Tài liệu Giải pháp tăng cường xuất khẩu gạo của việt nam

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
trancongdua

Đã đăng 1751 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU Lúa gạo là ngành sản xuất truyền thống của Việt Nam, xuất khẩu gạo chiếm vị trí quan trọng trong nền Kinh tế quốc dân, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng của đất nước vì kim ngạch xuất khẩu gạo hiện đang đứng đầu trong kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản. Sản phẩm gạo của nước ta do hàng triệu hộ nông dân sản xuất ra, là một mặt hàng có vị trí hết sức quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Từ chỗ là nước nhập khẩu gạo, Việt Nam đã vươn lên sản xuất đủ ăn, có thừa để xuất khẩu và xuất khẩu với số lượng đứng thứ hai trên thế giới. Do có những lợi thế cạnh tranh nên nhiều năm qua dù phải đối mặt với những khó khăn thách thức nhưng ngành trồng lúa của Việt Nam, hạt gạo của Việt Nam vẫn cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật; nhu cầu tiêu dùng của thị trường thế giới và thị trường trong nước đòi hỏi ngày càng cao hơn về chất lượng, tiện lợi trong tiêu dùng; sự cạnh tranh ngày càng gay gắt . Thực tế ấy đã đặt ra cho mỗi chủ thể của nền kinh tế nói chung, các chủ thể kinh doanh gạo nói riêng nếu muốn tồn tại, đứng vững và phát triển trong cuộc cạnh tranh đó phải có chiến lược cạnh tranh thích hợp; phát huy lợi thế so sánh nâng cao sức cạnh tranh… Đó là những yêu cầu bức xúc cả về lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải có lời giải đáp vừa mang tính khoa học vừa đảm bảo tính khả thi. Căn cứ vào tình hình và yêu cầu thực tiễn, việc khai thác triệt để hơn nữa những tiềm năng to lớn của đất nước trong sản xuất cũng như tìm kiếm cách thức tiếp cận thị trường, giữ vững và phát triển thị phần mặt hàng gạo có hiệu quả tối ưu luôn là vấn đề đòi hỏi sự nghiên cứu và giải quyết. Đó không chỉ là vấn đề mà xã hội đang quan tâm, là vấn đề cấp bách trước mắt mà còn là vấn đề lâu dài bảo đảm sự sống còn của ngành; là vấn đề rất lớn của nông dân, nông nghiệp, nông thôn khi hội nhập kinh tế quốc tế. Với mục đích tim hiểu những vấn đề lớn liên quan đến xuất khẩu gạo trong giai đoạn hiện nay và thử tìm một số giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu gạo Việt Nam, em đã quyết định lựa chọn chuyên đề : “Giải pháp tăng cường xuất khẩu gạo của Việt Nam” Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp được vận dụng tổng hợp là phương pháp thu thập thông tin số liệu từ các nguồn, nghiên cứu thực tiễn các doanh nhiệp và phương pháp chuyên gia là sự hướng dẫn chuyên môn của giáo viên hướng dẫn. Đây là một chuyên đề với vấn đề được đề cập tương đối rộng nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, em mong được sự góp ý của mọi người. Chuyên đề thực tập 1 Nội dung Chuyên đề thực tập được chia làm ba phần: Chương 1 : Tổng quan về hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam Chương 2 : Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian qua Chương 3 : Phương hướng và giải pháp tăng cường xuất khẩu gạo Việt Nam Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 2 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM 1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền Kinh tế quốc dân Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của nền Kinh tế quốc dân, là công cụ, phương tiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Do vậy, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò của xuất khẩu thể hiện ở các mặt sau: - Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá. Để có được một lượng vốn cho nhập khẩu có thể được hình thành từ nhiều nguồn như: liên doanh đầu tư nước ngoài với nước ta; vay nợ, viện trợ, tài trợ; hoạt động du lịch, dịch vụ; xuất khẩu hàng hoá, lao động... Nhưng vẫn quan trọng hơn cả là xuất khẩu hàng hoá. Bởi vì các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ... tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hoặc cách khác. Ngoại tệ thu được qua các hoạt động du lịch, dịch vụ hiện nay chỉ là rất nhỏ so với nhu cầu về vốn của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu lao động không ổn định đang có xu hướng giảm dần. Do vậy, nguồn ngoại tệ quan trọng nhất chi dùng cho nhập khẩu chính là từ xuất khẩu. - Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển: Việc coi thị trường và đặc biệt là thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất. Điều này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động đến sản xuất thể hiện ở chỗ: + Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi. + Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và ổn định. + Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. + Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước thông qua việc thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ từ các Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 3 nước phát triển và Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước tạo ra một năng lực sản xuất mới. + Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với mọi thị trường. + Xuất khẩu còn đòi hỏi Doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất và kinh doanh. - Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân: Việc xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua các thị trường quốc tế phải cần một lượng lớn nhân công để sản xuất và hoạt động xuất khẩu thu về một lượng ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của nhân dân. - Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta: Quan hệ kinh tế đối ngoại bao các hoạt đông giao lưu giữa các nước với nhau. Trong đó xuất khẩu là một hình thức của hoạt động kinh tế đối ngoại. Điều này làm cho hoạt động xuất khẩu cùng với các mối quan hệ kinh tế quốc tế khác làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với nền kinh tế thế giới và tham gia vào phân công lao động quốc tế. 2. Tiềm năng sản xuất lúa gạo của Việt Nam 2.1. Đặc điểm về lao động, sản xuất, đất đai, thời tiết, khí hậu của Việt Nam và khả năng cung ứng thóc gạo 2.1.1. Đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi Việt Nam là nước nông nghiệp nhiệt đới, đồng thời cũng là một nước có nghề trồng lúa nước phát triển từ lâu đời và đã đạt đỉnh cao của nền văn minh lúa nước. Người nông dân Việt Nam đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong nghề trồng lúa. Điều kiện tự nhiên nhìn chung là thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng. Nhiệt độ trung bình hàng năm 22-270C, hàng năm có khoảng 1500-2000 giờ nắng và khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình 1500-2000 mm, độ ẩm trung bình 80-87%. Trên mặt đất có 2860 con sông ngòi với 653,6 nghìn ha ao; 85 nghìn ha đầm lầy. Sự hội tụ của những yếu tố này cùng với Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 4 khoảng 21% đất nông nghiệp chiếm trong tổng diện tích đất tự nhiên bảo đảm thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp nói chung và ngành trồng lúa nói riêng. Nói về vùng lúa, đã từ lâu: Việt Nam có hai vùng châu thổ: sông Hồng và sông Cửu Long với điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai màu mỡ đã phát triển nghề trồng lúa sớm và cũng là hai vùng có sản lượng lúa lớn cung cấp cho cả nước và cho xuất khẩu. Vùng đồng bằng sông Hồng: đất đai màu mỡ, độ phì cao, với những cánh đồng bằng phẳng thích hợp cho phát triển cây lúa nước. Tuy nhiên cũng có những khó khăn nhất định. Vụ lúa chiêm xuân được bắt đầu vào mùa đông giá rét, có những lúc nhiệt độ xuống quá thấp (dưới 100C) gây khó khăn cho việc gieo mạ, cấy lúa, nhiều khi phải gieo đi gieo lại (do mạ chết rét) có những thời kỳ phải gieo mạ trên sân để tránh rét sau đó chuyển ra cấy đại trà tại ruộng. Qua mùa rét, trời sang xuân, mưa xuân đến, cây phát triển nhưng cũng là môi trường thuận lợi cho sâu bệnh phát triển. Vụ lúa mùa thường gặp bão lụt, ngập úng xảy ra đã gây nhiều khó khăn cho công tác phòng chống bảo vệ đê điều, phòng chống bão lụt hạn chế tác hại của thiên tai. Vùng đồng bằng sông Cửu Long: nhìn chung khí hậu ôn hòa hơn những vùng khác và đặc biệt là vùng duy nhất ít và không bị ảnh hưởng của bão lũ và rét. Khí hậu ở đây hình thành nên hai mùa rõ rệt: gọi là mùa nắng và mùa mưa. Mùa năng (khô) kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm. Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 270c, số giờ nắng trung bình khoảng 2500 giờ, lượng mưa trung bình khoảng 1500-2000mm. Đất đai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bằng phẳng, độ phì cao, có điểm phù sa dầy tới 70m. Quỹ đất để phát triển nông nghiệp ở vùng này rất lớn, chiếm tới 35,5% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước và nó gấp khoảng 3 lần diện tích đất nông nghiệp của vùng đồng bằng sông Hồng. Đây là vựa lúa lớn nhất của cả nước, chiếm tới 50% sản lượng. Mùa vụ trong năm liên tục kế tiếp nhau, vì thế việc sản xuất, thu hoạch chế biến cung ứng cho tiêu dùng và xuất khẩu diễn ra quanh năm. Trong tổng diện tích đất nông nghiệp ở đây điểm đáng chú ý nhất là vùng phù sa nước ngọt nằm ven và nằm giữa hai con sông lớn: Tiền Giang và Hậu Giang, với diện tích khoảng 1200 nghìn ha (chiếm 29,2% diện tích đất đồng bằng) rất thích hợp cho việc trồng cấy và phát triển cây lúa nước. Tuy đồng bằng sông Cửu Long là vùng thuận lợi và có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp nhất so với các vùng khác của cả nước, nhưng như vậy không Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 5 phải là không có những khó khăn thách thức con người. Những khó khăn đó nó đang đòi hỏi trí thông minh, lòng dũng cảm, sự cần mẫn của con người Việt Nam muốn phát triển phải chủ động khắc phục và khống chế những tác hại do nó gây ra. Hiện nay, diện tích bị nhiễm phèn mặn còn đang chiếm khoảng 60% tổng diện tích mùa lũ về, khi nước sông vượt quá lưu tốc 25.000m3/giây thì không chủ động khống chế được lũ tràn gây ra cho khoảng 25% diện tích bị ngập nước, có nơi ngập đến 4m. Khi mùa khô đến dòng chảy ở mức dưới 6.000m3/giây thì nhiều nơi khan hiếm nước ngọt và nước biển tràn vào, do sông rạch nhiều nên nước biển vào rất sâu trong đất liền, có nơi sâu tới 50km gây ra diện tích bị nhiễm mặn lớn và rất tác hại cho việc sinh trưởng của cây lúa nước. Tuy có khó khăn nhưng hai vùng đồng bằng châu thổ có những thuận lợi là cơ bản. Chúng ta hoàn toàn có khả năng, điều kiện để phát huy những thuận lợi và hạn chế những khó khăn nêu trên. Ngoài hai châu thổ trồng lúa lớn nhất cả nước như trên, Việt Nam còn có những vùng trồng lúa khác với diện tích ít hơn và nằm xen kẽ với những vùng thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp như vùng miền núi phía Bắc và Tây nguyên, vùng Trung du bán sơn địa, ven biển miền trung. Mỗi vùng đều có điều kiện tự nhiên khác nhau và cây lúa luôn được cấy trồng như một nghề truyền thống của người làm nông nghiệp. Với những điều kiện như trên, tiềm năng sản xuất lúa gạo của nước ta là rất lớn. 2.1.2. Đặc điểm về khả năng cung ứng thóc gạo Do diện tích trồng lúa có “tính giới hạn” nhất định, nên xét tổng thể trong một mùa vụ lượng thóc gạo cung ứng ra thị trường là một đại lượng xác định và nó kém co giãn đối với sự biến động của giá cả. Bởi vì: ngay sau khi thu hoạch, cùng một thời điểm, do nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và nhu cầu tiêu dùng cho cuộc sống của chính người trồng lúa đòi hỏi (mua vật tư, phân bón, giống, phục vụ chu kỳ sản xuất tiếp theo và các hàng tiêu dùng hàng ngày) buộc những người trồng lúa cùng đưa thóc, gạo ra bán, bất luận giá trên thị trường cao hay thấp, dẫn đến cung vượt quá cầu tại thời điểm đó gây ra giá thóc gạo giảm, thậm chí có thời điểm giảm thấp hơn chi phí sản xuất, người sản xuất có thể bị lỗ vốn nhưng họ không thể giữ sản phẩm của mình lại để chờ khi nào giá trên thị trường tăng lên mới đưa sản phẩm ra bán, vì nếu làm như vậy sẽ không có vốn để tiếp tục thực hiện chu kỳ sản xuất mới. Đặc điểm này càng đậm nét ở những vùng sản xuất lúa tập trung như ĐBSCl. Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 6 Điệp khúc “được mùa, rớt giá” chính là ở những thời điểm này mà người sản xuất không tự mình khắc phục được. 2.1.3. Lợi thế về nguồn nhân lực Yếu tố nhân lực không chỉ có ưu thế lớn về số lượng nhân lực mà còn có ưu thế lớn về chất lượng, về sự tinh thông, am hiểu nghề trồng lúa. Lịch sử sản xuất lúa của Việt Nam đã trải qua hơn 6000 năm kể từ thưở cộng đồng nguyên thuỷ người Việt cho đến khi ra đời nhà nước Văn Lang và cho tới nay, đã được các thế hệ đúc rút và để lại nhiều tri thức, kinh nghiệm quí báu. Kho tàng kinh nghiệm đó thực sự là một lợi thế đặc biệt, nó cho phép khai thác triệt để những lợi thế thông thường của các tài sản thiên nhiên như tài sản đất, tài sản nước, tài sản khí hậu. Tóm lại, Việt Nam có nhiều lợi thế cơ bản trong sản xuất và xuất khẩu gạo. 2.2. Đặc điểm về thị trường giá cả Xét về tổng thể cầu thóc gạo cũng kém co giãn đối với sự biến động của giá cả. Bởi vì: cho dù giá thóc gạo trên thị trường cao hay thấp, người tiêu dùng cũng chỉ sử dụng một khối lượng nhất định, không vì giá hạ tại thời điểm cung lớn hơn cầu mà họ mua quá nhiều để tiêu dùng nhiều hơn do đó càng tạo ra xu hướng ép giá hạ xuống, ngược lại, không vì quá đắt mà họ không ăn, mua ít đi đến mức không đủ duy trì sự sống. Từ khi hộ gia đình nông dân được công nhận là đơn vị kinh tế tự chủ thì thóc gạo cung ứng ra thị trường do hàng triệu hộ nông sân sản xuất tạo nên một thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Ở thị trường đó mỗi người sản xuất chỉ cung ứng ra thị trường một khối lượng thóc gạo rất nhỏ so với tổng lượng cung của xã hội, mỗi người sản xuất không thể độc quyền được về lượng cung nên họ cũng không độc quyền về giá cả mà phải chấp nhận mức giá hình thành trên thị trường; họ tham gia hay rút khỏi thị trường cũng không ảnh hưởng đến mức giá đã hình thành. Đồng thời họ cũng không có vị trí biệt lập trên thị trường bởi người mua có thể tự do lựa chọn người bán mà không cần biết người bán đó là ai, loại thóc, gạo đó sản xuất ở vùng nào. Trong lịch sử của thị trường thóc gạo đã xảy ra nhiều trường hợp giá thóc gạo giảm mạnh, gây thiệt hại cho người sản xuất; đáng chú ý nhất là năm 1989 khi cuộc giải phóng cơ chế bao cấp chuyển sang sản xuất kinh doanh thóc gạo theo cơ chế thị trường, bắt đầu tình trạng dự trữ lúa gạo “tích cốc phòng cơ” của hàng triệu hộ nông dân không còn, tình trạng găm hàng của các Doanh nghiệp kinh doanh giảm thiểu; khối lượng thóc gạo đó được đưa ra thị trường cộng với vụ mùa thu hoạch thắng lợi Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 7 tạo ra một lượng cung lớn hơn cầu, làm cho giá thóc trên thị trường giảm, giảm đến mức ngang và thấp hơn chi phí sản xuất và giá thành, người sản xuất sau khi bán sản phẩm của mình không bù đắp đủ chi phí sản xuất, người nông dân thua lỗ nặng… Bên cạnh đặc điểm trên, việc mua, bán lúa hiện nay ở vùng ĐBSCL có nhiều điểm đáng chú ý: Các Doanh nghiệp xuất khẩu chỉ tổ chức mạng lưới mua lúa trực tiếp của người sản xuất được khoảng 20%, 80% còn lại mua qua “trung gian” và lực lượng này luôn ép giá bán của người sản xuất xuống dưới giá mà các Doanh nghiệp xuất khẩu mua; vì vậy lợi nhuận của người sản xuất luôn bị giảm sút. Từ những luận giải trên cho thấy: quy luật tự điều chỉnh của thị trường luôn tác động làm dịch chuyển (thậm chí phá vỡ) cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng làm cho sản xuất không ổn định, người sản xuất không yên tâm đầu tư do giá cả không ổn định, có thể dẫn đến thua lỗ, phá sản. Trong quá trình kinh doanh người trồng lúa cũng nhận biết được điều đó nhưng dù họ cố gắng cũng không thể tự khắc phục để giảm thiểu sự tác động bất lợi của thị trường mà đỏi hỏi phải có sự can thiệp, hỗ trợ của Nhà nước. 3. Những nhân tố tác động đến xuất khẩu gạo Việt Nam 3.1. Nhóm nhân tố trực tiếp: 3.1.1. Những nhân tố tác động từ bên ngoài 3.1.1.1. Cung- cầu, giá cả gạo trên thị trường thế giới Các nước đang phát triển sản xuất khoảng 90% sản lượng lúa thế giới, tập trung chủ yếu ở châu Á với hai cường quốc đứng đầu về sản xuất lúa gạo là Trung Quốc và Ấn Độ, tiếp đến là Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản, Philippin. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo: mậu dịch gạo thế giới sẽ tăng vững với tốc độ 2,4%/năm, đạt tới 33,3 triệu tấn vào năm 2012 . Trong 10 năm tới ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới là Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam sẽ tăng xuất khẩu với tốc độ nhanh: 2,3%/năm (Thái Lan), 4%/năm (Ấn Độ) và 3,7%/năm (Việt Nam). Các nước nhập khẩu gạo được chia làm hai nhóm: nhóm các nước thường xuyên phải nhập khẩu và nhóm các nước nhập khẩu không thường xuyên. Nhóm các nước nhập khẩu thường xuyên chiếm tỷ trọng 80-90% tổng lượng gạo trao đổi trên thị trường, bao gồm các nước ở khu vực Trung Đông, Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và một vài nước châu Á. Tại châu Á, Bộ Nông nghiệp Mỹ dự báo: Indonesia sẽ là nước nhập khẩu gạo lớn nhất trong 10 năm tới với tốc độ tăng cao nhất: bình quân 7,3%/năm; kế đó là các nước ở Trung Đông như I Rắc. I Ran, Ả rập Xê út, Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 8 tăng: 2%-2,5%/năm. Nhóm các nước nhập khẩu không thường xuyên, chỉ tiến hành những thương vụ nhập khẩu nhất định khi sản xuất lúa gạo trong nước xảy ra tình trạng cung bị thiếu hụt so với cầu như Trung Quốc, Philippin… Chính nhu cầu không ổn định về nhập khẩu của những nước này là nguyên nhân gây ra những biến động về cung – cầu và sự không ổn địng của giá gạo trên thị trường thế giới. Mặt khác, vì sản xuất lúa gạo phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nếu thời tiết không thuận gây ra mất mùa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu, giá cả. Trong tình thế như vậy, gạo Vỉệt Nam lại chưa chắc chắn trên thị trường thế giới nên phải chấp nhận giá hình thành khách quan trên thị trường, đó là một thách thức rất lớn trong quá trình cạnh tranh quốc tế. 3.1.1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại  Thị trường được mở rộng, khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam được tăng cường. Hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại có đặc trưng là những “rào cản” không hợp lý sẽ bị dỡ bỏ, hàng hóa lưu thông tự do; cơ chế bảo hộ vi phạm luật pháp và thông lệ quốc tế không được áp dụng. Điều đó sẽ giúp cho Việt Nam có thêm cơ hội thâm nhập vào những thị trường lớn, ổn định và những thị trường cao cấp như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu, Singapore. Thị trường được mở rộng, đến lượt nó sẽ tác động tích cực trở lại đối với sản xuất lúa gạo trong nước về các yêu cầu nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu, đa dạng hóa các loại gạo, chất lượng gạo đáp ứng yêu cầu của từng loại thị trường. Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ cho phép tiếp cận thị trường nhiều hơn, giúp tốc độ buôn bán tăng hơn khi chưa hội nhập bởi số người tiêu dùng tăng, sức mua tăng.  Tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh và do đó làm giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông. Với lộ trình hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại đang được thực hiện, người sản xuất và kinh doanh lúa gạo có cơ hội tiếp cận được với những tín hiệu khách quan trên thị trường thế giới về: cung cầu, giá cả… giúp người sản xuất kinh doanh nắm bắt được những thách thức sống còn. Điều đó đã buộc họ phải điều chỉnh cơ cấu sản xuất, quy hoạch sản xuất ở những vùng hội tụ những điều kiện thuận lợi đối với phát triển nghề trồng lúa; cắt bỏ những diện tích ở khu vực không có lợi thế so sánh; Tăng cường đầu tư thâm canh tăng năng suất, giảm chi phí cây trồng. Những Doanh nghiệp chế biến, lưu thông lúa gạo muốn duy trì hoạt động và Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 9 phát triển buộc phải áp dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến quản lý, hợp lý hóa cơ cấu tổ chức, quy trình sản xuất kinh doanh để giảm chi phí sản xuất lưu thông tạo nên những loại gạo cạnh tranh được trên thị trường.  Nâng cao hiệu quả kinh tế: Thực hiện tự do hóa thương mại sẽ giúp cho ngành lúa gạo Việt Nam tiếp cận gần gũi hơn với nền kinh tế thế giới đang vận hành theo cơ chế thị trường. Theo đó những lợi thế so sánh của ngành trồng lúa sẽ được phát huy; việc sử dụng tài nguyên nguồn lực của đất nước sẽ gắn với nhu cầu của thế giới làm tăng hiệu quả chung của đất nước. Cùng với nó, việc xóa bỏ những rào cản thương mại bất hợp lý… sẽ làm giảm chi đầu vào quan trọng của ngành trồng lúa, làm giảm giá thành sản xuất lúa gạo, tăng hiệu quả. Tuy hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội cho ngành lúa gạo như vậy nhưng cũng chứa đựng nhiều tác động tiêu cực. Đáng chú ý là nền kinh tế thế giới và khu vực còn ẩn chứa nhiều nhân tố bất trắc; tình hình tài chính- tiền tệ, giá cả, tỷ giá còn chứa đựng nhiều nhân tố không ổn định, khó dự báo… không loại trừ khả năng tiềm ẩn xảy ra các cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính mới… Tình hình đó sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế nói chung và kinh doanh lúa gạo nói riêng. 3.1.1.3. Cạnh tranh xuất khẩu gạo trên thế giới Việt Nam tham gia thị trường xuất khẩu gạo cùng với khoảng trên 10 nước xuất khẩu gạo chủ yếu; trong đó các đối thủ cạnh tranh chính có thể kể đến là Thái Lan, Pakistan, Ấn Độ, Hoa Kỳ… Đây là những nước có số lượng xuất khẩu lớn, thị trường ổn định và chất lượng sản phẩm tốt, tính cạnh tranh cao. Không những thế một số nước (Thái Lan, Hoa Kỳ…) lại thường xuyên áp dụng những chính sách hỗ trợ đối với sản xuất lúa gạo giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường; hỗ trợ đối với xuất khẩu thông qua các giải pháp xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, khuyến khích xuất khẩu… chính vì thế những “đối thủ” này luôn là những thách thức đối với các Doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam. 3.1.2. Những nhân tố từ nội tại nền kinh tế trong nước Như đã phân tích, ngành lúa gạo của nước ta có ưu thế cạnh tranh mạnh về chi phí sản xuất lúa, tính đa mùa vụ, chi phí lao động rẻ, môi trường chính trị và môi trường cạnh tranh tốt… Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn những nhân tố tác động thuận và không thuận từ nội tại nền kinh tế. Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 10 Để phấn đấu bảo đảm ổn định sản lượng lúa 40 triệu tấn năm nhằm thực hiện chiến lược an ninh lương thực quốc gia trong điều kiện đến hết năm 2010 phải giảm 102.000ha đất lúa chuyển sang nuôi trồng thủy sản và cây trồng khác; đòi hỏi phải tăng cường đầu tư thâm canh, đầu tư để tăng năng suất và chất lượng, trồng các giống lúa mới có chất lượng cao, quy hoạch vùng chuyên canh lúa gắn với xuất khẩu gắn chế biến với tiêu thụ… chắc chắn chi phí sản xuất lúa sẽ tăng. Tuy nhiên chi phí sản xuất tăng đến mức độ nào thì còn tùy thuộc vào việc xử lý mối quan hệ tăng năng suất lao động và tăng chi phí đầu tư. Xét chung cả nền kinh tế, mức tăng trưởng trong những năm qua đạt tốc độ tăng trưởng cao. Những năm tới mục tiêu mà Đại hội IX đã đưa ra là phấn đấu đến hết năm 2010 tăng GDP lên gấp đôi năm 2000, Đại hội X nêu chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010 thì GDP bình quân đầu người khoảng 1050-2200 USD; như vậy thu nhập của các tầng lớp dân cư sẽ tăng và suy cho cùng là sức mua của các tầng lớp dân cư tăng. Sức mua tăng sẽ kích thích thay đổi cơ cấu tiêu dùng gạo chuyển từ trạng thái “no sang trạng thái ngon”, cơ cấu tiêu dùng thay đổi yêu cầu cơ cấu cây trồng phải thay đổi theo hướng sản xuất loại gạo có chất lượng, gạo đặc sản, thơm ngon, giàu dinh dưỡng… Sự chuyển dịch của sản xuất từ loại gạo thường sang loại gạo ngon để đáp ứng nhu cầu của thị trường là tốt; tuy nhiên thường những loại sản phẩm này chi phí đầu tư cao mà năng suất lại thấp tạo ra sức ép tăng giá thành, kích thích tăng giá cả làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Một loạt những yếu tố khác như: kết cấu hạ tầng kinh tế yếu kém (đường xá, cơ sở chế biến, kho tàng, các trung tâm giao dịch…); lưu thông hàng hóa còn khó khăn…Tình trạng độc quyền, liên minh độc quyền cạnh tranh không lành mạnh, kinh tế ngầm (cả đầu vào và đầu ra); các hiện tượng đầu cơ tăng giá, phá giá, ép giá, gian lận về giá chưa được kiểm soát có hiệu quả; khẳ năng điều hòa cung cầu giữa các vùng miền, các mùa vụ còn hạn chế…đã tác động lớn đến khả năng cạnh tranh của lúa gạo. Ngoài ra, các yếu tố thiên tai, mất mùa cũng sẽ làm cung cầu căng thẳng, giá cả bị “Biến dạng”. 3.2. Nhóm nhân tố gián tiếp Nhóm nhân tố gián tiếp chính là các chính sách kinh tế vĩ mô như Chính sách tài khóa, Chính sách tiền tệ, Chính sách tỷ giá, hoạt động của ngân hàng thương mại, Chính sách thương mại… Nếu chính sách tài khóa kém bền vững; chính sách tiền tệ không kích thích được sản xuất phát triển, không kiểm soát được lạm phát, chính sách tỷ giá thiếu Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 11 linh hoạt và phi thị trường… sẽ ảnh hưởng lớn thậm chí làm suy giảm khả năng cạnh tranh của ngành lúa gạo. Nếu các chính sách trên được vận hành theo chiều hướng tốt sẽ góp phần vào đảm bảo nâng cao khả năng cạnh tranh của lúa gạo. Tuy được coi là những nhân tố gián tiếp, nhưng công cuộc cải cách tài chính tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác ở nước ta trong thời gian tới ngày càng theo hướng thị trường hơn thì sức cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam sẽ chịu tác động trực tiếp hơn trước của các yếu tố tài khóa, tiền tệ, đầu tư 4. Sự cần thiết tăng cường xuất khẩu gạo Sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam có những lợi thế cơ bản như lợi thế về đất đai, khí hậu, nước tưới tiêu, nguồn nhân lực, vị trí địa lý và cảng khẩu. Chính những lợi thế đó đã làm cho sản lượng lúa tăng đều đặn trong những năm qua. Dân số nước ta với 80% dân số tập trung ở nông thôn, phần lớn sinh sống bằng sản xuất lúa gạo và trồng cây lương thực. Trong khi đó, đời sống ở nông thôn và thành thị có sự chênh lệch đáng kể. Đời sống của người nông dân còn thấp, xét cả về mức thu nhập bình quân đầu người, điều kiện vật chất và cơ sở hạ tầng v..v… Với tình trạng đó thì việc phát triển sản xuất lúa gạo và xuất khẩu gạo để nâng cao thu nhập cho nông dân góp phần xây dựng nông thôn ngày một giàu mạnh là điều thật sự cần thiết. Mục tiêu chủ yếu sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, đẩy mạnh xuất khẩu nói chung là đòi hỏi cấp bách nhằm tăng ngoại tệ, giải quyết vốn cho công nghiệp hóa. Trước tình hình đó, lúa gạo đã đột phá vươn lên để giữ vị trí mặt hàng xuất khẩu lớn của nước ta. Trong suốt 21 năm qua (1989 – 2009), riêng kim ngạch xuất khẩu gạo đã đạt trên 19 tỷ USD…Con số đó đã nói rõ sự cần thiết của việc xuất khẩu gạo đối với công cuộc đổi mới kinh tế của đất nước. Qua những điều cơ bản đã nêu ở trên, chúng ta thấy rõ sự cần thiết phải xuất khẩu gạo cũng như tính đúng đắn của định hướng xuất khẩu gạo là lẽ tất nhiên để khai thác lợi thế so sánh của ngành. Mở cửa nền kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chấp nhận cạnh tranh với những đối thủ hùng mạnh ở cả thị trường trong nước và ngoài nước . 5. Kinh nghiệm xuất khẩu gạo của nước ngoài và bài học cho Việt Nam 5.1. Kinh nghiệm của Thái Lan Thái Lan là quốc gia xuất khẩu gạo số 1 của thế giới, đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của lúa gạo, sản xuất và xuất khẩu gạo của Thái Lan có những đặc điểm nổi bật, đáng chú ý sau : Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 12  Lựa chọn cơ chế giống hợp lý, chú trọng những loại giống lúa tạo ra loại gạo có chất lượng cao phù hợp với đòi hỏi của thị trường Thái Lan đã chú trọng công tác quy hoạch đối với những vùng trồng chủ yếu các giống lúa có chất lượng cao (trong sản lượng lúa hàng năm có 50-55% là giống lúa thơm, 20-25% là giống lúa nếp, còn lại là lúa thường). Đáng chú ý là Thái Lan đầu tư nâng cấp và phát triển mạnh giống lúa Jasmine (hương nhài) lên thành loại gạo đặc sản hạt dài có hương thơm tự nhiên, lượng Protein cao. Chính vì vậy mà loại gạo này Thái Lan bán được tới 560-565 USD/tấn (FOB). Các loại lúa thường, Thái Lan cũng chú trọng áp dụng công nghệ sinh học, tiến bộ kỹ thuật trong việc xử lý giống, khắc phục những giống lúa lai tạp, tạo ra những giống lúa thuần chủng. Vì vậy, mặc dù năng suất lúa của Thái Lan thấp nhưng ngành trồng lúa của Thái Lan đã cho ra những loại gạo thường có độ đồng nhất cao, màu sắc tốt… được khách hàng ưa chuộng  Chuyển dịch mùa vụ vào thời điểm thị trường có giá cao Lúa của Thái Lan được trồng làm 2 vụ: vụ 1 thu hoạch từ tháng 11 đến hết tháng giêng năm sau; vụ 2 thu hoạch vào các tháng 5,6,7. Qua tác động của thị trường, ngành Nông nghiệp Thái Lan đã chủ động chuyển dịch mùa vụ theo hướng tăng sản lượng vụ 1 và giảm sản lượng của vụ 2. Thời điểm thu hoạch lúa vụ 1 chính là vào thời điểm thị trường có giá cao (các nước khác ít có vụ thu hoạch lúa vào thời kỳ này) nên Thái Lan xuất khẩu gạo thường được giá có lợi hơn các nước khác  Quy mô cung ứng lớn nhất trong các nước xuất khẩu gạo của Thế giới Nhiều biện pháp Thái Lan đã áp dụng như: Điều chỉnh cơ cấu sản xuất trong nước, hướng và bám theo nhu cầu của thị trường; áp dụng các biện pháp tìm kiếm thị trường có hiệu quả: thông qua đàm phán Chính phủ, thông qua hoạt động xúc tiến thương mại, giao lưu kinh tế… Chính vì vậy, gạo của Thái Lan cạnh tranh được với nhiều nước và chiếm tỷ trọng xuất khẩu gạo ra thị trường lớn nhất so với tỷ trọng của các nước cùng xuất khẩu gạo ra thị trường thế giới.  Chi phí sử dụng nguồn lực nội địa có hiệu quả, giá bán lại cao hơn các nước Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 13 Ngành nông nghiệp Thái Lan rất chú trọng áp dụng các giải pháp sử dụng nguồn lực có hiệu quả thông qua các biện pháp hạ chi phí sản xuất, chế biến, giảm giá thành gạo xuất khẩu. Tuy giá vốn gạo xuất khẩu của Thái Lan còn cao hơn của Việt Nam (225 USD/ khoảng 179 USD/tấn) nhưng thấp hơn nhiều so với giá vốn gạo của Nhật và Mỹ (225 USD/1910 USD và 314 USD/tấn). Nhưng ngược lại chi phí dịch vụ xuất khẩu tại cảng chỉ bằng 1/ 2 chi phí dịch vụ xuất khẩu tại cảng của Việt Nam; Công xuất xếp dỡ tại cảng cao gấp 6 lần chi phí bốc xếp tại cảng Việt Nam. Cùng với chi phí sản xuất chế biến thấp, do gạo của Thái Lan chất lượng tốt cộng với hoạt động thị trường có hiệu quả, gạo của Thái Lan được giá hơn gạo cùng loại của các nước. Nếu so với gạo của Việt Nam: Những năm trước, giá gạo của Thái Lan bán thường cao hơn khoảng 40-50 USD/tấn. Chú trọng đầu tư, nâng cao hiệu quả bảo quản, chế biến sau thu hoạch  Nhà nước hỗ trợ sản xuất kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng và cạnh tranh theo pháp luật Theo báo cáo của Bộ Thương mại Việt Nam, Chính phủ Thái Lan rất quan tâm đến sản phẩm lúa gạo và coi nó là một mặt hàng đặc biệt. Việc xuất khẩu tuy được tiến hành tự do, nhưng Nhà nước lập ra một ủy ban lúa gạo để hỗ trợ sản xuất kinh doanh lúa gạo. Ủy ban này có nhiệm vụ: Dự kiến mức xuất khẩu gạo trong năm lương thực căn cứ vào cân đối lương thực cả năm. Dự kiến mức giá mà Chính phủ mong muốn nông dân có thể bán được lúa của họ trong năm lương thực (giá sàn = giá thành + 20% lãi). Đồng thời thực hiện các chính sách hỗ trợ như: Chính phủ Thái Lan có luật lệ bảo hộ quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân; xây dựng các công trình thủy lợi; củng cố kết cấu hạ tầng, giống, phân bón, vốn, thông tin thị trường giá cả. Đồng thời, Thái Lan thành lập hàng ngàn vùng lúa gạo, thực hiện cho vay vốn sản xuất kinh doanh lúa gạo, áp dụng chính sách “tín dụng tồn trữ và giá cầm cố”, có nghĩa là: khi vào vụ thu hoạch, nếu giá lúa gạo xuống thấp, Chính phủ yêu cầu ngân hàng cầm cố lúa gạo cho nông dân, hay nói khác nông dân được ký gửi lúa gạo ở Ngân hàng và vay tiền của Ngân hàng để có vốn tiếp tục sản xuất. Khi giá thị trường tăng lên, nông dân đến Ngân hàng lấy lúa gạo ký gửi trước đây ra bán và hoàn lại tiền cho Ngân hàng. Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 14 Ngoài những biện pháp trên, Chính phủ còn can thiệp vào thị trường, giúp nông dân tiêu thụ lúa gạo thông qua việc đầu năm đứng ra đàm phán ký kết các hợp đồng bán gạo Chính phủ để bán gạo cho nước khác. Tìm các biện pháp hỗ trợ sự liên kết giữa nhà nông với nhà chế biến, kinh doanh. Tìm kiếm thị trường cho xuất khẩu gạo. Thu xếp các cuộc gặp gỡ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất… Không thu thuế xuất khẩu gạo. Không áp dụng chế độ quota xuất khẩu gạo hàng năm. Bộ Thương mại thực hiện việc quy định phẩm cấp từng loại gạo xuất khẩu nhằm giữ uy tín chất lượng hàng hóa và thị trường. Nếu Doanh nghiệp xuất khẩu loại gạo có tiêu chuẩn phẩm cấp khác quy định, theo yêu cầu của khách hàng thì phải xin phép Bộ Thương mại… Để tạo môi trường pháp lý cho kinh doanh gạo, Thái Lan đã ban hành Luật về buôn bán gạo năm 1946, Luật về điều tra và cấm dự trữ gạo quá mức. Nội dung cơ bản của những Luật này thực hiện quá trình phi tập trung hóa, phi điều tiết hóa và phi kiểm soát hóa; thực hiện cạnh tranh, chống độc quyền và các hình thức đầu cơ tích trữ, lũng đoạn thị trường. Cho phép thành lập Hiệp hội xuất khẩu lúa gạo giúp đưa ra những chính sách cụ thể về xuất khẩu và hướng dẫn giá xuất khẩu phù hợp với giá thị trường quốc tế. Áp dụng chính sách chống trợ giá, trong đó có chế độ điều tiết thuế ruộng. Thuế này cao hay thấp là tùy thuộc vào tình hình thị trường thế giới. Nếu giá thóc hạ do cung vượt cầu, Chính phủ nâng thuế ruộng lúa để buộc người sản xuất phải tự hạn chế diện tích lúa, chuyển sang trồng cây khác, và rút cuộc đã gạn lọc lại những người và những khu vực sản xuất lúa có hiệu quả và năng suất cao, đủ sức cạnh tranh quốc tế. 5.2. Bài học cho xuất khẩu gạo của Việt Nam  Bài học 1: Trợ cấp để bảo hộ nền nông nghiệp yếu thế của Việt Nam là cầ thiết.  Bài học 2: Cần phải có gói chính sách tổng thể hỗ trợ phát triển nông nghiệp gồm nhiều giải pháp công cụ linh hoạt trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Một hay một số nhóm chính sách đơn lẻ không phát huy tác dụng nhue mong muốn.  Bài học 3: Các chính sách trợ cấp nông nghiệp cần lưu ý tới loại hình trợ cấp và đối tượng trợ cấp và đối tượng trợ cấp phù hợp với quy định của WTO và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội. Cần quan tâm đến lợi ích của người dân sản xuất lúa gạo hơn, thực hiện cho vây vốn sản xuất kinh doanh lúa gạo.  Bài học 4: Chính sách giá sàn là chính sách thời điểm, mang tính linh hoạt trong ngắn hạn, nhưng thực sự cần thiết. Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 15 Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu ban hành chính sách giá cả nông sản, nhất là giá sàn lú gạo cần dựa vào nguyên tắc định giá sàn lúa gạo là phù hợp trong quan hệ so sánh với hàng công nghiệp, bảo đảm lợi ích của của người sản xuất nông nghiệp, giải quyết hài hòa lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng.  Bài học 5: Cần có cơ chế ấn định hệ số cân bằng giữa giá đầu vào và giá đầu ra của nông sản, lương thực khi có những chính sách bình ổn giá thị trường để bảo vệ lợi ích của nong dân và nhóm tiêu dùng nghèo trong nước.  Bài học 6: Các chính sách hỗ trợ nông nghiệp phát triển bền vững trong dài hạn phải là các chính sách quy hoạch vùng nông nghiệp, lương thực, quy hoạch đất đai, cải thiện cơ sở hạ tầng, bảo vệ đất trồng trọt, hỗ trợ, cải tiến kỹ thuật và vật tư đầu vào và các dịch vụ xúc tiến thương mại, vận chuyển lưu thông nông sản…cho nông dân  Bài học 7 : Thường xuyên áp dụng những chính sách hỗ trợ đối với sản xuất lúa gạo giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường; hỗ trợ đối với xuất khẩu thông qua các giải pháp xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, khuyến khích xuất khẩu… Cần có chính sách tổng thể hỗ trợ phát triển nông nghiệp gồm nhiều giải pháp, công cụ linh hoạt trong ngắn hạn cũng như dài hạn.  Bài học 8 : Có các biện pháp nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu, tăng giá thành sản phẩm gạo xuất khẩu, và xây dựng thương hiệu sản phẩm.  Bài học 9 : Cải tiến hệ thống kênh phân phối gạo xuất khẩu hiện nay dựa trên cơ sở hệ thống phân phối của Thái Lan. CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 16 1.1 Tình hình đầu tư và thực trạng phát triển năng lực ngành sản xuất lúa gạo 1.1.1. Quy mô Về sản xuất: Có thể coi thành công lớn nhất của đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp là đã thừa nhận kinh tế hộ gia đình; hộ nông dân được giao quyền trực tiếp sử dụng ruộng đất, được làm chủ trên những thửa ruộng, luống cầy cụ thể, tự chủ bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng sao cho có lợi nhất theo yêu cầu của thị trường. Họ cùng tham gia cung ứng lúa gạo cho thị trường, cạnh tranh với nhau ngay từ trong sản xuất để làm cho sản phẩm của mình có chi phí thấp, chất lượng tốt. Về lưu thông: Cho phép các thành phần kinh tế tự do kinh doanh, trên cơ sở tôn trọng luật pháp; các thành phần kinh tế cạnh tranh với nhau cả trong mua và bán. Từ năm 2001 đến nay, việc tổ chức xuất khẩu gạo tiếp tục được tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn nên việc xuất khẩu đã thuận lợi hơn, Nhà nước chỉ đóng vai trò là người định hướng xuất khẩu, Nhà nước giao việc xuất khẩu cho các Doanh nghiệp. Xuất khẩu gạo chính thức không cần giấy phép, quota, không quy định đầu mối; mọi thành phần kinh tế đều được tham gia xuất khẩu, không phụ thuộc vào đăng ký kinh doanh ngành hàng… trên cơ sở đó để Hiệp hội và các Doanh nghiệp bàn bạc tổ chức triển khai chủ động đấu thầu xuất khẩu gạo ở thị trường nước ngoài và để ký hợp đồng xuất khẩu. Với cơ chế như vậy nên hiện nay, theo báo cáo của Bộ Thương mại, số đơn vị tham gia xuất khẩu gạo trực tiếp đã lên tới 141 Doanh nghiệp trong đó 98 Doanh nghiệp thành viên của Vinafood đã chiếm đến 98% số lượng gạo xuất khẩu; các đơn vị ngoài Hiệp hội chỉ xuất khẩu nhỏ lẻ từ 1000 tấn trở xuống đến 1-2 tấn. Điều đó cũng thể hiện thương hiệu Vinafood ngày càng tạo được uy tín trên thương trường quốc tế. Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 17 Sơ đồ 1 : Sơ đồ kênh lưu thông lúa gạo ở Việt Nam Bán thóc hoặc gạo Hộ nông dân Chuyển Nhận Bán thóc đi xay xát gạo thành thóc hoặc phẩm gạo Lực lượng thu mua gom Cơ sở xay xát lúa gạo Các DN kinh doanh lúa gạo Bán gạo Bán gạo Bán thóc hoặc gạo Bán gạo Bán thóc hoặc gạo Thị trường nội địa Bán gạo Thị trường xuất khẩu xuất khẩu 1.1.2. Về sản lượng : Từ 1990- 2003 sản lượng lúa luôn tăng tuy không đều qua các năm, có năm tăng 2338.8 nghìn tấn (2002) có năm tăng 71.4 nghìn tấn (2003) và đặc biệt năm 2005 đã bị giảm sút 299,4 nghìn tấn so với năm 2004. Tuy nhiên năm 2006 trở đi sản lượng lại tăng liên tục, nhất là đến năm 2008 lại tăng với lượng cao. Cụ thể năm 2008 đạt 38725,1 nghìn tấn, tăng 2882,4 nghìn tấn so với năm 2007. Năm 2009 sản lượng lúa đạt 38,9 triệu tấn, tăng 116 nghìn tấn so với năm 2008. Nguyên nhân chính của việc tăng liên tục như trên là: Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 18 - Do sự nỗ lực của hàng chục triệu nông dân trong điều kiện đổi mới, người lao động làm chủ ruộng đất từ đó làm chủ tất cả các khâu trong quá trình sản xuất tiêu thụ, được đảm bảo tiết kiệm và có hiệu quả nhất. Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi xuất khẩu gạo ngày càng tăng, gạo ngày càng được giá sẽ khuyến khích trực tiếp những người nông dân tích cực sản xuất nhằm tăng thu nhập cải thiện đời sống. - Do những tiến bộ về khoa học công nghệ trong sinh học, thuỷ lợi, phân bón …đặc biệt trong lĩnh vực sinh học chẳng hạn như áp dụng các giống lúa mới vào sản xuất, làm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu mùa vụ, đẩy mạnh thâm canh, tăng nhanh sản lượng. Cùng với hàng chục triệu người nông dân trên đồng ruộng còn phải kể đến sự đóng góp không nhỏ cuả các nhà khoa học đã trực tiếp làm nên thành quả của mặt trận nông nghiệp những năm qua. 1 Bảng 1 : Sản lượng lúa cả năm phân theo địa phương 2002 2003 2004 2005 2006 Đơn vị : Nghìn tấn 2007 2008 2009 CẢ NƯỚC 34447,2 34568,8 36148,9 35832,9 35849,5 35942,7 38725,1 38927 Đồng bằng sông Hồng 6951,7 6701,5 6926,1 6398,4 6725,2 6500,7 6776,0 7374 Trung du và miền núi phía Bắc 2632,6 2749,2 2823,5 2864,6 2904,1 2891,9 2895,9 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 5335,6 5572,1 5773,0 5342,5 5951,1 5764,3 6125,9 606,6 748,1 781,4 717,3 880,4 866,3 938,4 1032 1211,1 1269,9 1277,7 1211,6 1159,5 1240,6 1307,3 1425 Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 6208 17709,6 17528,0 18567,2 19298,5 18229,2 18678,9 20681,6 21178 Nguồn : Niên giám Thống kê Việt Nam 1.1.3. Diện tích : 1 3010 Theo www.baomoi.com Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a Chuyên đề thực tập 19 Theo báo cáo quy hoạch sử dụng đất trồng lúa đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 1995 đến 2008 sản xuất lúa gạo được cải thiện đáng kể, diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượng lúa đều tăng khá. Về diện tích gieo trồng, năm 1995 đạt trên 6,7 triệu ha, năm 2009 đạt 7,38 triệu ha, tốc độ tăng bình quân đạt 0,7%/năm Bảng 2 : Diện tích và sản lượng lúa theo mùa vụ Diện tích Sản lượng Chia ra Tổng số Lúa đông xuân Lúa hè thu Chia ra Lúa mùa Nghìn ha Tổng số Lúa đông xuân Lúa hè thu Lúa mùa Nghìn tấn 1990 6042,8 2073,6 1215,7 2753,5 19225,1 7865.6 4090,5 7269,0 1995 6765,6 2421,3 1742,4 2601,9 24963,7 10736,6 6500,8 7726,3 2000 7666,3 3013,2 2292,8 2360,3 32529,5 15571,2 8625,0 8333,3 2001 7492,7 3056,9 2210,8 2225,0 32108,4 15474,4 8328,4 8305,6 2002 7504,3 3033,0 2293,7 2177,6 34447,2 16719,6 9188,7 8538,9 2003 7452,2 3022,9 2320,0 2109,3 34568,8 16822,7 9400,8 8345,3 2004 7445,3 2978,5 2366,2 2100,6 36148,9 17078,0 10430,9 8640,0 2005 7329,2 29421 35832,9 17331,6 10436,2 8065,1 2006 7324,8 2995,5 2317,4 2011,9 35849,5 17588,2 9693,9 2007 7207,4 2988,4 2203,5 2015,5 35942,7 17024,1 10140,8 8777,8 2008 7414,3 3013,1 2368,8 2032,4 38725,1 18325,5 11414,2 8985,4 2009 7382,0 3010,0 2348,8 2023,2 38927,0 18302,0 11358,8 8865,4 2349,3 2037,8 8567,4 Nguồn: Tổng cục Thống kê Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT), những năm gần đây cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đất trồng lúa ngày càng giảm do phải dành diện tích cho phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị hóa. Bộ NN&PTNT đang xây dựng Đề án Quy hoạch sử dụng đất lúa đến năm 2020, tầm nhìn 2030 với mục tiêu đất trồng lúa phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Phạm Thị Thanh Huyền Lớp : Kế hoạch 48a
- Xem thêm -