Tài liệu Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh nhno&ptnt hải hà- quảng ninh

  • Số trang: 89 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27127 tài liệu

Mô tả:

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o Trêng ®¹i häc d©n lËp ®«ng ®« KHOA TµI CHÝNH – NG¢N HµNG ---------***--------- §Ò tµi khãa luËn tèt nghiÖp GI¶I PH¸P PHßNG NGõA Vµ H¹N CHÕ RñI RO tÝn dông T¹I CHI NH¸NH NG¢N HµNG N¤NG NGHIÖP vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N H¶I Hµ - QU¶NG NINH Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Lớp Khoa : PGS.TS Nguyễn Đức Thảo : Nguyễn Thu Thùy : TC15B : Tài chính – Ngân hàng Hµ Néi - 05/2013 Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 1 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, hệ thống NHTM Việt Nam đã có những thay đổi sâu sắc, đóng góp một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế theo hướng Công nghiệp hóaHiện đại hóa. Tín dụng ngân hàng là một trong những dịch vụ truyền thống cơ bản nhất, là công cụ tài trợ vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển cân đối của các ngành, các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho NHTM. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng ngân hàng lại là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Lịch sử cho thấy chưa một ngân hàng nào có thể tránh được rủi ro tín dụng một cách hoàn toàn trong cả quá trình hoạt động. Rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ tác động tới bản thân NHTM mà còn tác động tiêu cực tới nền kinh tế. Chính vì vậy, công tác hạn chế rủi ro tín dụng luôn được các NHTM ở Việt Nam cũng như trên thới giới đặc biệt quan tâm. NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh là chi nhánh của hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam- Một trong bốn hệ thống NHTMNN lớn nhất Việt Nam trong những năm gần đây đã gặt hái được nhiều thành công , tuy nhiên do môi trường kinh doanh còn nhiều rủi ro nên ngân hàng không tránh khỏi những tổn thất, khó khăn, đặc biệt là rủi ro trong hoạt động tín dụng. Nhận thức được vấn đề này, qua thời gian thực tập tại chi nhánh NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh, cùng với kiến thức đã tích lũy ở trường và sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo PGS. TS Nguyễn Đức Thảo em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh”. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:  Hệ thống hóa kiến thức lý luận liên quan đến rủi ro tín dụng tại các NHTM.  Phân tích thực trạng công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh trong thời gian vừa qua. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 2 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô  Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng để đề xuất giải pháp và một số kiến nghị có tính chất khả thi trong công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:  Đối tượng nghiên cứu: khóa luận nghiên cứu công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh.  Phạm vi nghiên cứu: công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh giai đoạn 20102012. 4. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích,... 5. Kết cấu của khóa luận: Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận có kết cấu gồm 3 chương, cụ thể:  Chương I: Lý luận chung về rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM.  Chương II: Thực trạng công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh.  Chương III: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hải Hà- Quảng Ninh và một số kiến nghị. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 3 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM 1.1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng: 1.1.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng: Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ, tín dụng có vai trò rất quan trọng không chỉ với bản thân ngân hàng mà còn đối với nền kinh tế. Dịch vụ truyền thống này mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Mà tín dụng lại là hoạt động có nhiều rủi ro nhất. Nó có liên quan chặt chẽ tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Cho nên mỗi rủi ro trong các lĩnh vực kinh tế đều tiềm ẩn RRTD. Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về rủi ro tín dụng tùy thuộc vào chủ thể và hoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của môi trường: Trong tài liệu “Financial Institution Management - A modern Peprective”, A. Saunder và H. Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là “khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”. Còn theo Henie Van Greuing và Sonja Bratanovic: “ Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”... Tuy nhiên các quan niệm trên đều đồng nhất một nội dung rủi ro là một biến cố bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được. Vì vậy mà trong hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi. RRTD là rủi ro về sự tổn thất tài chính( trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 4 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/ 2005/ QĐ- NHNN thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Các định nghĩa về RRTD khá đa dạng nhưng tập trung lại chúng ta có thể rút ra nội dung cơ bản của tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế thông qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn trong hợp đồng tín dụng cho ngân hàng. Trong các hoạt động của mình, các NHTM luôn đặt ra mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đồng thời tối thiểu hóa rủi ro. Để làm được điều này đòi hỏi các ngân hàng phải có những giải pháp thích hợp để phòng ngừa và hạn chế RRTD. 1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng: Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: Sơ đồ 1.1: Các loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro lựa chọn Rủi ro đảm bảo Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng Rủi ro danh mục Rủi ro nghiệp vụ 5 Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô 1.1.2.1. Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều kiện trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo, điều kiện đảm bảo. - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến hoạt động quản trị cho vay như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiện cho vay và kiểm soát danh mục cho vay. 1.1.2.2. Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng và được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của người đi vay hoặc ngành kinh tế, làm cho một số doanh nghiệp và ngành có độ rủi ro cao hơn so với ngành khác. - Rủi ro tập trung: là rủi ro gặp phải khi thực hiện các khoản vay có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Nó bắt nguồn từ việc thiếu đa dạng hóa, dẫn đến mức dư nợ cho vay chỉ tập trung vào một số đối tượng khách hàng hay một số thành phần kinh tế. Nếu căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay... 1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng: 1.1.3.1. Nhân tố khách quan: - Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ cho ngân hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, mất ổn định đã làm cho các doanh nghiệp gặp rất Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 6 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh, sản xuất bị đình trệ, sức mua bị giảm sút, hàng hóa bị ứ đọng. Điều này làm cho các doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả và đã ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng. Ngoài ra, các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng. Chính phủ có thể gây khó khăn cho một số khách hàng của ngân hàng khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đã làm tăng tỷ lệ lạm phát dẫn đến giá cả các loại nguyên vật liệu đầu vào tăng, giá thành sản phẩm tăng, hàng hóa khó tiêu thụ được. Hơn nữa, việc chính phủ cho phép nhập khẩu tràn lan những mặt hàng mà ở trong nước có thể sản xuất được, từ đó làm cho hàng hóa trong nước bị cạnh tranh, chậm tiêu thụ, sản xuất bị đình trệ.... - Môi trường chính trị, xã hội: Môi trường chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển. Ngược lại, nếu doanh nghiệp luôn phải đặt ra trong tình trạng chiến tranh cấm vận kinh tế, chính trị bất ổn, tệ nạn xã hội tràn lan... đều là những nguyên nhân dẫn đến việc kìm hãm sản xuất, từ đó gây ra rủi ro đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với rủi ro tín dụng của ngân hàng nói riêng. - Môi trường pháp lý: Nếu nhà nước xây dựng một hành lang pháp lý chặt chẽ và có hiệu lực sẽ lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế với nhau cũng như giữa các tổ chức kinh tế đó với ngân hàng. Ngược lại, hệ thống pháp lý lỏng lẻo sẽ tạo ra nhiều kẽ hở, gây nên tình trạng mánh khóe, lừa đảo và gây thiệt hại lẫn nhau; từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh toán đối với ngân hàng, thậm chí trực tiếp lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng. - Môi trường quốc tế: xu hướng hội nhập nền kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay ảnh hưởng rất lớn đến kinh doanh kinh tế. Một mặt nó tạo điều kiện giao lưu kinh tế, tăng hiệu quả kinh tế xã hội đất nước, nhưng mặt khác nó lại tạo ra sức cạnh tranh khốc liệt. Nếu doanh nghiệp nào làm ăn kém hiệu quả thì lập tức sẽ bị phá sản gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Quan hệ kinh tế mở rộng ra các nước đã tạo sự ràng buộc về kinh tế, tiềm ẩn những rủi ro mang tính hệ thống. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 là một bằng chứng điển hình. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 7 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô 1.1.3.2. Nhân tố từ phía khách hàng: * Đối với nhóm khách hàng cá nhân( trong cho vay tiêu dùng): Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính vô cùng quan trọng trong trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ.... Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong cho vay tiêu dùng đó là: + Do tình trạng sức khỏe, bệnh tật, hoặc mâu thuẫn trong gia đình. + Người vay bị thất nghiệp tạm thời, hoặc lâu dài ảnh hưởng đến thu nhập. + Do người đi vay hoạch định ngân sách không chính xác, hoặc có thể do ngưòi đi vay dùng tiền vay sai mục đích, hoặc chưa có kinh nghiệm trong việc tổ chức sản xuất, quản lý kinh doanh... dẫn đến trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Trong tương lai nhu cầu vay tiêu dùng trong dân cư có khả năng tăng mạnh, do mức sống của các tầng lớp dân cư ngày càng tăng cao cả về vật chất lẫn tinh thần. Vì vậy, bản thân các ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng thích hợp để hạn chế rủi ro trong cho vay, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng. * Đối với khách hàng là doanh nghiệp: Những nguyên nhân có thể gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng là: + Doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích, hoặc sử dụng vốn vay vào việc sản xuất kinh doanh các loại mặt hàng bị pháp luật cấm. + Không đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng vốn, lãng phí, tham ô, tham nhũng. + Doanh nghiệp gặp phải các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới rủi ro cho ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh xảy ra do tính khả thi của dự án còn thấp, không khoa học, không tiếp cận được thị trường. Do chưa đánh giá được chính xác nhu cầu thị trường, hay đánh giá sai lầm về khả năng tiêu thụ của thị trường. Dẫn đến tình trạng sản phẩm tồn kho quá nhiều so với nhu cầu. Cần quam tâm đến công tác nghiên cứu thị trường, nhất là công tác Marketing doanh nghiệp. + Doanh nghiệp bị thiệt hại trên thị trường đầu vào( thị trường cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ, thiết bị công nghệ...). Do không có kế hoạch trước Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 8 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô những biến động của thị trường như tình trạng tăng giá nguyên vật liệu không thể kiểm soát, trực tiếp sẽ làm tăng giá thành sản phẩm. Nếu doanh nghiệp tăng giá sản phẩm lên thì sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm chậm lại, tình hình luân chuyển vốn chậm, ảnh hưởng tới khả năng thanh toán nợ ngân hàng của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu doanh nghiệp giữ nguyên giá hoặc không tăng giá thì sẽ làm giảm lợi nhuận và khả năng tái sản xuất của doanh nghiệp trong tương lai, thậm chí có thể bị thua lỗ. Ngoài ra, còn do chất lượng của nguyên vật liệu không đảm bảo ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, có thể làm giảm uy tín thương hiệu sản phẩm trên thị trường, làm giảm khả năng cạnh tranh. Do đó bản thân mỗi doanh nghiệp cần phải có chính sách dự trữ nguyên vật liệu để đề phòng trường hợp tăng giá gây thiệt hại cho quá trình sản xuất, nhất là đối với các doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ cao. + Do doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình sản xuất như tình hình năng suất lao động giảm sút, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ tay nghề của công nhân còn thấp kém. Do cơ cấu chi phí cố định chiếm tỷ trọng lớn, gây ra hiện tượng lãng phí ứ đọng vốn. Cũng có thể là do trình độ quản lý doanh nghiệp của ban giám đốc còn yếu, không hiệu quả, không động viên được đội ngũ nhân viên hoạt động hăng say, không có chế độ lương bổng khuyến khích, chính sách quản lý thiếu chiều sâu. + Rủi ro tín dụng cũng có thể xảy ra khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong tình hình tài chính. Do doanh nghiệp có hệ số nợ cao đó là kết quả của quá trình tăng trưởng quá nóng hoặc quá chậm, do doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài, không có biện pháp thu hồi nợ, làm hạn chế khả năng quay vòng của các khoản phải thu. Với khả năng tài chính vững mạnh, trong sạch sẽ như là cái móng vững chắc cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh và tạo dựng lòng tin đối với ngân hàng. + Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng có thể gặp rủi ro trên thị trường đầu ra. Do khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường còn thấp, chất lượng kém, mẫu mã không bắt mắt. Và áp lực cạnh tranh bắt buộc doanh nghiệp phải hạ thấp giá thành một cách đồng loạt, điều này ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp. Hơn nữa, chính sự thiếu quan tâm, đầu tư vào công tác phân tích, phán đoán, dự báo thị trường làm giảm khả năng tham gia thị Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 9 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô trường, hoặc sản xuất quá lớn so với nhu cầu, dẫn tới tình trạng ứ đọng hàng hóa, hạn chế khả năng quay vòng của hàng tồn kho. Hệ thống mạng lưới đại lý, cửa hàng tiêu thụ không được đặt đúng vùng thị trường, sản phẩm không tới được tay người tiêu dùng. + Rủi ro tín dụng còn liên quan tới đạo đức của người sử dụng vốn vay ngân hàng. Họ sử dụng với mục đích lừa đảo, chiếm đoạt vốn tín dụng của ngân hàng thông qua việc tạo ra những dự án ảo. Những trường hợp như thế hiện nay đang tồn tại rất nhiều, đòi hỏi phải nâng cao công tác thẩm định khách hàng nhằm hạn chế rủi ro. 1.1.3.3. Nhân tố từ phía ngân hàng: Ngoài những nguyên nhân xuất phát từ phía người vay, từ môi trưòng khách quan có thể gây ra tình trạng rủi ro tín dụng, còn có những nguyên nhân chủ quan từ phía các ngân hàng: + Do chính sách tín dụng của ngân hàng không phù hợp với đặc điểm, thực trạng của nền kinh tế và chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ. Một chính sách không đầy đủ đúng đắn và thống nhất sẽ tạo ra định hưóng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo kẽ hở cho người sử dụng vốn để gian lận chiếm đoạt vốn bất hợp pháp... cuối cùng là không đem lại hiệu quả kinh tế, nguy cơ rủi ro cao. + Khâu phân tích thẩm định còn yếu đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra rủi ro tín dụng. Do cán bộ tín dụng năng lực thấp, chưa được đào tạo đầy đủ, ít kinh nghiệm trong ngành nghề mà mình tài trợ, ngoài ra do vấn đề đạo đức không tốt của cán bộ thẩm định như không trung thực, thiếu trách nhiệm, cấu kết với ngưòi đi vay để chiếm đoạt vốn của ngân hàng. + Do ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ khâu bảo đảm tín dụng. Cán bộ thẩm định đánh giá sai giá trị tài sản đảm bảo, hoặc lại quá tin tưởng vào tài sản đảm bảo coi đó là “bùa hộ mệnh” cho công tác thu hồi vốn sau này, mà coi nhẹ công tác kiểm tra đôn đốc, giám sát thực hiện dự án, phòng ngừa rủi ro, không có những biện pháp kịp thời nhằm hạn chế khoản vay có thể dẫn tới nợ quá hạn. + Ngân hàng ra sức tăng mức dư nợ tín dụng mà bỏ qua hoặc hạ thấp những tiên chuẩn cho vay. Nói cách khác là ngân hàng chỉ chạy theo số lượng Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 10 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô tín dụng mà không coi trọng chất lượng tín dụng, do đó rất nguy hiểm đối với công tác tín dụng của ngân hàng. + Một yếu tố luôn ảnh hưởng tới khâu thẩm định của cán bộ tín dụng đó là chất lượng và số lượng thông tin chưa đảm bảo. Trong nhiều trường hợp ngân hàng không nắm được đầy đủ thông tin về quan hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác nên có thể phán quyết sai lầm khi cho vay. + Do ngân hàng không thực hiện tốt công tác giám sát tín dụng. Bởi trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng hạn chế, thiếu thực tế, chỉ dựa trên số liệu báo cáo của khách hàng; thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát hời hợt, chỉ mang tính hình thức, không phản ánh đúng sự thật do chịu áp lực từ cấp trên, từ chính quyền địa phương. Một hệ thống kiểm soát lỏng lẻo dễ dẫn đến tình trạng thất thoát vốn, giảm thấp hiệu quả hoạt động kinh doanh. + Ngoài các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trên, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro tín dụng do cho vay quá tập trung vào một đối tượng, một khu vực, một ngành. Có thể do công tác thiết kế sản phẩm tín dụng không phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của người vay, hoặc do vẫn còn nặng tính chất quan liêu trong hoạt động giao dich với khách hàng, hoặc có thể do cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với khách hàng, nhân hối lộ, cố tình làm sai nguyên tắc. * Nguyên nhân rủi ro tín dụng từ phía TSBĐ tín dụng: + Sự sụt giảm giá trị của TSBĐ, có thể là do biến động của tình hình giá cả thị trường. Đây là tác động mang tầm vĩ mô, mà bản thân các cán bộ thẩm định cần phải đánh giá chính xác giá trị của TSBĐ qua các thời kỳ biến động khác nhau, nếu không sẽ dẫn tới tình trạng cấp tín dụng vượt mức so với quy định an toàn trong việc cấp tín dụng. + Ngân hàng gặp rủi ro trong quá trình nắm giữ và xử lý TSBĐ. Do người vay cầm cố tài sản cho người khác, hoặc có thể do người vay cố tình gây khó khăn trong công tác phát mại TSBĐ, khiến cho ngân hàng không thể thu hồi vốn vay, ảnh hưởng đến tình hình hoạt động chung của toàn bộ ngân hàng. Khi đó rủi ro không còn trong phạm vi một khoản vay mà lan rộng ra phạm vi của cả bộ máy hoạt động kinh doanh. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 11 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô + Đối với các trường hợp đối nhân( bảo lãnh): ngân hàng có thể gặp rủi ro khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán do gặp khó khăn về vấn đề tài chính. Gây ra sự ứ đọng vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rộng hơn đó là nguy cơ rủi ro cao. + Ngoài ra còn có nguyên nhân là do sự không đồng bộ về các văn bản pháp lý có liên quan đến TSBĐ, gây khó khăn cho ngân hàng trong trường hợp phát mại TSBĐ và xử lý sự cố, qua đó hạn chế vị thế pháp lý của ngân hàng trong xử lý tài sản. 1.1.3.4. Nhân tố khác: Những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như động đất, bão lụt , hạn hán,... tác động xấu tới phương án đầu tư của khách hàng, làm cho khách hàng khó có nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó cũng gây ra rủi ro tín dụng. 1.1.4. Tác động của rủi ro tín dụng: 1.1.4.1. Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận ngân hàng: Những khoản tín dụng gặp rủi ro gây cho ngân hàng những thiệt hại về mặt tài chính khi không thu được vốn và lãi trực tiếp làm giảm lợi nhuận ngân hàng. Trong trường hợp ngân hàng thu được lãi treo hay nợ quá hạn thì cũng làm ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án khả thi, có khả năng mang lại lợi nhuận. 1.1.4.2. Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng: Rủi ro tín dụng đã khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Các khoản đầu tư, cho vay bị thất thoát hoặc chậm thu hồi trong khi ngân hàng vẫn phải đều đặn trả lãi vốn huy động theo đúng kỳ hạn. Chính điều này đã làm hạn chế khả năng thanh toán của ngân hàng. 1.1.4.3. Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng: Rủi ro tín dụng đã làm giảm uy tín của ngân hàng và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. NHTM gặp nhiều rủi ro là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả. Điều này đã làm cho uy tín của ngân hàng bị giảm sút. Đây là một vấn đề rất tệ hại, khách hàng mất lòng tin ở ngân hàng, họ sẽ không gửi tiền vào ngân hàng, thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi. Điều đó đã gây khó khăn cho việc huy động vốn của ngân hàng làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 12 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô 1.1.4.4. Rủi ro tín dụng là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng: Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng đã làm giảm sút lòng tin đặc biệt là đối với dân chúng. Họ lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở một ngân hàng khác. Trường hợp nghiêm trọng xảy ra khi có quá nhiều người đến rút tiền về dẫn đến sự phá sản thực sự của ngân hàng. Hậu quả của sự phá sản ngân hàng không chỉ bản thân ngân hàng phải gánh chịu mà nó còn liên quan đến các ngân hàng bạn có quan hệ với ngân hàng. Điều này sẽ tạo ra một phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt của các ngân hàng khác ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế hội nhập và mở cửa như hiện nay, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế của các quốc gia khác và nền kinh tế toàn cầu. Điển hình như vụ sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers ( Mỹ) vào tháng 8/ 2008 không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ mà còn làm chấn động nền kinh tế thế giới trong thời gian vừa qua; làm cho nền kinh tế các nước bị điêu đứng. Chính điều này đã kéo theo hàng loạt những hậu quả khác như: thất nghiệp, lạm phát,... Đây là những bài học thấm thía có nguồn gốc từ những rủi ro tín dụng của NHTM. 1.2. Các chỉ tiêu đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng của NHTM: Mục tiêu của hoạt động tín dụng là an toàn- hiệu quả. Tuy nhiên trong nó luôn chứa đựng nhiều khả năng xảy ra tổn thất, để xác định những khả năng này phải căn cứ vào các biểu hiện dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM bao gồm: 1.2.1. Các chỉ tiêu cơ bản dùng để đánh giá rủi ro tín dụng: a) Nợ quá hạn và Tỷ lệ nợ quá hạn: Nợ quá hạn là các khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi hoặc phí đã quá thời hạn thanh toán. Ngân hàng nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao thì rủi ro lớn hơn vì với những khoản nợ quá hạn không thu hồi được sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình khai thác và sử dụng vốn của ngân hàng, phá vỡ kế hoạch kinh doanh. Nợ quá hạn làm tăng chi phí của ngân hàng. Với một khoản tín dụng đang gặp rủi ro, ngân hàng phải tốn các chi phí giám sát xử lý tài sản đảm bảo, chi phí pháp lý. Trong khi đó các khoản nợ này không mang lại cho ngân hàng nguồn thu để trả lãi cho vốn vay, vốn huy động từ khách hàng. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 13 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô Trước đây NHTM Việt Nam lấy tỷ lệ nợ quá hạn là tiêu chí duy nhất để đánh giá rủi ro tín dụng. Mức độ rủi ro của các khoản nợ được tính theo khoảng thời gian bị quá hạn. Việc gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ được xác định là quá trình sử dụng vốn vẫn tạo ra được lợi nhuận của khách hàng. Khi khoản nợ phải chuyển quá hạn là lúc quan hệ tín dụng được ngân hàng đánh giá là có khả năng xảy ra tổn thất. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa số dư nợ quá hạn so với tổng dư nợ. Xác định theo công thức: Tỷ lệ Nợ quá hạn = × 100 Chỉ tiêu này phản ánh mức độ ứ đọng của vốn tín dụng( tỷ lệ vốn không được tái cơ cấu) dẫn đến khả năng xảy ra tổn thất. Tuy nhiên, tỷ lệ trên chỉ đánh giá mức độ RRTD của ngân hàng tại một thời điểm nhất định chứ không phải là toàn bộ quá trình hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn chỉ tính đến các khoản nợ đã quá hạn chứ chưa tính đến các khoản nợ chưa đến hạn nhưng có dấu hiệu RRTD. b) Tỷ lệ nợ xấu: Bên cạnh chỉ tiêu nợ quá hạn, người ta còn dùng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng. Nợ xấu là các khoản nợ khó đòi đã quá hạn thanh toán. Để phù hợp với thông lệ quốc tế, NHNN Việt Nam đã ban hành quyết định 493/ 2005/ QĐNHNN ngày 25/ 04/ 2005 quy định: Nợ xấu trong nợ phân loại là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên; Kể cả các khoản nợ trong hạn khi khách hàng đó có nhiều khoản nợ với NHTM bắt buộc (hoặc có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng nợ bị suy giảm) phải phân loại vào nhóm nợ xấu tương ứng với mức độ rủi ro khi có bất kỳ một khoản nợ bị chuyển vào nhóm nợ xấu; Các khoản cam kết ngoại bảng khi NHTM phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết với số ngày quá hạn được tính từ ngày NHTM thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý của NHTM. Như vậy thì biểu hiện rủi ro của các khoản nợ không chỉ được đánh giá trên thời hạn của khoản nợ mà còn được đánh giá dựa trên tính chất của nó trong thời gian tồn tại. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 14 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô Tỷ lệ nợ xấu tính trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của các NHTM. Xác định theo công thức: Tỷ lệ Nợ xấu = × 100 Tỷ lệ nợ xấu phản ánh khả năng rủi ro trong hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải có biện pháp giải quyết nếu không việc thu hồi vốn tín dụng là rất khó khăn. Bảng 1.1: Những biểu hiện của một khoản tín dụng xấu và một chính sách tín dụng kém hiệu quả Các biểu hiện của tín dụng có vấn đề Trả nợ vay không đúng kỳ hạn hoặc thất thường Thường xuyên xin sửa đổi thời hạn, gia hạn tín dụng Có hồ sơ đảo nợ( mỗi lần vay mới thì nợ gốc giảm xuống một ít) Lãi suất tín dụng cao không bình thường (để bù đắp rủi ro tín dụng) Tài khoản phải thu hay hàng tồn kho tăng không bình thường Hệ số đòn bẩy tăng Thất lạc hồ sơ (đặc biệt các báo cáo Tài chính của khách hàng) Các biểu hiện của CSTD kém hiệu quả Sự lựa chọn khách hàng không đúng với cấp độ rủi ro của họ Chính sách cho vay phụ thuộc vào những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai Cho vay trên cơ sở lời hứa của khách hàng duy trì số dư tiền gửi lớn Thiếu kế hoạch rõ ràng để thanh lý từng khoản tín dụng Tỷ lệ tín dụng cao cho khách hàng có trụ sở ngoài lãnh địa của ngân hàng Tỷ lệ cho vay nội bộ cao Có xu hướng thái quá trong cạnh tranh( cấp TD xấu để giữ chân khách hàng) Chất lượng bảo đảm tín dụng thấp Cho vay hỗ trợ các mục đích đầu cơ Tin vào đánh giá lại tài sản để tăng vốn Không nhạy cảm với sự biến đổi các điều CSH của khách hàng kiện môi trường kinh tế Thiếu báo cáo lưu chuyển tiền tệ Khách hàng dựa vào nguồn thu bất thường để trả nợ (Nguồn: FDIC, Bank Examination Policies, Washington, D. C, selected years) Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 15 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô c) Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro và khả năng bù đắp rủi ro:  Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Do đó, quỹ dự phòng rủi ro được thành lập nhằm mục đích bù đắp chi phí của ngân hàng khi xảy ra rủi ro để không làm ảnh hưởng đột biến đến chi phí của ngân hàng. Để đánh giá việc trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng, người ta sử dụng chỉ tiêu: Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD = × 100 Tại Việt Nam, việc trích lập dự phòng RRTD của ngân hàng đều theo quyết định 493/ 2005/ QĐ- NHNN và quyết định 18/ 2007/ QĐ- NHNN. Trong đó tùy vào việc phân loại nợ vào nhóm nào mà có tỷ lệ trích lập tương ứng theo nguyên tắc: thời gian quá hạn càng cao thì tỷ lệ trích lập càng lớn. Cụ thể: + Nhóm 1: 0% + Nhóm 2: 5% + Nhóm 3: 20% + Nhóm 4: 50% + Nhóm 5: 100% Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng càng lớn nghĩa là dự phòng RRTD được trích lập chiếm tỷ lệ càng cao trong tổng dư nợ, chứng tỏ chất lượng tín dụng không tốt, nguy cơ rủi ro tiềm tàng của ngân hàng càng cao do trích lập dự phòng nhiều làm tăng chi phí của ngân hàng, giảm lợi nhuận, thậm chí gây thua lỗ cho ngân hàng, tuy nhiên ngân hàng đã chủ động đề phòng RRTD có thể xảy ra. Khả năng bù đắp rủi ro tín dụng: Hệ số khả năng bù đắp các khoản cho vay bị mất = Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập/ Tổng dư nợ bị thất thoát. Hệ số này phản ánh khả năng bù đắp các khoản vay bị thất thoát từ nguồn dự phòng RRTD. Nếu duy trì hệ số này cao thì ngân hàng đảm bảo được hoạt động của mình cho dù rủi ro xảy ra song chi phí cho hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ tăng lên.Vì vậy, các nhà quản trị ngân hàng cần tính toán và duy trì hệ số này ở mức phù hợp nhằm đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời vẫn bù đắp được các khoản vay bị thất thoát. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 16 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô Hệ số khả năng bù đắp RRTD = Dự phòng RRTD được trích lập/ Nợ quá hạn => Hệ số này nói lên mức độ chủ động phòng ngừa RRTD của ngân hàng. Hệ số này càng cao, chứng tỏ theo đánh giá của bản thân ngân hàng thì rủi ro tiềm tàng lớn, nhưng ngân hàng đã chủ động phòng ngừa rủi ro. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bù đắp của ngân hàng đối với các khoản nợ rủi ro cao- mà ngân hàng đã xác định không có khả năng thu hồi, đây là chỉ tiêu quan trọng giúp ngân hàng nhận biết và duy trì khả năng chống đỡ của ngân hàng. Chỉ tiêu này đi liền với sự tồn tại của ngân hàng, do NQH khó đòi được coi như ngân hàng không có khả năng thu hồi, buộc ngân hàng phải dùng số tiền dự phòng để giải quyết, đảm bảo chi trả cho nguồn vốn mà ngân hàng đã sử dụng. Một khi ngân hàng không đảm bảo được cho điều này thì ngân hàng đó sẽ đứng trước nguy cơ phá sản. d) Mức độ tập trung tín dụng: Mức độ tập trung tín dụng là tỷ trọng cấp tín dụng của ngân hàng phân theo đối tượng khách hàng, từng nhóm khách hàng, từng ngành, từng thời hạn, từng loại tiền và từng khu vực địa lý. Mức độ tập trung tín dụng phụ thuộc vào chính sách tín dụng dựa trên quy định của NHNN, vào chiến lược mục tiêu của từng ngân hàng trong từng thời kỳ cụ thể. Thông qua nghiên cứu mức độ tập trung tín dụng, ngân hàng có thể xác định mức độ tập trung theo nhóm khách hàng cụ thể, dự đoán được rủi ro có thể gặp phải... từ đó giúp ngân hàng có những điều chỉnh cơ cấu tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng mà vẫn đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận. - Mức độ tập trung tín dụng theo ngành nghề kinh doanh: Tỷ trọng dư nợ theo ngành = Dư nợ khách hàng ngành i/ Tổng dư nợ Thông qua chỉ tiêu này sẽ biết mức độ ưu tiên, tập trung của ngân hàng vào từng ngành nghề. Song nếu duy trì tỷ trọng dư nợ của một ngành cụ thể nào quá cao sẽ tăng rủi ro cho ngân hàng, vì vậy cần duy trì một tỷ lệ phù hợp với sự biến động của nền kinh tế, của các ngành nghề ... để có cơ cấu hợp lý. - Ngoài ra còn mức độ tập trung tín dụng theo thời hạn( ngắn, trung và dài hạn), mức độ tập trung tín dụng theo loại tiền( VNĐ, ngoại tệ), mức độ tập trung tín dụng theo đối tượng khách hàng (một khách hàng, một nhóm khách hàng), mức độ tập trung tín dụng theo khu vực địa lý.... Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 17 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô e) Chỉ tiêu về đảm bảo tiền vay: Chỉ tiêu này liên quan đến RRTD. Khi cấp tín dụng, nhằm ràng buộc thêm trách nhiệm trả nợ cho khách hàng và cũng để giảm tổn thất xảy ra, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có TSBĐ tiền vay. Vì vậy TSBĐ vừa là yếu tố phản ánh RRTD vừa là biện pháp nhằm hạn chế RRTD. Tỷ lệ nợ có bảo đảm = Dư nợ có bảo đảm/ tổng dư nợ Tỷ lệ này càng cao cho thấy tính an toàn của khoản vay. Tuy nhiên khi xem xét vấn đề về TSBĐ cần xem xét thêm về chất lượng của tài sản này đồng thời xem xét cả tính phát mại của tài sản. 1.2.2. Các mô hình đo lường rủi ro tín dụng: a) Mô hình định tính- Mô hình 6C: Đối với mỗi khoản vay, câu hỏi đầu tiên của ngân hàng là liệu khách hàng có thiện chí và khả năng thanh toán khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh- 6C” của khách hàng bao gồm: - Tư cách người vay( Character): cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích xin vay của họ có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng không? Đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như từ: trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng khác, từ các cơ quan thông tin đại chúng... - Năng lực của người vay( Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, xem người vay có phải là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp hay không? - Thu nhập của người đi vay( Cashflow): Xác định nguồn trả nợ của khách hàng như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán... - Bảo đảm tiền vay( Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể trả nợ vay cho ngân hàng. - Các điều kiện( Conditions): Các ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 18 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô - Kiểm soát( Control): Tập trung vào những vấn đề này như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng đến khách hàng hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không? Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của nó là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng. b) Mô hình định lượng: Mô hình định tính đựoc xem là mô hình cổ điển để đánh giá rủi ro tín dụng. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro hiện đại là sử dụng các mô hình định lượng. Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiều nhất: - Mô hình điểm số Z: Đây là mô hình do E. I. Altman xây dựng. Mô hình này phụ thuộc vào chỉ số các yếu tố tài chính của người vay- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Mô hình được mô tả như sau: Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5 Trong đó: X1: là tỷ số “vốn lưu động ròng/ tổng tài sản” X2: là tỷ số “lợi nhuận tích lũy/ tổng tài sản” X3: là tỷ số “lợi nhuận trước thuế và lãi/ tổng tài sản” X4: là tỷ số “thị giá cổ phiếu/ giá trị ghi sổ của nợ dài hạn” X5: là tỷ số “doanh thu/ tổng tài sản” Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao. Z< 1,8: Khách hàng có khả năng rủi ro cao 1,8< Z< 3: Không xác định được Z> 3: Khách hàng không có khả năng vỡ nợ Bất kỳ công ty nào có điểm số Z< 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao. Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 19 Khoa: Tài chính ngân Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Đông Đô - Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng: Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho điểm để xử lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản... Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình này bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số ngưòi phụ thuộc, sở hữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác. Mô hình này thưòng sử dụng 7- 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1- 10. Bảng 1.2: Các hạng mục và cho điểm tín dụng STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng 1 10- 8- 7- 5- 4- 2 Nghề nghi ệp của ngườ i vaychuy ên gia hay phụ trách kinh doan hcông nhân có kinh nghi ệm( t ay Nguyễn Thu Thùy- Lớp TC15B hàng 20 Điểm số Khoa: Tài chính ngân
- Xem thêm -