trong công tác tổ chức nguồn hàng nhằm phát triển thương mại Cần có giải pháp về mặt vĩ mô của nhà nước và bên doanh nghiệp, các chính sách của nhà nước và doanh nghiệp cần có sự thống nhất và ăn khớp với nhau để khắc phục những khó khăn tồn tại. Đồng thời chọn lựa nhà cung ứng, người cung ứng và dự trữ hàng hoá hợp lý thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của người dân đảm bảo kinh doanh của doanh nghiệp 2.3.3 Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp Bảng 2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của siêu thị giai đoạn 2007-2010(Đơn vị: triệu đồng) Năm 2007 2008 2009 2010 Doanh thu 25531 31614 31110 30658 Chi phí 5385 8020 4611 8309 Lợi nhuận 20145 23594 26449 22349 (nguồn: do phòng kế toán cung cấp) GVHD: ThS. Vũ Thị Hồng Phượng 20 SVTH: Phạm Thị Thanh
- Xem thêm -