Tài liệu Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh tại công ty cổ phần cơ khí 19-8

  • Số trang: 38 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 102 |
  • Lượt tải: 1
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Một vài năm trước đây, khi mà các biến động thị trường mang tính tích cực, rất nhiều cơ hội, giao dịch kinh tế được thực hiện một cách dễ dàng và có lợi thế cho các bên thì phần lớn các doanh nghiệp trong nước đều thấy mình thành công dù ở cấp độ nhiều hay ít, mà không tính đến dài hạn hay ngắn hạn. Các rủi ro khi đó giảm thiểu một cách khách quan từ thị trường và do đó bị xem nhẹ một cách đáng tiếc. Tuy nhiên khi nền kinh tế có dấu hiệu chững lại và kém lợi nhuận, bắt đầu từ lạm phát cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt đến việc khan hiếm nguồn lực tài chính, áp lực lãi suất cao và gần đây nhất là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu, các doanh nghiệp sẽ phải đương đầu với các rủi ro kinh doanh. Một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh thành công, khả năng vượt qua tình trạng khó khăn hiện nay, thậm chí khả năng tồn tại của doanh nghiệp trong nước chính là việc họ có hay không một cơ chế nhận diện, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh. Nếu làm tốt hơn thì nhiều doanh nghiệp sẽ biến những rủi ro thành cơ hội cho mình. Xét từ góc độ kinh doanh, khi đưa ra bất cứ quyết định nào, nhà quản lý tất yếu phải cân nhắc đến yếu tố rủi ro. Mức độ thành công hay thất bại của quyết định đó sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của các rủi ro liên quan và việc các rủi ro đó được kiểm soát như thế nào. Càng nhiều biến động thị trường, càng nhiều yếu tố không chắc chắn thì mối đe dọa với doanh nghiệp càng lớn. Tuy nhiên, với phương châm kinh doanh “rủi ro cao lợi nhuận lớn” thì đó được xem là những cơ hội cho những doanh nghiệp có khả năng nắm bắt và quản lý tốt các rủi ro. Với việc trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức Thương Mại Thế giới, nền kinh tế Việt Nam chính thức trở thành một mắt xích chịu ảnh hưởng nền kinh tế toàn cầu. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn trong việc chuyển giao công nghệ cũng như các vấn đề về vốn. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực không ngừng đặc biệt là trong công tác quản trị rủi ro. Những biến động của nền kinh tế như khủng hoảng, lạm phát, sự thay đổi của chính sách pháp luật, nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Điều này đều gây ra những tác động và khó khăn lớn đến tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp. Đây chính là 1 những rủi ro trước mắt mà công ty phải có những nghiên cứu sát thực và hiệu quả để đưa ra những chính sách, kế hoạch nhằm phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro do các yếu tố của nền kinh tế phát triển không ngừng hiện nay gây ra. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Vai trò của công tác quản trị rủi ro được nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, vì thế trong hai năm trở lại đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro: 1. Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro rủi ro trong kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và thương mại than Uông Bí – Luận văn tốt nghiệp – Trần Thị Thu Hương – Khoa Quản trị doanh nghiệp – Trường Đại học Thương Mại – 2011. Tác giả đã tập trung phân tích lý thuyết về rủi ro, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro và đề cập đến một số rủi ro thường gặp tại các doanh nghiệp. Từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh tại doanh nghiệp. 2. Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh tại công ty cổ phần tư vấn thiết kế và chuyển giao công nghệ Tầm Nhìn Mới – Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Tươi - Khoa Quản trị doanh nghiệp - Trường Đại học Thương Mại- 2010. Tác giả đã đưa ra một số lý thuyết về rủi ro, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty. Từ đó đề xuất một số giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh trong tương lai. 3. Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh của xí nghiệp than Khe Tam – Công ty TNHH một thành viên than Hạ Long – Luận văn tốt nghiệp – Cao Thị Thủy – Khoa Quản trị doanh nghiệp – Trường Đại học Thương Mại – 2011. Tác giả đã phân tích lý thuyết phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh và phân tích các rủi ro thường gặp trong quá trình khai thác than. Từ đó đưa ra các giải pháp để phòng ngừa những rủi ro này và kiến nghị với cơ quan chức năng. Và còn nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khác đã đóng góp cho em cơ sở lý luận về phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chưa có bài viết nào nghiên cứu về “ Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh tại công ty cổ phần cơ khí 19-8”. 3. Mục đích nghiên cứu đề tài - Hệ thống hóa các lý thuyết về rủi ro kinh doanh và quy trình quản trị rủi ro kinh doanh. 2 - Đánh giá thực trạng tình hình rủi ro kinh doanh và hoạt động ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tại công ty cổ phần cơ khí 19-8. - Từ thực trạng nghiên cứu đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh tại công ty cổ phần cơ khí 19-8. 4. Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: Đề tài nghiên cứu rủi ro kinh doanh của công ty cổ phần cơ khí 19-8 từ năm 2009- 2011 và đề xuất giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro đến năm 2015. - Về không gian: Đề tài nghiên cứu rủi ro và đề xuất giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro tại công ty cổ phần cơ khí 19-8. - Nội dung: Nghiên cứu thực trạng phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro từ môi trường kinh doanh như nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, cơ sở vật chất… của công ty, đề xuất các giải pháp để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong thời gian tới. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu a. Phương pháp thu thập dữ liệu - Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu qua các tài liệu sẵn có do công ty cung cấp như hồ sơ công ty, các bản báo cáo tài chính của công ty qua các năm 20092011, trang web của công ty. Bên cạnh đó, còn tham khảo thêm giáo trình quản trị rủi ro, các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài nghiên cứu như các luận văn trên thư viện trường Đại học Thương Mại. - Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Thu thập dữ liệu này bằng phương pháp sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn. + Các câu hỏi phỏng vấn được thiết kế cho các vị trí tổng giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng. Bảng câu hỏi phỏng vấn gồm 10 câu hỏi được đính kèm trong phần phục lục của của khóa luận. + Phiếu điều tra được phát cho 3 nhà quản trị công ty, 3 trưởng phòng và 4 phiếu cho công nhân sản xuất. Kết quả của phiếu điều tra là nguồn dữ liệu phân tích thực trạng vấn đề nghiên cứu. Cùng với việc quan sát thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty, việc sử dụng phiếu điều tra sẽ giúp thu thập được các thông tin khách quan nhất. Tổng hợp kết quả các phiếu điều tra được gửi tới các cán bộ nhân viên phòng ban và ban giám đốc sẽ là cơ sở phân tích thực trạng, tìm ra bất cập còn 3 liên quan đến đề tài, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp để giải quyết những vấn đề tồn tại ở công ty. b. Phương pháp phân tích dữ liệu * Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp - Trên cơ sở các dữ liệu sơ cấp thu thập được từ phiếu điều tra em đã tổng hợp lại theo các chỉ tiêu. Sau đó tiến hành thống kê các câu trả lời trong phiếu điều tra theo các chỉ tiêu và phương pháp trả lời rồi tính tỷ lệ phần trăm. * Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp - Phương pháp thống kê: Từ những dữ liệu thứ cấp thu thập được em đã liệt kê các dữ liệu này theo các yêu cầu nghiên cứu của đề tài. - Phương pháp so sánh: Trên cơ sở những dữ liệu thứ cấp thu thập được, em đã lập bảng so sánh các chỉ tiêu theo số tuyệt đối và số tương đối giữa các năm 2011 – 2009 để thấy được sự khác biệt giữa các năm đó. - Phương pháp phân tích: Sau khi thu thập được những dữ liệu cần thiết thì tiến hành phân tích dữ liệu đó để rút ra các rủi ro có thể gặp phải và kết quả phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của công ty cổ phần cơ khí 19-8. 6. Kết cấu đề tài Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Danh mục bảng biểu viết tắt, khóa luận được kết cấu thành ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh tại doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng về hoạt động phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh tại công ty cổ phần cơ khí 19-8. Chương 3: Đề xuất và kiến nghị giải pháp tăng cường phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh tại công ty cổ phần cơ khí 19-8. 4 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ GIẢM THIỂU RỦI RO TRONG KINH DOANH 1.1 Một số khái niệm về về rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm về rủi ro trong kinh doanh Để hiểu về rủi ro trong kinh doanh trước tiên ta cần hiểu được thế nào là rủi ro: -Rủi ro là những sự kiện bất lợi, bất ngờ đã xảy ra gây tổn thất cho con người. Rủi ro trong kinh doanh là những sự kiện khách quan bên ngoài chủ thể kinh doanh gây khó khăn trở ngại cho chủ thể trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh, tàn phá các thành quả đang có, bắt buộc các chủ thể phải chi phí nhiều hơn về nhân lực, tài lực, vật lực, thời gian trong quá trình phát triển của mình. Qua khái niệm về rủi ro trong kinh doanh, ta rút ra được một số bản chất cơ bản của rủi ro như sau: - Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định. - Khi đề cập đến rủi ro người ta thường nhắc đến hai yếu tố đặc trưng của rủi ro là biên độ rủi ro (mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra ) và tần suất xuất hiện của rủi ro (số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện/ tổng số trường hợp đồng khả năng). - Rủi ro là yếu tố khách quan, nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện và những tác hại của chúng gây ra. 1.1.2 Khái niệm về quản trị rủi ro Có nhiều khái niệm về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp, dưới đây là một vài khái niệm: - Quản trị rủi ro là toàn bộ hoạt động của nhà quản trị thông qua nhận dạng, đo lường, kiểm soát rủi ro tổn thất để đưa ra biện pháp phòng ngừa thích hợp nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. - Có quan điểm cho rằng: Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro tổn thất mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. 1.1.3 Khái niệm về phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Có nhiều quan điểm về phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro, dưới đây là một số định nghĩa: 5 Theo PGS.TS Nguyễn Quang Thu – Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh nghiệp năm 2008 – Nhà xuất bản Thống kê: “Phòng chống hạn chế rủi ro là biện pháp cơ bản chủ động tích cực nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh, duy trì sự phát triển bền vững”. Theo TS. Đoàn Thị Hồng Vân – Quản trị rủi ro và khủng hoảng – Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Phòng ngừa rủi ro là sử dụng các biện pháp để giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại”. “ Giảm thiểu rủi ro là sử dụng những biện pháp để giảm thiểu những thiệt hại, mất mát do rủi ro mang lại”. Theo TS. Nguyễn Anh Tuấn – Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại thương – Đại học kinh tế Quốc dân, nhà xuất bản Lao động xã hội: “ Giảm thiểu rủi ro là các biện pháp được sử dụng sau khi rủi ro tổn thất đã xảy ra nhằm hạn chế và ngăn chặn những thiệt hại về người và của”. Tóm lại ta có thể hiểu: - Phòng ngừa rủi ro là một trong những giải pháp của nhà quản trị khi họ chấp nhận rủi ro với một sự chuẩn bị trước để phòng ngừa và hạn chế những tác động bất lợi khi rủi ro xảy ra. Các hoạt động ngăn ngừa rủi ro là tìm cách can thiệp vào ba mắt xích của chuỗi rủi ro đó là: Mối hiểm họa, môi trường rủi ro và sự tương tác giữa mối hiểm họa và môi trường rủi ro. - Giảm thiểu rủi ro là những biện pháp giảm bớt thiệt hại, tổn thất do rủi ro gây ra. Ví dụ như cứu vớt những tài sản còn sử dụng được, chuyển giao rủi ro, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa, thực hiện các hoạt động dự phòng, phân tán rủi ro. 1.2 Nội dung phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp 1.2.1 Quy trình quản trị rủi ro và vai trò của hoạt động ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh 1.2.1.1 Quy trình quản trị rủi ro a) Nhận dạng rủi ro 6 Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định một cách liên tục và có hệ thống các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhận dạng rủi ro tập trung xem xét một số vấn đề cơ bản sau: - Mối hiểm họa: Gồm các điều kiện tạo ra hoặc làm tăng mức độ tổn thất của rủi ro. - Mối nguy hiểm: Là nguyên nhân của tổn thất. - Nguy cơ rủi ro là đối tượng chịu ảnh hưởng của rủi ro. b) Phân tích và đo lường rủi ro Phân tích và đo lường rủi ro là quá trình nghiên cứu những hiểm họa, xác định nguyên nhân gây ra những rủi ro và định hướng những tổn thất trong hoạt động kinh doanh. Các phân tích bao gồm: - Phân tích hiểm họa: Phân tích những điều kiện hay yếu tố tạo ra rủi ro hoặc những điều kiện những yếu tố làm tăng mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra. - Phân tích nguyên nhân gây ra rủi ro. - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng. Để phân tích các điều kiện, yếu tố ta sử dụng phương pháp điều tra bằng mẫu điều tra khác nhau, tùy thuộc vào từng tình huống của đối tượng rủi ro hoặc thông qua quá trình kiểm soát trước, trong và sau để phát hiện mối hiểm họa. - Phân tích những tổn thất đã xảy ra: Dựa vào sự đo lường để dự đoán những tổn thất sẽ xảy ra. - Căn cứ vào hiểm họa, nguyên nhân rủi ro người ta dự đoán những tổn thất có thể có. Phân tích rủi ro trong kinh doanh thông qua độ biến thiên của các chỉ tiêu kết quả hay hiệu quả sản xuất kinh doanh, thông qua đòn bẩy kinh doanh. Đo lường rủi ro là tính toán xác định tần suất rủi ro và biên độ rủi ro từ đó phân nhóm rủi ro. Phân tích và đo lường rủi ro gồm: - Xác định nguyên nhân. -Xác định và đo lường tổn thất có thể gặp phải. c) Phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro Rủi ro luôn đi kèm với hoạt động kinh doanh, muốn thành công trong kinh doanh không còn cách nào khác là phải chấp nhận rủi ro, biết mạo hiểm trong kinh doanh. Do vậy, sau khi đã phân tích cặn kẽ các rủi ro gặp phải trong kinh doanh nhà 7 quả trị cần đưa ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro nhằm tránh được các rủi ro xảy ra hoặc khi rủi ro đã xảy ra thì tổn thất mà nó gây ra sẽ ít nghiêm trọng hơn và chi phí liên quan sẽ giảm đi. Các hoạt động phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh tập trung vào tìm cách can thiệp vào ba mắt xích đầu tiên của chuỗi rủi ro đó là: Mối hiểm họa, môi trường rủi ro và sự tương tác. Sự can thiệp đó là: - Thay thế hoặc sửa đổi mối hiểm họa. - Thay thế và sửa đổi môi trường mới mà mối hiểm họa tồn tại. - Can thiệp và quá trình tác động lẫn nhau giữa môi trường kinh doanh và mối hiểm họa. Cụ thể hoạt động ngăn ngừa tổn thất tập trung vào mối hiểm họa. Mối hiểm họa là những điều kiện hay yếu tố tạo ra rủi ro hoặc những điều kiện, yếu tố làm tăng mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra. Để có thể can thiệp vào mối hiểm họa trước tiên ta phải nhận dạng được chúng. Sau khi đã liệt kê được các hiểm họa cụ thể là các mối hiểm họa trong kinh doanh như doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán, khả năng cung ứng của nhà cung cấp không đáp ứng đủ… doanh nghiệp cần đưa ra các hành động thích hợp cho từng mối hiểm họa. * Hoạt động ngăn ngừa và tổn thất tập trung vào môi trường nơi mà mối hiểm họa tồn tại. Hoạt động ngăn ngừa nhằm thay đổi, cải thiện môi trường rủi ro để hạn chế khả năng và mức độ rủi ro trong quá trình sản xuất hàng hóa bị lỗi hay vận chuyển hàng hóa. * Hoạt động ngăn ngừa tổn thất tập trung vào sự tương tác mối hiểm họa và môi trường rủi ro. Hoạt động này nhằm hạn chế tương tác có hại, gây ra nguy cơ rủi ro giữa môi trường rủi ro và mối hiểm họa như mối hiểm họa về phương tiện vận tải bị hỏng trong quá trình vận chuyển. Giảm thiểu rủi ro là tập hợp các biện pháp nhằm phòng ngừa ngăn chặn, đề ra các biện pháp không để rủi ro này trở thành nguyên nhân cho rủi ro tiếp theo, tránh việc tạo ra rủi ro dây truyền hoặc đưa ra các biện pháp chia nhỏ rủi ro qua hoạt động mua bảo hiểm, di chuyển rủi ro cho người khác. 8 Để giảm thiểu tác hại của những rủi ro gặp phải trong kinh doanh, doanh nghiệp có thể áp dụng các biện pháp sau: - Lập quỹ dự phòng tài chính để bù đắp thiệt hại, tránh cho doanh nghiệp bị rơi vào nguy cơ phá sản. Quỹ dự phòng tài chính lập ra nhằm bảo toàn vốn kinh doanh, trả lương cho nhân viên bù đắp khi xảy ra rủi ro, tổn thất và đáp ứng nhu cầu cần thiết. - Tham gia bảo hiểm: Bảo hiểm là một cách để giảm tính không chắc chắn của người tham gia bảo hiểm về việc có hay không xảy ra rủi ro trong công tác mua hàng, thông qua việc san sẻ rủi ro với một bên khác là bên nhận bảo hiểm. 1.2.1.2 Vai trò của hoạt động phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Môi trường kinh doanh ngày càng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong điều kiện hội nhập và phát triển kinh tế, với sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều phía, doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những rủi ro từ cả môi trường bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp. Tuân theo quy luật khách quan, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không thể tránh khỏi rủi ro. Kết quả của hoạt động kinh doanh ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời lại chịu tác động nhiều từ các rủi ro, cụ thể hơn là mức độ tổn thất mà rủi ro gây ra đối với từng hoạt động mua hàng, bán hàng, sản xuất. Nếu tổn thất nhỏ thì hiệu quả của công tác trên sẽ cao và ngược lại. Như vậy ta thấy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn từ các rủi ro và tỷ lệ nghịch với mức độ mà rủi ro gây ra. Rủi ro quá lớn có thể khiến doanh nghiệp mất khả năng trên thị trường, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng phá sản. Rủi ro xảy ra luôn kéo theo tổn thất với mức độ khác nhau. Quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao kết quả cũng như thúc đẩy nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để có thể né tránh hay giảm thiểu tổn thất do rủi ro gây ra thì doanh nghiệp cần tiến hành phòng ngừa rủi ro. Công tác phòng ngừa rủi ro nếu được thực hiện tốt sẽ giúp doanh nghiệp đối mặt với các rủi ro một cách chủ động hơn, từ đó doanh nghiệp có thể hạn chế đến mức thấp nhất thậm chí tránh được những tổn thất nặng nề, biến những thách thức, khó khăn thành cơ hội để phát triển kinh doanh. Như vậy, công tác phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro là rất quan trọng trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Nó giúp công ty phát triển bền vững, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. 1.2.2 Các rủi ro thường gặp trong kinh doanh và các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro 9 1.2.2.1 Các rủi ro thường gặp trong kinh doanh Rủi ro kinh doanh tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. Mỗi rủi ro có thể xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau, có tính chất, phạm vi ảnh hưởng và gây ra các mức độ tổn thất khác nhau. Vì vậy, rủi ro kinh doanh được phân chia như sau: * Rủi ro từ môi trường pháp luật Nếu pháp luật thay đổi quá nhiều, không ổn định thì sẽ gây ra khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi pháp luật thay đổi nếu các cá nhân hay tổ chức không nắm vững, không theo kịp những chuẩn mực mới thì sẽ gặp những rủi ro lớn như hàng bị giữ lại, bị tịch thu, không được phép thanh toán… - Những quy phạm mới như thắt chặt chính sách quản lý, tăng thuế… gây khó khăn trong việc thực hiện ký kết hợp đồng, chịu thua thiệt về mặt giá cả. - Những quy định mới về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá đối với từng quốc gia, làm cho những hàng hoá đã mua bị ứ đọng có thể không được phép bán vì sai tiêu chuẩn. * Rủi ro trong môi trường khoa học – kỹ thuật - Hàng hóa không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và an toàn cho người sử dụng, bị lỗi kỹ thuật do hệ thống máy móc của nhà cung ứng đã lỗi thời. - Xuất hiện hàng hoá cùng giá trị sử dụng nhưng chất lượng tốt hơn, giá cạnh tranh hơn của doanh nghiệp * Rủi ro từ yếu tố khách hàng: Nhu cầu khách hàng ngày một khắt khe hơn cả về chất lượng và số lượng của hàng hóa. Nhu cầu đó có thể tăng lên hay giảm xuống do môi trường kinh tế hay do chiêu bài lôi kéo của đối thủ cạnh tranh. Vì chi phí để tạo ra khách hàng mới lớn hơn nhiều so với chi phí giữ chân khách hàng cũ nên rủi ro từ mất khách hàng tiềm năng cũng như khách hàng trung thành luôn là vấn đề lớn của doanh nghiệp. * Rủi ro từ nhà cung ứng: Rủi ro từ phía nhà cung ứng cho nhiều dạng khác nhau như: + Nhà cung ứng không có đủ khả năng cung cấp lượng hàng đủ tiêu chuẩn mà doanh nghiệp cần. + Rủi ro do nhà cung cấp không đủ hàng hoặc giao hàng không đúng hẹn. + Nhà cung cấp không trung thành bị đối thủ cạnh tranh mua chuộc nên ép giá hoặc ngừng cung cấp hàng cho doanh nghiệp. * Rủi ro từ đối thủ cạnh tranh: 10 + Rủi ro do bị đối thủ cạnh tranh gây áp lực khó dễ. + Rủi ro do đối thủ cạnh tranh làm ăn không lành mạnh và có những hành động ảnh hưởng xấu tới uy tín của doanh nghiệp. + Rủi ro đối thủ cạnh tranh mua chuộc nhà cung cấp gây khó khăn cho doanh nghiệp. + Một số đối thủ cạnh tranh có tiềm lực tài chính, nguồn lực dồi dào cùng chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp tạo ra những thách thức và rủi ro hiện hữu và tiềm tàng đối với doanh nghiệp như mất thị phần, mất khách hàng, hàng hóa bị tồn kho. * Rủi ro về nhân lực: Nhân lực của công ty có thể thiếu người lao động có chuyên môn giỏi, trình độ tay nghề cao hay rủi ro từ việc người lao động nhảy việc, bỏ việc để tìm nơi làm việc khác, họ có thể đem theo bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp. * Rủi ro trong thanh toán - Rủi ro lớn nhất trong khâu này là doanh nghiệp đã trả đủ tiền hàng cho nhà cung ứng nhưng không nhận được hàng hoặc hàng bị thiếu, hỏng không đúng yêu cầu. - Rủi ro do sai sót trong quá trình tiến hành thanh toán tiền hàng nên tiền hàng không đến được tay nhà cung ứng đúng hạn ghi trong hợp đồng khiến doanh nghiệp chịu phạt do thanh toán chậm, nhà cung cấp từ chối giao hàng, giao hàng chậm. - Ngân hàng bảo lãnh của doanh nghiệp bị phá sản, doanh nghiệp không có khả năng chi trả, nhà cung cấp không cung cấp hàng cho doanh nghiệp. * Rủi ro trong vận chuyển. - Hàng hóa bị hư hại, suy giảm chất lượng trên đường vận chuyển do không được bảo quản tốt. - Do ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên như thiên tai, bão lũ nên người vận chuyển phải vứt bỏ hàng hoặc thời gian vận chuyển kéo dài hơn quy định trong hợp đồng. Những thiệt hại này đều xảy ra trong các trường hợp bất khả kháng nên không thể kiện người vận chuyển và những rủi ro đó đều thuộc về người mua phải chịu. - Do không tìm hiểu kỹ về đơn vị vận tải nên người bán hoặc người mua thuê phải những phương tiện vận tải không đảm bảo kỹ thuật, không đủ phương tiện hỗ trợ nên xảy ra tai nạn trên đường đi. 11 - Nhiều trường hợp chủ tàu cố tình gây tai nạn để hưởng tiền bảo hiểm hoặc tiền thuê tàu trả trước. - Trong phần lớn các điều kiện giao hàng theo Incomterm, trách nhiệm về hàng hóa được chuyển giao từ người bán cho người mua khi hàng được giao cho phương tiện vận tải. Do đó hầu hết tổn thất xảy ra trên đường vận chuyển đều thuộc về người mua. * Rủi ro về cơ sở vật chất kỹ thuật Máy móc thiết bị có thể lỗi thời dẫn đến hàng hóa sản xuất ra không đủ chất lượng theo yêu cầu, hay năng suất không cao bằng đối thủ dẫn đến giá cả hàng hóa không cạnh tranh bằng. Các phương tiện vận tải đã khai thác lâu năm nên ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển như không giao hàng đúng hẹn, chi phí sửa chữa nhiều. 1.2.2.2 Các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro Với nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, các doanh nghiệp cần thực hiện những biện pháp chủ yếu để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro, bao gồm: Khi tham gia mua hàng, doanh nghiệp gặp phải rủi ro đó là một tất yếu khách quan vì thương trường luôn được coi là chiến trường. Rủi ro cao thường gắn liền với các cơ hội kinh doan nhiều tiềm năng, gắn với sự cạnh tranh gay gắt, tranh dành nguồn hàng với đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp nào muốn có lợi nhuận cao thì phải chấp nhận mạo hiểm đồng thời phải biết cách ứng phó nhanh nhạy, kịp thời với khó khăn, thách thức để biến rủi ro thành cơ hội nếu có thể. Do đó các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro cần phải được tiến hành tốt để tránh được các rủi ro có thể xảy ra hoặc khi rủi ro có thể xảy ra thì tổn thất mà nó gây ra sẽ ít nghiêm trọng và các chi phí liên quan sẽ giảm đi. Nghiên cứu để tìm ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh đồng nghĩa với việc tìm ra các biện pháp, công cụ để đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp. Các hoạt động phòng ngừa rủi ro tập trung tìm cách can thiệp vào 3 mắt xích đầu tiên của chuỗi rủi ro đó là mối hiểm họa, môi trường rủi ro và sự tương tác. Cụ thể hoạt động phòng ngừa rủi ro trong công tác mua hàng như sau: *Hoạt động phòng ngừa rủi ro tâp trung vào mối hiểm họa. Mối hiểm họa là điều kiện hay yếu tố tạo ra rủi ro hoặc những điều kiện, những yếu tố làm tăng mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra. Để có thể can thiệp vào mối hiểm họa trước tiên ta phải nhận dạng được chúng. Sau khi đã liệt kê được các môi hiểm họa cụ thể trong công tác mua hàng như thiên tai, khả năng cung ứng của nhà cung cấp…doanh nghiệp cần đưa ra các hoạt động phòng ngừa thích hợp cho từng mối hiểm họa. 12 *Hoạt động phòng ngừa rủi ro tập trung vào môi trường nơi mối hiểm họa tồn tại Bao gồm các hoạt động ngăn ngừa nhằm thay đổi, cải thiện môi trường rủi ro để hạn chế khả năng và mức độ rủi ro. Ví dụ như: nếu doanh nghiệp hay gặp rủi ro trong thanh toán tiền hàng do lựa chọn phải ngân hàng phát hành L/C không uy tín, thì biện pháp phòng ngừa là lựa chọn ngân hàng có uy tín, xây dựng các hợp đồng mua bán chặt chẽ. * Hoạt động phòng ngừa rủi ro tâp trung vào mối tương tác giữa mối hiểm họa và môi trường rủi ro Hoạt động này nhằm hạn chế những tương tác có hại, gây ra nguy cơ rủi ro giữa môi trường rủi ro và môi trường hiểm họa như mối hiểm họa khi xâm nhập vào thị trường mới, doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn, bỡ ngỡ trong môi trương mới nên giải pháp là nên thông qua người thứ ba trên thị trường đó để tạo mối quan hệ với chính quyền địa phương. Để giảm thiểu tổn thất của những rủi ro gặp phải trong công tác mua hàng, doanh nghiệp thương mại thường áp dụng các biện pháp sau đây: Mua hàng của nhiều nhà cung ứng, đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro, vẫn đảm bảo được nguồn hàng khi có một nhà cung cấp nào đó bị phá sản hay nhà cung cấp chính không đáp ứng được nhu cầu về hàng hóa của doanh nghiệp, tránh tình trạng bị bất lợi trong giao dịch về giá cả, các điều kiện mua hàng. Lập quỹ dự phòng tài chính để bù đắp thiệt hại, tránh cho doanh nghiệp rơi vào nguy cơ bị phá sản, giúp bảo toàn vốn kinh doanh, trả lương cho nhân viên, bù đắp khi xảy ra rủi ro, tổn thất và đáp ứng các nhu cầu cần thiết khác. Chuyển giao rủi ro phí bảo hiểm. Trong công tác mua hàng, chuyển giao rủi ro phí bảo hiểm gồm: + Chuyển hàng mua hay các hoạt động có rủi ro cho người khác. + Loại trừ hoặc giảm thiểu trách nhiệm của người mua đối với tổn thất. - Tham gia bảo hiểm. Bảo hiểm là một sách lược để giảm tính không chắc chắn của người tham gia bảo hiểm về việc có hay không xảy ra rủi ro trong công tác mua hàng, thông qua việc san sẻ những rủi ro sang một bên khác là bên nhận bảo hiểm, người được bảo hiểm sẽ được san sẻ ít nhất một phần tổn thất phải chịu. 1.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp 1.3.1 Môi trường bên ngoài - Nhà cung cấp: Nhà cung cấp là người cung cấp nguyên vật liệu, đầu vào để cho doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đầu ra cung ứng cho khách hàng. Hiện nay 100% nguyên vật liệu được công ty cổ phần cơ khí 19-8 mua từ các nhà cung cấp Trung Quốc. Vì thế việc kiểm soát hàng hóa cũng như đánh giá nhà cung cấp cũng khó 13 khăn hơn. Duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài, tốt đẹp với các nhà cung cấp sẽ làm giảm rủi ro cho doanh nghiệp. - Nhu cầu thị trường: Hiện nay tuy nền kinh tế gặp khó khăn nhưng nhu cầu về sản phẩm phụ tùng ô tô ngày cành gia tăng vì vậy sản lượng của công ty tăng lên hàng năm. Trước nhu cầu có thể gia tăng hoặc giảm xuống nếu doanh nghiệp không dự đoán chính xác sẽ dẫn đến không sản xuất đủ số lượng yêu cầu, hay sản xuất nhiều hơn làm tồn kho gây lãnh phí cho công ty. - Đối thủ cạnh tranh: Hiện nay công ty đang có rất nhiều đối thủ cạnh tranh lớn như Công ty cổ phần cơ khí Phổ Yên – FOMECO, công ty cổ phần cơ khí An Giang… đó có thể là sự cạnh tranh về giá, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, giá mua. Sự cạnh tranh của đối thủ có thể dẫn đến rủi ro mất nhà cung cấp, mua hàng với giá cao, mua không đủ số lượng, chất lượng như dự kiến. Điều này ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng thủ đoạn để lấy mất khách hàng, ép giá sản phẩm. - Các chính sách của nhà nước: Các chính sách mà nhà nước đưa ra như các gói kích cầu, chính sách thắt chặt tiền tệ, tỷ lệ lãi suất, điều luật về xuất nhập khẩu điều ảnh hưởng đến hoạt động công ty. Để quản lý tốt hoạt động kinh doanh thì nhà lãnh đạo phải thường xuyên cập nhật, theo dõi sự thay đổi của chính sách để có hành động kịp thời. Khi nền kinh tế gặp khó khăn các chính sách tăng hay giảm thuế xuất nhập khẩu ngay lập tức tác động đến giá thành sản phẩm. 1.3.2 Môi trường bên trong - Tình hình tài chính của công ty: Trong quá trình kinh doanh, những biến động về tỷ giá, lãi suất sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu khả năng tài chính lớn thì lượng tiền dự trù cho mua kinh doanh sẽ ổn định giúp công ty luôn có được lợi thế chủ động trong việc lựa chọn nguồn hàng rủi ro mang lại thường do các nhà cung cấp ép giá, từ chối các đơn hàng hoặc mua hàng kém chất lượng. Cơ hội kinh doanh hiệu quả bị tuột mất do không đủ khả năng thanh toán. Tuy nhiên, đây là một doanh nghiệp với quy mô nhỏ và vừa, khả năng tài chính không lớn. Bên cạnh đó, là công ty cơ khí nên nguồn vốn để đầu tư cho tài sản cố định, các trang thiết bị máy móc, dây truyền sản xuất lại rất tốn kém. Vì vậy, nguồn tài chính của công ty hiện nay vẫn còn hạn chế nên việc đầu tư cho công tác phòng ngừa, trích lập qũy dự phòng rủi ro cũng còn hạn chế. 14 - Đội ngũ nhân viên của công ty: Nhân sự là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và sự thành công của doanh nghiệp. Đây cũng là yếu tố đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp so với đối thủ. + Đội ngũ công nhân có tay nghề cao cũng như ý thức tốt sẽ làm giảm rủi ro hơn. Tuy nhiên vẫn còn có bộ phận công nhân mới vào nghề tay nghề còn non nên dẫn đến một vài sơ xuất khi sản xuất. + Để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh thì vai trò của đội ngũ nhân viên trong quá trình kinh doanh là rất lớn đội ngũ nhân viên cần có sự hiểu biết sâu rộng về hàng hóa, tìm hiểu về thị trường và có trình độ chuyên môn cao. + Đội ngũ cán bộ nhân viên kinh doanh có kiến thức cao, nắm bắt thành thạo quá trình bán hàng. Nhưng không tránh khỏi những nhân viên còn thiếu kinh nghiệm, thiếu sót trong quá trình mua hàng. + Rủi ro do đội ngũ nhân viên kinh doanh thường gặp phải là xác định sai nhu cầu, đánh giá sai chất lượng nguồn hàng, khả năng giao tiếp kém khiến công ty bị ép giá, giảm thời gian thanh toán, mất khách hàng... Vì vậy công ty nên bồi dưỡng, đào tạo nhân viên kinh doanh nhằm nâng cao trình độ để phòng ngừa và giảm thiểu tối đa rủi ro gặp phải. - Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật: Bao gồm hệ thống phương tiện vận chuyển, nhà kho bến bãi. Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quản trị rủi ro trong vận chuyển hàng hóa. Hiện nay công ty đã có hệ thống phương tiện vận chuyển nhưng quy mô còn nhỏ, chất lượng không cao. Khi mua nguyên vật liệu thì công ty phải thuê phương tiện vận tải để chuyên chở. Vì vậy, trong quá trình vận chuyển doanh nghiệp phải đối mặt với những rủi ro như công ty vận chuyển không uy tín, hàng hóa bị hỏng, giảm chất lượng hàng hóa, thuê với giá cao. + Hệ thống nhà kho còn hẹp nên số lượng dự trữ hàng hóa ít. Trong tương lai công ty có kế hoạch đầu tư mua sắm, đầu tư xây dựng hệ thống kho bãi hiện đại vừa đảm bảo cho sự an toàn hàng hóa và phòng ngừa và giảm thểu rủi ro có thể xảy ra. - Năng lực quản lý của ban lãnh đạo: Đó là khả năng quản lý, đề ra chiến lược, tầm nhìn cho doanh nghiệp đưa doanh nghiệp đi lên. Hiện nay ban lãnh đạo công ty vẫn chưa chú trọng công tác phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh, phần lớn là đưa ra các giải pháp khi rủi ro đã xảy ra chứ chưa coi trọng phòng ngừa những rủi ro tiềm ẩn. 15 CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA VÀ GIẢM THIỂU RỦI RO TRONG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ 19-8 2.1 Khái quát về doanh nghiệp 2.1.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần cơ khí 19-8 a) Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần cơ khí 19-8 Công ty cổ phần cơ khí 19/8 Địa chỉ: Minh Trí – Sóc Sơn – Hà Nội Chủ tịch, tổng giám đốc: Trần Tuấn Anh Điện thoại: 04.35995039 Webside: www.cokhi19-8.com.vn Email: cokhi19-8@fpt.vn Công ty cổ phần cơ khí 19/8 được thành lập ngày 06- 06 – 1979 theo quyết định số 137 CL/TC của bộ cơ khí luyện kim, với tên gọi ban đầu là “Nhà máy đại tu ô tô Kim Anh”sự ra đời của nhà máy chính là sự hợp tác giữa hai chính phủ Việt Nam và Liên Xô cũ truớc đây. Công suất sửa chữa dự kiến ban đầu là khảng 1000 xe 1 năm. Năm 1983 nhà máy đổi tên là: “Nhà máy ô tô số 7” và chuyển sang cục vận tải ô tô trực thuộc bộ Giao Thông Vận Tải. Năm 1993 theo quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước nhà máy đổi tên là: “Nhà máy Cơ khí Giao Thông Vận Tải 19/8” thuộc liên hiệp cơ khí giao thông vận tải với nhiệm vụ là sản xuất phụ tùng ô tô và phụ kiện đường sắt. Năm 1996 theo quyết định số 1645 QD/TCCB – LĐ ngày 15-6-1996 của bộ Giao Thông Vận Tải chuyển đổi công ty cơ khí 19/8 thành: “Công ty cơ khí 19/8”. Ngày 09/12/2004 theo nghị quyết số 3808/QĐ-BGTVT đã chuyển đổi Công ty cơ khí 19-8 thành “Công ty cổ phần cơ khí 19-8”. Khi bắt đầu hoạt động theo hình thức cổ phần, trước những khó khăn chung của ngành cơ khí cũng như của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam cán bộ công nhân viên trong toàn công ty đã đoàn kết, thi đua vượt mọi khó khăn hoàn thành tốt mục tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảm bảo đời sống ổn định và phát triển mọi mặt cho người lao động. 16 b) Cơ cấu tổ chức của công ty GIÁM ĐỐC PGĐ.Kinh doanh PGĐ.KT Sản xuất P.Tổ chức hành chính PX.Tạo phôi P.Kế hoạch P.TC.Kế toán PX.Cơ khí P.Kĩ thuật PX.Nhiệt luyện.HC P.Kinh doanh trực tiếp ( nguồn: Phòng tổ chức hành chính) Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức của công ty Chức năng nhiệm vụ các phòng ban: Giám đốc: Là người đứng đầu bộ máy quản lý tình hình sản xuất kinh doanh chung của Công ty và trực tiếp chỉ đạo phòng kế toán- tài vụ. Giám đốc công ty do Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm và miễn nhiệm sau khi đã tham khảo ý kiến của tập thể 17 CBCNV trong công ty. Giám đốc công ty có quyền quyết định tổ chức bộ máy quản lý của công ty sao cho phù hợp và đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao. Phó giám đốc kĩ thuật sản xuất: Là người giúp việc đắc lực cho giám đốc và được giám đốc uỷ quyền chỉ đạo mọi hoạt động của phòng kế hoạch vật tư và phòng kỹ thuật đảm bảo cho quá trình sản xuất từ khâu chuẩn bị sản xuất đến khâu sản xuất rồi kiểm tra về mặt chất lượng, số lượng sản phẩm đồng thời là người được uỷ quyền khi giám đốc đi vắng. Phó giám đốc kinh doanh: Là người chỉ đạo phòng tổ chức hành chính, phòng kế hoạch tài vụ và phòng kinh doanh và cũng là người được ủy quyền khi giám đốc đi vắng. Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho giám đốc về các mặt công tác tổ chức cán bộ và nhân sự công tác lao động tiền lương, tổ chức các phong trào thi đua khen thưởng kỷ luật, công tác bảo vệ, tự vệ. Phòng kế hoạch: Tham mưu cho giám đốc trong công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh cung ứng nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất kinh doanh toàn công ty, quản lý kho tàng, phương tiện vận tải, bốc xếp. - Xây dựng kế hoạch về tổng hợp về sản xuất kinh doanh của công ty. - Xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư. - Phân bổ và lập kế hoạch hàng tháng, quý, năm để giám đốc ra quyết định điều hành trong tổ chức sản xuất. - Lập và triển khai kế hoạch cung ứng vật tư gia công thiết bị phụ tùng thay thế phục vụ quá trình sản xuất của công ty luôn ổn định. - Kết hợp với phòng tài vụ tính toán giá thành sản phẩm sao cho hợp lý. - Soạn thảo các nội dung ký kết các hợp đồng kinh tế trong các lĩnh vực cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm và theo dõi việc thực hiện, thanh lý hợp đồng cung ứng và tiêu thụ đã ký kết. - Quản lý vật tư kho tàng phương tiện vận tải. - Cấp phát vật tư trang bị dụng cụ sản xuất thu hồi phế liệu, thanh lý tài sản, thiết bị sản xuất lạc hậu không phù hợp. Làm nhiệm vụ trên cơ sở đơn đặt hàng từ phòng kinh doanh lập kế hoạch sản xuất theo hợp đồng để cung ứng vật tư đầy đủ cho sản xuất đảm bảo cho sản xuất thường xuyên liên tục. 18 Phòng tài chính kế toán: Tham mưu cho giám đốc và giúp giám đốc quản lý các mặt kế toán, thống kê tài chính trong toàn công ty. - Phòng kỹ thuật: Tham mưu cho giám đốc trong công tác quản lý kỹ thuật, quy trình công nghệ sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm, chất lượng nguyên vật liệu đưa vào sản xuất. - Phòng kinh doanh trực tiếp: Làm nhiệm vụ tiếp xúc, chăm sóc khách hàng, tiếp nhận các hợp đồng sản xuất xác định các kế hoạch về vốn. 2.1.2 Tổng quan tình hình kinh doanh của công ty cổ phần cơ khí 19-8 Dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng nhìn chung doanh thu của công ty vẫn tăng lên cụ thể như sau: - Về doanh thu: Doanh thu của công ty năm 2009 đạt khoảng 20,1 tỷ đồng. Doanh thu năm 2010 lớn hơn doanh thu năm 2009 là 5,165 tỷ đồng, mức độ tăng trưởng về doanh thu đạt 25,7%. Doanh thu năm 2011 đạt 33,16 tỷ đồng lớn hơn doanh thu năm 2010 là 7,88 tỷ đồng tương ứng với 31,2%. - Về chi phí: Chịu ảnh hưởng của lạm phát và lãi vay ngân hàng tăng cao nên chi phí về tài chính cũng như chi phí về lãi vay ngân hàng tăng lên. Chi phí tài chính năm 2010 lớn hơn chi phí tài chính năm 2009 là 148.44 triệu đồng tương ứng tăng 52,4%. Chi phí tài chính năm 2011 lớn hơn năm 2010 khoảng 130,29 triệu đồng tương ứng tăng 30,1%. Tốc độ tăng của chi phí tài chính trong đó có chi phí lãi vay đã giảm xuống so với năm trước là do chính sách thắt chặt tiền tệ của nhà nước. - Về lợi nhuận: Cùng với tốc độ tăng trưởng của doanh thu, mức tăng lợi nhuận của công ty thu được qua các năm cũng có sự tăng trưởng cao. Cụ thể, năm 2010 lợi nhuận sau thuế của công ty tăng 857,6 triệu đồng so với năm 2009 đạt mức tăng 43,3%. Năm 2011 tăng 1,027 tỷ đồng so với năm 2010, đạt mức tăng 36,2%. Nhận xét chung: Cũng như các doanh nghiệp khác thì công ty cũng chịu nhiều tác động của nền kinh tế Việt Nam sau khủng hoảng kinh tế thế giới. Nhưng với sự hỗ trợ của nhà nước cùng với sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên toàn công ty nên công ty cổ phần cơ khí 19-8 vẫn đạt được tốc độ phát triển ổn định. 19 2.2 Phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro và công tác phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh của công ty cổ phần cơ khí 19-8 2.2.1 Các rủi ro thường gặp trong kinh doanh của công ty cổ phần cơ khí 19-8 Qua kết quả điều tra từ nhà quản trị và nhân viên trong công ty cho thấy các rủi ro thường gặp trong công ty như sau: * Rủi ro từ nhà cung cấp nguyên vật liệu - Rủi ro do nhà cung cấp cung cấp nguyên vật liệu không đủ chất lượng cũng như số lượng theo hợp đồng. - Rủi ro do nhà cung cấp giao hàng không đúng hẹn hay ép giá, bán giá cao hơn. * Rủi ro từ đối thủ cạnh tranh. - Đối mặt nhiều với nhiều đối thủ cạnh tranh có thương hiệu mạnh hơn. - Đối thủ có đầy đủ mặt hàng và chủng loại sản phẩm hơn. - Đối thủ đưa ra giá thấp hơn hay các chính sách ưu đãi cho khách hàng cao hơn. * Rủi ro trong quá trình sản xuất - Trong khi sản xuất thường xảy ra tai nạn lao động như công nhân bị thương do bất cẩn khi sử dụng máy móc. - Hay tỷ lệ sản phẩm lỗi cao. * Rủi ro từ khách hàng Nhu cầu khách hàng ngày càng cao đặc biệt khi công ty mở rộng thị trường ra nước ngoài phải đối mặt nhiều rủi ro hơn: - Rủi ro khách hàng vi phạm hợp đồng - Rủi ro tìm hiểu thông tin về khách hàng nước ngoài không tin cậy. * Rủi ro trong thanh toán - Doanh nghiệp thanh toán tiền hàng chậm, nhà cung cấp không giao hàng đúng hẹn, hoặc giao hàng muộn, doanh nghiệp bị phạt do thanh toán chậm. - Sơ suất của nhân viên mà thanh toán tiền hàng nhầm cho nhà cung ứng, làm mất uy tín của doanh nghiệp do giá cả của các nhà cung cấp là khác nhau. - Không chỉ thanh toán với nhà cung cấp, mà trong quá trình thu tiền từ khách hàng cũng gặp nhiều khó khăn do công ty không có một chính sách công nợ rõ ràng. 20
- Xem thêm -