Tài liệu Giải pháp phát triển thị trường giao sau gạo của việt nam

  • Số trang: 132 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam, giá trị kim ngạch xuất khẩu từ sản phẩm gạo chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, nhưng trong thời gian vừa qua giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới luôn biến động thất thường, điều này ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo và ảnh hưởng lớn nhất là đến những người sản xuất lúa gạo của Việt Nam. Hiện nay các doanh nghiệp, thậm chí cả người nông dân sản xuất nông sản, trong đó có sản xuất lúa gạo ở các nước phát triển đã sử dụng các hình thức giao dịch của thị trường giao sau như là một công cụ để phòng ngừa rủi ro biến động giá nông sản. Nhưng hình thức giao dịch này hiện nay rất ít các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam áp dụng. Đề tài này nghiên cứu về thị trường giao sau và cách thức sử dụng hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam. Phân tích sự biến động đối với giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua, phân tích thực trạng việc sử dụng các hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam, xác định các nguyên nhân và từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường giao sau gạo của Việt Nam. 2. Mục tiêu của đề tài Luận giải cơ sở khoa học về thị trường giao sau và cách thức sử dụng các hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu. Nghiên cứu sự biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua, từ đó đưa ra kết luận có cần thiết phải phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam hay không? Và cách thức, công cụ để phòng ngừa rủi ro này? Nghiên cứu thực trạng việc áp dụng các hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. 2 Đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường giao sau gạo của Việt Nam. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Thị trường giao sau, việc áp dụng các hợp đồng giao sau của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam. Trên thực tế, khi tham gia vào thị trường giao sau gạo mỗi người kinh doanh sẽ có mục đích riêng của mình. Có người tham gia vào thị trường giao sau với mục đích đầu cơ để kiếm lời, có người tham gia vào thị trường giao sau với mục đích phòng ngừa rủi ro. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu việc áp dụng hợp đồng giao sau với mục đích phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo. Về không gian: Đề tài nghiên cứu việc áp dụng hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo, trong đó tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp có xuất khẩu gạo của Việt Nam hoạt động trên phạm vi cả nước. Nhưng mẫu điều tra mang tính đại diện, chúng tôi xin được giới hạn mẫu điều tra mang tính đại diện chỉ tập trung điều tra các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số Tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu việc biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam và việc các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo sử dụng hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu của Việt Nam từ năm 1989 đến nay và xu hướng trong tương lai. Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu về thị trường giao sau và việc ứng dụng hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài 4.1. Chọn địa điểm nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu phải đại diện cho các tỉnh, thành phố nơi có các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận hợp đồng giao sau thuận lợi nhất, nơi có các doanh nghiệp tại các vùng sản xuất lúa gạo lớn. Với lý do đó, chúng tôi chọn mẫu điều tra là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số Tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. 3 4.2. Thu thập số liệu, thông tin cần thiết Điều tra sơ cấp, từ các doanh nghiệp mà chúng tôi chọn làm mẫu điều tra, để thu thập các thông tin liên quan đến tác động của biến động giá gạo xuất khẩu đến thu nhập của doanh nghiệp, việc sử dụng các hợp đồng giao sau trong lĩnh vực xuất khẩu gạo tại các doanh nghiệp. Các số liệu thứ cấp được thu thập từ nguồn số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trên mạng internet. 4.3. Các phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn - Phương pháp thống kê mô tả - Phương pháp chuyên gia - Phương pháp phân tích 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Đề tài khẳng định các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam có thể sử dụng các các hợp đồng giao sau như là một công cụ trong phòng ngừa rủi ro biến động giá nông sản; đề xuất các giải pháp phát triển thị trường giao sau gạo của Việt Nam. Với những nội dung nghiên cứu của đề tài này chúng tôi hy vọng kết qủa nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lyù Nhà nước trong việc xây dựng chính sách liên quan đến phát triển thị trường giao sau gạo. Đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam muốn sử dụng các hợp đồng giao sau trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, kết cấu của đề tài gồm 03 chương: 4 Chƣơng 1: Khung lyù thuyết về thị trường giao sau, chúng tôi đề cập đến lý thuyết về thị trường giao sau, các chiến lược có thể sử dụng để phòng ngừa rủi ro biến động giá. Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu gạo và việc sử dụng hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam. Trong phần này chúng tôi phân tích sự biến động của giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua. Phân tích thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam, thực tế việc áp dụng hợp đồng giao sau của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam trong phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu. Xác định nguyên nhân các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lúa gạo của Việt Nam chưa sử dụng các hình thức giao dịch của thị trường giao sau như là một công cụ để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo. chƣơng 3: Đề xuất các giải pháp phát triển thị trường giao sau gạo của Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƢỜNG GIAO SAU 1.1. Một số khái niệm về hợp đồng và thị trƣờng 1.1.1. Khái niệm về hợp đồng giao ngay Hợp đồng giao ngay là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa mà việc chuyển giao hàng hóa được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là hai hoặc ba ngày làm việc kể từ khi hợp đồng mua bán được ký kết. 1.1.2. Khái niệm về hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa mà việc chuyển giao hàng hóa được thực hiện sau một thời hạn nhất định với giá cả đã đồng ý ngày hôm nay. 1.1.3. Khái niệm về hợp đồng giao sau Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa đã biết theo một mức giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao hàng hóa được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi Sở giao dịch giao sau. 1.1.4. Khái niệm về thị trường giao sau Thị trường giao sau là thị trường giao dịch các hợp đồng mua bán giao sau. 1.2. So sánh sự khác nhau giữa hợp đồng kỳ hạn/giao ngay và hợp đồng giao sau HỢP ĐỒNG KỲ HẠN/GIAO NGAY HỢP ĐỒNG GIAO SAU - Người mua và người bán giao dịch - Giao dịch trên thị trường có tổ chức, trên cơ sở thỏa thuận cá nhân tuân theo những quy tắc và luật lệ - Các điều khoản hợp đồng có thể - Các điều kiện hợp đồng được chuẩn thương lượng được hoá - Rất khó hủy bỏ hợp đồng - Các trạng thái có thể thanh lý dễ dàng - Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên cơ - Định giá theo giá thị trường sở tín nhiệm - Có rủi ro đối tác - Hợp đồng được Sở giao dịch bảo đảm 6 1.3. Mục đích của ngƣời kinh doanh khi tham gia vào thị trƣờng giao sau 1.3.1. Phòng ngừa rủi ro biến động giá: Những người tham gia vào thị trường giao sau với mục đích phòng ngừa rủi ro biến động giá có mong muốn mua hoặc bán hàng hoá thực, nhưng lo lắng về việc giá hàng hoá sẽ thay đổi trước khi mua hoặc bán hàng hoá đó trên thị trường. Như vậy tham gia thị trường giao sau để đạt được sự bảo vệ đối với thay đổi giá cả thông qua mua hoặc bán các hợp đồng giao sau của cùng loại và cùng số lượng hàng hoá để triệt tiêu rủi ro giá cả. 1.3.2. Đầu cơ để kiếm lời Những người tham gia vào thị trường giao sau với mục đích đầu cơ để kiếm lời cố gắng kiếm lợi nhuận từ việc mua hoặc bán các hợp đồng giao sau bằng việc dự đoán biến động giá cả trong tương lai. Khi tham gia thị trường giao sau với tư cách là nhà đầu cơ, nhà đầu cơ chấp nhận rủi ro giá cả và làm tăng thanh khoản của thị trường giao sau. 1.4. Mối quan hệ giữa thị trƣờng giao sau và giao ngay 1.4.1. Đặc tính của hợp đồng giao sau Giá thị trường hình thành công khai và minh bạch: Khi các thông tin về nguồn cung cầu xuất hiện, người mua và bán sẽ đưa các thông tin này vào trong thị trường. Khi người mua và người bán đạt đến thỏa thuận thì một giao dịch được thực hiện và giá thị trường được công bố. Giá cả được hình thành thông qua hệ thống đấu giá công khai như thế chính là biểu hiện cụ thể của cơ chế giá được hình thành do các tác động của lực cung và cầu. Thay đổi trong giá giao sau mỗi ngày là sự đồng thuận của người mua lẫn của người bán vào ngày hôm đó. Quản lý rủi ro biến động giá: Khả năng bù trừ của hợp đồng giao sau cho phép những người phòng ngừa rủi ro hòa vốn, có nghĩa là thiệt hại trên thị trường giao sau sẽ bù bằng lợi nhuận trên thị trường giao ngay. Điều này đã cho phép những người tham gia vào hợp đồng giao sau quản lý được các rủi ro do những bất ổn gây ra trong giá cả. Đây là nhân tố chính của hợp đồng giao sau hấp dẫn những người phòng ngừa rủi ro. 7 Tính thanh khoản: Đây là một chìa khóa cho bất cứ thành công nào của hợp đồng giao sau. Tất cả thành viên tham gia thị trường đều kỳ vọng các biến động giá cả là nhẹ nhàng hoặc có thể dự báo được. Điều này cho phép họ dễ dàng gia nhập hoặc rút lui ra khỏi thị trường với một số lượng lớn các giao dịch. Số lượng các giao dịch càng lớn nhưng không gây tác động đến giá thì thị trường càng được gọi là “có tính thanh khoản”. Tính hiệu quả: Thị trường giao sau tạo khả năng cho tất cả những người tham gia giao dịch với khối lượng lớn với chi phí giao dịch tương đối thấp. Tính hiệu quả này thật sự hấp dẫn những người mua và người bán. Tổng lợi nhuận bằng zero: Giao dịch giao sau thường có tổng lợi nhuận bằng không, bất cứ lợi nhuận nào của những người tham gia thị trường cũng chính là khoản lỗ của một người khác trong thị trường. Đối với những người phòng ngừa rủi ro, điều này không là mối bận tâm vì lợi nhuận hoặc thua lỗ của họ được bù trừ trên thị trường giao ngay. Những người phòng ngừa rủi ro: Các nhà quản lý, những người sản xuất và kinh doanh lo ngại những diễn biến tài chính xấu do biến động bất ổn trong giá cả hàng hóa có thể sử dụng giao sau để giảm rủi ro bằng việc thực hiện một vị thế ngang bằng nhưng trái ngược trong thị trường giao sau. Hoạt động này được gọi là phòng ngừa rủi ro. Những người phòng ngừa không thích rủi ro, họ mong muốn tránh rủi ro và có xu hướng giữ vị thế giao sau trong một thời gian dài. Các nhà đầu cơ: Các nhà giao dịch giao sau không quan tâm đến hàng hóa thực. Họ giao dịch hoàn toàn là do lợi nhuận từ những thay đổi giá theo hướng có lợi cho họ. Các nhà đầu cơ là những người thích rủi ro. Họ thường không thích nắm giữ các vị thế giao sau trong thời gian dài. 1.4.2. Đường biểu diễn các vị thế mua và vị thế bán trên thị trường giao sau Các nhà giao dịch mua hợp đồng giao sau có thể kiếm lời nếu hợp đồng này được bán với giá cao hơn. Quá trình mua giao sau được gọi là thực hiện vị thế mua. Các nhà giao dịch là người bán giao sau với ý định mua chúng lại sau đó ở một mức giá thấp hơn để kiếm lời. Các nhà giao dịch có thể bán giao sau cho dù họ không sở hữu các tài sản cơ sở vì vị thế giao sau và việc cam kết giao hàng có thể 8 bù trừ bằng một vị thế mua trước khi đến hạn hợp đồng. Một nhà đầu cơ có thể chọn mua hàng hóa thực trên thị trường giao ngay và bán trên thị trường giao sau. Bởi vì các khoản lãi và thua lỗ trên thị trường giao sau phản chiếu tương tự những gì xẩy ra trên thị trường giao ngay. Bằng việc thực hiện vị thế ngược lại trên thị trường giao ngay, những người phòng ngừa có thể giảm thiểu rủi ro về giá. Những thua lỗ trên thị trường giao ngay được bù đắp bằng lợi nhuận trên thị trường giao sau và ngược lại. Tóm lại, nếu bạn là người dự định sẽ mua ngũ cốc sau đó, bạn có thể mua giao sau, đây được gọi là phòng ngừa vị thế mua. Các nhà sản xuất ngũ cốc, hạt có dầu và thịt tươi sống có thể bảo vệ chính họ chống lại những sụt giảm tiềm ẩn trong giá cả sản phẩm bằng cách bán giao sau, đây được gọi là phòng ngừa vị thế bán. 1.4.3. Liên kết giữa thị trường giao ngay và thị trường giao sau Liên kết giữa thị trường giao ngay và thị trường giao sau cho phép những người phòng ngừa rủi ro sử dụng thị trường giao sau để bù đắp rủi ro về giá trên thị trường giao ngay. Mối quan hệ này được đo lường bằng basic, đó là chênh lệch giữa giá giao ngay và giá giao sau có liên quan. Basic thường không phải là hằng số bất biến. Nhận thức rõ được điều này rất quan trọng vì nó giúp cho bạn xác định tính hiệu quả của bất kỳ hoạt động phòng ngừa rủi ro nào. Bạn cần một basic tương đối ổn định hoặc có thể dự đoán được để đoan chắc rằng lợi nhuận (hoặc thua lỗ) trên thị trường giao sau và thị trường giao ngay có thể bù đắp lẫn nhau được. Thị trường giao ngay: Các thị trường địa phương nơi những người mua và người bán điều chỉnh song phương về số lượng, chất lượng, giá cả, địa điểm và thời gian giao hàng. Hàng hóa thực sự được trao đổi giữa người mua và người bán. Thị trường giao sau: Người mua và người bán trao đổi hợp đồng trong đó có xác định trước về số lượng, chất lượng, địa điểm và thời gian giao hàng cho một hàng hóa cụ thể. Thị trường giao sau được xem như là một thị trường “giấy” vì hàng hóa cụ thể ít khi được trao đổi giữa người mua và người bán. Giá giao sau được dùng như một chuẩn mực cho giá giao ngay. 9 Sự đe dọa về giao nhận hàng: Giá giao ngay và giá giao sau có xu hướng biến động cùng chiều, mặc dù không luôn luôn cùng một mức độ. Sở dĩ như vậy là do các cam kết hợp đồng giao sau có thể hoặc là được thực hiện bởi một động tác giao nhận hàng hóa xảy ra thật sự giữa hai bên hoặc là xảy ra dưới các thanh toán tiền mặt tiêu biểu cho giá trị lô hàng. Quá trình giao nhận hàng diễn ra trong suốt tháng giao hàng của hợp đồng giao sau tại một thời điểm giao hàng cụ thể. Người mua hợp đồng giao sau phải đồng ý thanh toán và chi trả ngay lập tức cho lô hàng hóa. Các chi phí như chi phí lưu kho và lãi vay đã được phản ánh hết trong giá giao sau và người mua phải gánh chịu tất cả các chi phí này. Nếu như người mua trên thị trường giao ngay chào giá thấp hơn so với giá giao sau thì người bán hàng trên thị trường giao ngay (người sở hữu hàng hóa) có thể bán giao sau. Việc khan hiếm những người bán trên thị trường giao ngay cuối cùng cũng làm cho những người mua tăng giá giao ngay lên. Đồng thời lúc này do áp lực bán trên thị trường giao sau tăng lên, rốt cuộc làm cho giá giao sau giảm đi. Chính vì thế giá giao ngay và giá giao sau cuối cùng rồi cũng hội tụ về với nhau. Ngược lại, nếu giá giao ngay quá cao so với giá giao sau, người mua giao ngay có thể mua giao sau. Trong tình huống này, người mua nhận sản phẩm với giá giao sau thấp và sau đó có thể bán chúng lại trên thị trường giao ngay với giá cao hơn. Những hành vi này rốt cuộc làm tăng giá giao sau làm giảm giá giao ngay cho đến khi chúng đạt đến mức cân bằng sao cho tới khi nào mọi người không thể tiếp tục làm như thế nữa để kiếm lời. Tóm lại: Nỗi lo sợ về giao nhận hàng bảo đảm sự hội tụ của giá giao sau và giá giao ngay theo thời gian và làm tăng tính hội nhập của hợp đồng giao sau và giá giao sau. Hành động mua trên một thị trường và bán chúng trên một thị trường khác và ngược lại bảo đảm rằng giá giao ngay và giá giao sau sẽ hội tụ với nhau. Nỗi “lo sợ” rằng việc giao nhận có thể hoặc là ở phía bên “giao” hoặc là ở phía bên “nhận” làm cho giá giao sau và giá giao ngay sẽ tiến đến gần nhau hoặc là các nhà kinh 10 doanh chênh lệch (arbitrager) sẽ khiến chúng tiến gần nhau bằng những lỗ lực tìm kiếm lợi nhuận từ bất kỳ những không ngang giá nào. 1.4.4. Sự hội tụ của giá giao ngay và giá giao sau vào ngày đáo hạn Trước khi hợp đồng giao sau đáo hạn, nếu giá giao sau cao hơn giá giao ngay, sẽ khuyến khích mọi người mua hàng trên thị trường giao ngay và đồng thời tiến hành bán giao sau làm cho giá giao sau giảm. Bằng việc bán lại hợp đồng ngay bây giờ, người nắm giữ vị thế mua sẽ thu được một khoản tiền lãi. Khoản lãi này sẽ không còn nữa nếu như họ nắm giữ chúng cho đến khi đáo hạn vì tại thời điểm đáo hạn giá giao sau bằng với giá giao ngay của tài sản cơ sở. Cùng lúc đó, những người có nhu cầu mua hàng hóa có thể thấy giá giao ngay quá thấp và tiến hành mua hàng tạo áp lực tăng giá giao ngay. Trong mỗi trường hợp, giá giao ngay và giá giao sau sẽ hội tụ về với nhau khi thời hạn thanh toán cuối cùng đến gần. 1.4.5. Đóng vị thế một hợp đồng giao sau Nghĩa vụ của một hợp đồng giao sau có thể được thực hiện thông qua quá trình giao hàng hoặc là thông qua bù trừ. Trong trường hợp hợp đồng được thanh toán bằng tiền mặt, sẽ không có các cuộc giao nhận xảy ra. Trong trường hợp có giao nhận hàng giữa hai bên, những người tham gia hợp đồng nên làm quen với các điều kiện giao nhận hàng vốn dĩ luôn luôn thay đổi để đoan chắc rằng việc giao nhận hàng hóa diễn ra theo ý mình mong muốn. Trong trường hợp thanh toán bù trừ người nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ thực hiện một vị thế bằng nhau nhưng trái ngược với vị thế giao sau hiện tại. Nếu bán (1) Giao hàng hóa và chấp nhận thanh toán theo các quy định về thời hạn và địa điểm giao hàng và (2) Mua một số lượng tự hợp đồng giao sau (bù trừ vị thế ban đầu). Nếu mua (1) Nhận hàng hóa và chi trả đầy đủ theo các quy định về thời hạn và địa điểm giao hàng và (2) Bán lại một số lượng tương tự hợp đồng giao sau (bù trừ vị thế ban đầu). 11 1.4.6. Cơ chế của phòng ngừa đơn Phòng ngừa thông qua hợp đồng giao sau cho phép các nhà sản xuất thiết lập một mức giá cố định. Do bản chất bù trừ của hợp đồng giao sau và hợp đồng giao ngay, nên bất kỳ khoản lỗ (hoặc lãi) nào trong một thị trường này sẽ được bù trừ bằng một khoản lãi (hoặc lỗ) trong thị trường khác. Vấn đề quan trọng và cũng là kết quả cuối cùng của việc tham gia vào một hợp đồng giao sau là nhà sản xuất sẽ có khả năng chốt lại mức giá cố định cho mình và hiệu ứng cuối cùng đối với nhà sản xuất như thế nào, sẽ phụ thuộc vào basic. Phòng ngừa vị thế bán: Giả dụ bây giờ đang là thời điểm ở tháng 2 và nhà sản xuất có thông tin cho biết giá giao ngay dự kiến vào tháng 10 có khả năng là $400. Ở thời điểm tháng 2 này, giá giao sau tháng 10 là $420. Do có thông tin về giá giao ngay kỳ vọng tháng 10 là $400, nên nhà sản xuất đi đến quyết định chốt bán một phần sản lượng sẽ bán ở cuối tháng 9 ở mức $400 (đúng như mức giá kỳ vọng). Khi ra quyết định này nhà sản xuất có niềm tin rằng mức giá $400 sẽ tạo ra được một tỷ suất sinh lợi hợp lý cho vụ mùa mà mình thu hoạch vào mùa thu, phòng ngừa rủi ro sẽ hạn chế bất kỳ khoản lỗ tiềm ẩn nào, nếu có, do giá thị trường có khả năng sụt giảm vào tháng 10. 440 Vị thế bán lỗ $20 420 Tháng 2 Tháng 10 Hình 1.1 Phòng ngừa vị thế bán-Giá giao sau tăng $20 “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[466]. Vì người sản xuất là người nắm giữ hàng hóa, nên họ tiến hành thực hiện vị thế bán trên thị trường giao sau. Trong ví dụ này, hợp đồng giao sau tháng 10 được 12 bán với giá $420 vào tháng 2. Vào tháng 9, chúng ta giả dụ giá giao sau tháng 10 tăng lên là $440, kết qủa là người bán giao sau lỗ $20 (bán $420 vào tháng 2 và mua lại $440 vào tháng 9). Hình 1.1 cho chúng ta thấy trường hợp lỗ từ vị thế bán, do giá giao sau tăng lên $20. Khía cạnh khác nữa của phòng ngừa rủi ro có liên quan đến thị trường giao ngay. Trong trường hợp này, do basic được giả định là một hằng số không đổi vì thế giá giao ngay cũng tăng $20, từ $400 lên $420. Lúc bấy giờ nhà sản xuất sẽ bán hàng hóa trên thị trường giao ngay và thu về $20 lợi nhuận. Kết qủa này bù đắp lại vào $20 khoản lỗ trên thị trường giao sau. Hình 1.2 cho chúng ta nhận diện được cơ chế này. Giao sau 440 Vị thế bán lỗ $20 Giao ngay 420 Vị thế mua lãi $20 400 Tháng 2 Tháng 10 Hình 1.2. Lỗ vị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay-Giá giao ngay tăng $20. “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[467]. Đây là tổng số ròng cả giao dịch giao ngay và giao sau, chúng sẽ xác định hiệu quả của phòng ngừa trong khi chốt các mức giá. Việc các giao dịch có được bù trừ hoàn toàn hay không sẽ phụ thuộc vào basic. Phòng ngừa rủi ro thông qua hợp đồng giao sau không đặt thành vấn đề quan trọng đối với các biến động tăng lên hay giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng chiều hướng và với cùng một mức độ giống như giá giao sau. Trong ví dụ của chúng ta, basic là 13 một hằng số nên giá xem như đã được cố định là $400, chính vì thế các khoản lãi và lỗ hoàn toàn bù đắp cho nhau. Không nên quan tâm đến lợi nhuận ở thị trường giao ngay khi tham gia vào vị thế bán ở thị trường giao sau, khi tham gia vào một hợp đồng giao sau ở vị thế bán, bạn đã có chủ ý bỏ qua cơ hội nhận được lợi nhuận cao hơn do giá giao ngay có thể tăng lên trong tương lai. Bạn thật sự chỉ có một mong muốn không bị rơi vào tình huống lợi nhuận có thể sụt giảm thấp hơn so với kỳ vọng, hoặc thậm chí rơi vào tình trạng lỗ cao hơn do có khả năng giá giao ngay dự kiến giảm đi trong tương lai. Hình 1.3 minh họa kết cục xảy ra nếu giá giao ngay giảm $20. Trong trường hợp này, như đã minh họa ở phần trên, vị thế bán giao sau có được lợi nhuận là $20. Khoản lãi này sẽ bù đắp lại khoản lỗ trên thị trường giao ngay (do giá giao ngay giảm $20). Tóm lại, trong khi phòng ngừa rủi ro thông qua hợp đồng giao sau đã dẫn đến khả năng từ bỏ lợi nhuận tăng lên trong thị trường giao ngay (để bù trừ cho khoản lỗ trên hợp đồng giao sau), thì một khía cạnh khác chúng lại được bảo vệ để chống lại khả năng sụt giảm giá trên thị trường giao ngay. Giao sau 440 Vị thế bán lãi $20 420 Vị thế mua lỗ $20 Giao ngay 400 Tháng 2 Tháng 10 Hình 1.3 Lãi vị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lỗ giao ngay-Giá giao ngay giảm $20. “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[468]. 14 Phòng ngừa vị thế mua: Khi tham gia vào một hợp đồng giao sau ở vị thế mua, kết quả sẽ ở một vị thế trái ngược với người phòng ngừa vị thế bán. Các kết quả này được thể hiện ở cột thứ ba trên bảng 1.1 Bảng 1.1 Các kết quả phòng ngừa vị thế bán và vị thế mua giao sau Phòng ngừa vị thế bán Phòng ngừa vị thế mua Mở cửa giao dịch giao sau Bán giao sau Mua giao sau Đóng cửa giao dịch giao sau Mua giao sau Bán giao sau Giao ngay Mua Bán Sụt giảm trong giá giao sau Lãi Lỗ Gia tăng trong giá giao sau Lỗ Lãi Sụt giảm trong giá giao ngay Lỗ Lãi Gia tăng trong giá giao ngay Lãi Lỗ 3,25 Vị thế mua lỗ $0,35 2,90 Tháng 2 Tháng 9 Hình 1.4. Phòng ngừa vị thế mua-Giá giao sau giảm $0,35 “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[469]. Để cho các bạn dễ hình dung hơn, bây giờ chúng ta hãy lấy ví dụ trường hợp của một chủ trại chăn nuôi gia súc. Bây giờ là tháng 2 và giá bắp giao sau tháng 9 được giao dịch với giá $3,25/tạ, vì thế giá giao ngay được kỳ vọng trong tháng 9 là $3,25/tạ. Chủ chăn nuôi gia súc quyết định chốt giá mua vào đối với khẩu phần chi 15 phí chăn nuôi vào tháng 9 với giá $3,00/tạ. Khi ra quyết định này ông chủ trại có niềm tin rằng mức chi phí khẩu phần thức ăn là $3,00/tạ sẽ tạo ra một tỷ suất sinh lợi hợp lý cho công việc chăn nuôi, phòng ngừa rủi ro sẽ hạn chế bất kỳ khoản lỗ tiềm ẩn nào, nếu có, do giá thức ăn gia súc trên thị trường có khả năng tăng lên vào tháng 10. Vì ông chủ trại chăn nuôi là người mua hàng hóa, nên vị thế mua sẽ được thiết lập trên thị trường giao sau. Trong ví dụ này, ông chủ trang trại sẽ mua hợp đồng giao sau tháng 9 với giá $3,25/tạ vào tháng 2. Như vậy, ở thời điểm tháng 2, ông chủ trại giờ đây đã rơi vào trạng thái mua giao sau bắp trong tháng 9. Vào tháng 9, thời điểm mua bắp, giá bắp giao sau lại giảm đi chỉ còn là $2,90/tạ, chủ chăn nuôi thực hiện bản hợp đồng giao sau tháng 9. Hình 1.4 cho thấy, vì giá bắp giao sau giảm nên vị thế mua giao sau đã tạo ra một khoản lỗ $0,35/tạ - mua với giá $3,25/tạ vào tháng 2 và bán $2,90/tạ vào tháng 9. Trong giao dịch này, bạn còn phải quan tâm đến một khía cạnh khác nữa của phòng ngừa rủi ro có liên quan đến thị trường giao ngay. Theo đó, do basic được giả định là một hằng số không đổi vì thế giá giao ngay cũng giảm $0,35/tạ (từ $3,00/tạ xuống $2,65/tạ). Do giờ đây ông chủ chăn nuôi mua bắp trên thị trường giao ngay ít hơn $0,35/tạ, nên ông đã bù đắp lại vào $0,35/tạ lỗ trên thị trường giao sau. Hình 1.5 sẽ cho bạn thấy được cơ chế này. Nếu giá bắp tăng lên ông chủ trại chăn nuôi sẽ phải trả với giá khẩu phần thức ăn cao hơn trên thị trường giao ngay. Tuy nhiên chi phí chăn nuôi cao hơn này sẽ được bù đắp lại bằng với khoản lãi từ giao dịch giao sau. Như vậy cho dù bất cứ điều gì xẩy ra đi chăng nữa, chi phí chăn nuôi ròng cũng chỉ là $3,00/tạ như dự kiến của chủ chăn nuôi. Đây là tổng số ròng cả giao dịch giao ngay và giao sau và chúng sẽ xác định hiệu quả của phòng ngừa rủi ro trong khi chốt các mức giá. Việc các giao dịch có được bù trừ hoàn toàn hay không sẽ phụ thuộc vào basic. Phòng ngừa rủi ro thông qua hợp đồng giao sau không đặt thành vấn đề quan trọng đối với các biến động tăng lên hay giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng một chiều hướng và cùng một mức độ giống như giá giao sau. 16 Giao sau 3,25 Lỗ $0,35 3,00 2,90 Lãi $0,35 Giao ngay 2,65 Tháng 2 Tháng 9 Hình 1.5. Lỗ vị thế mua giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay-Giá giao ngay giảm $0,35 “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[470]. 1.5. Rủi ro basic 1.5.1. Khái niệm Basic là thước đo nói lên mối quan hệ giữa hợp đồng giao sau và hợp đồng giao ngay, basic thể hiện chênh lệch giữa giá giao ngay và giá giao sau. Basic sẽ là âm khi giá giao ngay thấp hơn giá giao sau hoặc là dương khi giá giao ngay cao hơn giá giao sau. 1.5.2. Basic cho ngũ cốc và hạt có dầu Các loại ngũ cốc và hạt có dầu được thu hoạch tại những thời điểm thu hoạch trong năm và sau đó được lưu trữ lại trong kho quanh năm. Giá giao sau có nghĩa quan trọng trong việc lưu trữ hạt có dầu và ngũ cốc, chúng có thể tạo ra động cơ để lưu trữ hàng hóa, hoặc ngược lại không khuyến khích nhà sản xuất lưu trữ hàng hóa trong kho khi nguồn cung ứng trở nên khan hiếm. Các diễn biến này được phản ảnh trong chênh lệch giữa giá cả cho các tháng đáo hạn khác nhau trên hợp đồng giao sau đối với ngũ cốc và hạt có dầu. Mối quan hệ này được phản ánh trong basic và do đó basic chính là dấu hiệu cho thấy về những gì mà thị trường sẽ “chi trả” dựa trên các chi phí lưu trữ và chi phí chuyển giao có thể phát sinh. 17 Mẫu hình thị trường chi phí lưu giữ: Chi phí lưu giữ là những biến phí cho việc nắm giữ ngũ cốc từ tháng này cho đến tháng sau. Thành phần chủ yếu của chi phí lưu giữ là tiền trả lãi vay. Ví dụ nếu giá bắp ở Chicago là $3/giạ vào tháng 11 và lãi suất là 5% chúng ta có một cơ hội phí là $0,015/giạ tháng để lưu trữ bắp. Nếu basic bằng với chi phí lưu giữ, giá giao ngay tại Chicago sẽ là $0,015 thấp hơn giá giao sau tháng 12. Mối quan hệ giữa chi phí lưu giữ này là nhân tố cơ bản trong việc xác định sự khác nhau trong giá cả giữa các tháng giao sau (chênh lệch giao sau). Bởi vì hợp đồng bắp giao sau tháng 3 tượng trưng cho các mức giá ba tháng kể từ sau tháng 11, nên mẫu hình chi phí lưu giữ sẽ được thỏa mãn nếu hợp đồng giao sau tháng 3 là $0,045/giạ cao hơn tháng 12 (ba tháng nhân cho $0,015/tháng). Giả dụ rằng mối quan hệ này được tính toán tương tự cho giá giao sau tháng 5, chúng cũng sẽ là $0,03 cao hơn so với tháng 3. Như vậy, basic cho tháng 3 và tháng 5 là $0,06 và $0,09 thấp hơn giá giao sau. Nếu chúng ta sử dụng giá giao ngay tháng 11 là $3, các kết quả của giá giao sau được minh họa như hình 1.6 Tháng 5 Tháng 3 Tháng 12 3,09 $3,06 $3,015 Giá giao ngay $3,00 Hình 1.6. Mẫu hình chi phí lưu giữ “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[472]. Quan hệ giữa chi phí lưu giữ và giá giao sau được xem như là một “điều kiện cân bằng” cơ bản trên thị trường. Nếu như không có những thay đổi trong quan hệ cung cầu từ tháng 11 đến tháng 5, các mức giá khác nhau cho các tháng trên thị trường giao ngay và thị trường giao sau là tương tự như các chi phí lưu giữ. Trong trường hợp này, sẽ không có các động cơ để lưu giữ hàng hóa và nhà sản xuất 18 không quan tâm nhiều đến việc bán trên thị trường giao ngay hay là nắm giữ hàng hóa lại trong kho. Chúng ta có thể nhìn nhận basic giống như một loại “giá cả”, và thông qua một dạng giá cả đặc biệt này, các bạn có thấy hàm trong đó một tín hiệu để thực hiện các giao dịch trên thị trường giao sau. Giả dụ rằng một thông tin mới xuất hiện trên thị trường cho thấy sẽ có một sự khan hiếm về bắp trên thị trường trong tháng 3. Thông tin này lập tức làm cho giá mua giao sau tháng 3 tăng lên $3,08/giạ. Chi phí lưu giữ vẫn là $0,06 từ tháng 11 tới tháng 3 nhưng chênh lệch trong thị trường trong tháng 3 giờ đây là $0,08. Basic phản ánh theo thông tin mới phát sinh là $0,08 thay vì -$0,06 đã làm cho các thành viên tham gia thị trường có động cơ lưu giữ bắp lại cho đến tháng 3 thay vì bán chúng ngay trên thị trường giao ngay. Bằng cách giữ vị thế bán giao sau, nhà sản xuất sẽ cố định giá trong tháng 3 là $3,08/giạ tại Chicago và lưu giữ bắp lại trong kho. Tất nhiên các hành vi tích trữ bắp từ thị trường giao ngay hiện tại làm cho sức ép trên giá giao ngay tăng lên và hành vi bán giao sau làm cho giá giao sau giảm xuống. Xu hướng này diễn tiến theo chiều hướng làm cho chúng quay trở lại mẫu hình chi phí lưu giữ. Nhân tố cơ bản dẫn dắt mối quan hệ này chính là sự đe dọa về giao nhận hàng hoặc là sự hội tụ của giá giao ngay và giá giao sau tại thời điểm đáo hạn. $ Tháng 1 $300,00 Tháng 3 $295,00 Tháng 5 $290,00 Tháng 7 $286,00 Hình 1.7. Mẫu hình thị trường nghịch đảo “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[473]. 19 Mẫu hình thị trường nghịch đảo: Ngược với thị trường chi phí lưu giữ là thị trường “nghịch đảo”. Thị trường nghịch đảo là thị trường mà trong đó giá của tháng giao sau sau đó sẽ thấp hơn giá của tháng trước đó. Các bạn sẽ thấy điều tưởng như trái khoáy này trên hình 1.7 nhưng trong thực tế thì mô hình này cũng không phải là hiếm gì cho lắm. Thường thì trong thực tế mẫu hình chi phí lưu giữ phổ biến hơn cho những hàng hóa có thời kỳ thu hoạch ngắn và được lưu trữ tồn kho quanh năm. Trong khi đó, mẫu hình thị trường nghịch đảo thì lại phổ biến hơn đối với những dạng hàng hóa như là ngũ cốc chẳng hạn, khi mà nguồn cung ứng thỉnh thoảng lại thấp hơn so với nhu cầu. Nhu cầu cao làm cho giá của tháng đáo hạn gần nhất cao hơn giá của tháng sau đó. Những khan hiếm hàng hóa trên thị trường không khuyến khích các nhà sản xuất lưu giữ hàng hóa tồn kho. Chi phí chuyển giao: Chi phí chuyển giao được phản ánh trong basic đối với những thị trường không nằm trong phạm vi của khu vực giao hàng. Nếu chúng như ta gọi thành phố Saskatoon của Canada, nơi trồng hạt canola, là khu vực cung ứng hay khu vực thặng dư, thì basic của hạt canola chắc chắn sẽ có mối quan hệ với chi phí lưu giữ tại khu vực thành phố Saskatoon của Canada. Nhưng điều mà các bạn dễ thắc mắc là basic tại thành phố Tokyo của Nhật thì sao? Tokyo (nơi có nhu cầu về hạt canola) được gọi là khu vực có nhu cầu hay khu vực thâm hụt. Để có thể hiểu rõ cơ chế này, các bạn hãy xem hình 1.8 và 1.9 Giá giao sau tháng 7 $ Basic cuối cùng Chi phí lưu giữ Chi phí chuyển giao Giá giao ngay ở Saskatoon Tháng 10 Tháng 7 Hình 1.8. Mẫu hình chi phí chuyển giao tại khu vực thặng dư “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[474]. 20 Mỗi trường hợp ở hình nói trên cho thấy giá giao sau luôn là một hằng số không đổi. Giá giao ngay tại Saskatoon trên hình 1.8 tượng trưng cho đường đậm. Basic ở khu vực thặng dư ở Saskatoon chính là giá gia sau trừ đi hai loại chi phí (1) chi phí lưu giữ tính cho đến tháng 7 và (2) chi phí chuyển giao tính từ điểm giao hàng Saskatoon đến điểm nhận hàng Tokyo. Tại khu vực thặng dư, giá giao ngay ở Saskatoon sẽ thấp hơn giá giao sau một khoản chênh lệch, bằng với chi phí lưu giữ hạt canola đến tháng 7 và chi phí chuyển giao. Vào tháng 10, basic chính là bề rộng dải băng cho thấy giá giao ngay của hạt canola thấp hơn ở Saskatoon khi không có hoặc có rất ít chi phí lưu giữ tính cho điểm giao hàng. Giá giao sau tháng 7 thì thể hiện hoàn toàn và đầy đủ chi phí lưu giữ tính đến tháng 7. Theo thời gian, basic tháng 7 sẽ hẹp dần lại khi thị trường đưa chi phí lưu giữ tính vào trong giá giao ngay. Theo đó, giá giao ngay tăng dần lên và cuối cùng tiệm cận tại mức chúng ta có basic bằng đúng với chi phí chuyển giao hoặc chi phí vận chuyển từ Saskatoon đến Tokyo. Chi phí chuyển giao ở Tokyo $ Giá giao ngay ở Tokyo Basic cuối cùng Giá giao ngay tháng 7 Giá giao ngay ở Saskatoon Tháng 10 Tháng 7 Hình 1.9. Mẫu hình chi phí chuyển giao tại khu vực thâm hụt “Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê, TP.HCM”[475]. Nhìn vào hình 1.9, các bạn sẽ thấy đối với khu vực thâm hụt tại Tokyo, basic cuối cùng vào tháng 7 sẽ bằng với chi phí chuyển giao để vận chuyển hạt canola từ
- Xem thêm -