Tài liệu Giải pháp phát triển các doanh nghiệp logistics của việt nam trong hội nhập quốc tế

  • Số trang: 47 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 69 |
  • Lượt tải: 0
tranbon

Đã đăng 976 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Tr-êng §¹i häc kinh tÕ quèc d©n ------------ ĐỀ ÁN MÔN HỌC Đề tài: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS CỦA VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ Giảng viên hướng dẫn : GS.TS. ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THÀNH LUÂN MSV : CQ532365 Lớp : QTKD Thương Mại 53A Hµ Néi - 2014 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................3 CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP LOGISTICS ...............................................................................................................5 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp Logistics .................................5 1.1. Khái niệm: ...........................................................................................................5 1.1.1. Doanh nghiệp ...................................................................................................5 1.1.2. Logistics ............................................................................................................5 1.2.Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển dịch vụ logistics, nhà cung ứng dịch vụ logistics. .........................................................................................................6 1.3.Vai trò của doanh nghiệp logistics ......................................................................8 1.3.1. Doanh nghiệp Logistics góp phần làm giảm chi phí lưu thông, chi phí .....9 1.3.2. Doanh nghiệp logistics tạo thêm giá trị gia tăng và cung cấp dịch vụ khách hàng. ........................................................................................................................10 1.3.3. Logistics là công cụ marketing hiệu quả giúp các doanh nghiệp sản xuất thâm nhập thị trường ...............................................................................................10 1.4.Phân loại: ...........................................................................................................11 1.5.Những nhân tố cơ bản và sự tác động đến hoạt động các Doanh nghiệp logistics Việt Nam hiện nay. ....................................................................................13 1.4.1. Cơ sở hạ tầng ..................................................................................................13 1.4.2. Công nghệ thông tin......................................................................................14 1.4.3. Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành ......................................15 1.4.4. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế .........................................................16 CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS Ở VIỆT NAM. ..................................................................................19 1. Khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của các doanh nghiệp logistics trong nước. .........................................................................................................................19 2. Thực trạng hệ thống doanh nghiệp Logistics của Việt Nam ...........................21 2.1. Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh tuy nhiên đa số trong đó là doanh nghiệp nhỏ, chưa thiết lập được hệ thống mạng lưới toàn cầu .........................................21 2.2. Hoạt động ở các doanh nghiệp còn manh mún, thiếu kinh nghiệm, chuyên nghiệp........................................................................................................................23 SV: Nguyễn Thành Luân 1 Lớp: QTKD Thương mại 53A 2.3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Logistics Việt Nam còn yếu, cạnh tranh chủ yếu qua giá, thiếu sự liên kết. .................................................................25 2.4. Nguồn nhân lực: ...............................................................................................27 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2. .......................................................................................29 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM TRONG MÔI TRƯỜNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ . .30 1. Mục tiêu, quan điểm và cơ sở đề xuất giải pháp ..............................................30 1.1. Mục tiêu đề xuất giải pháp ...............................................................................30 1.2. Quan điểm đề xuất giải pháp ............................................................................30 1.3. Căn cứ đề xuất giải pháp. .................................................................................31 2. Giải pháp cạnh tranh và phát triển cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế. .....................................................................................31 2.1. Giải pháp tầm vĩ mô. .........................................................................................31 2.1.1. Nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động logistics. .............31 2.1.2. Nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành logistics......................................................................................................................33 2.1.3. Nâng cao vai trò hỗ trợ của Chính phủ và VLA cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong giai đoạn đầu phát triển. .................................................34 2.2. Giải pháp tầm vi mô. .........................................................................................37 2.2.1. Củng cố nội lực khắc phục những yếu kém hiện tại so với đối thủ cạnh tranh. .........................................................................................................................37 2.2.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ, tiến hành cung ứng dịch vụ giá trị gia tăng và tích hợp dịch vụ giá trị gia tăng vào chuỗi cung ứng. .......................................40 2.3. Kiến nghị. ..........................................................................................................43 2.3.1. Kiến nghị đối với nhà nước. ..........................................................................43 2.3.2. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp. .............................................................43 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: ......................................................................................44 KẾT LUẬN ..............................................................................................................45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................46 SV: Nguyễn Thành Luân 2 Lớp: QTKD Thương mại 53A LỜI MỞ ĐẦU 1, Lý do và ý nghĩa của đề tài: Bối cảnh quốc tế hóa và toàn cầu hóa cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã mang đến cho mỗi đất nước những cơ hội tham gia và thị trường toàn cầu. Trên thế giới hiện nay,hoạt động thương mại quốc tế diễn ra sôi động với mức tăng trưởng ngày càng cao. Các nước phát triển đã khai thác các hoạt động này để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế quốc gia. Còn các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) lại tận dụng các điều kiện đó thông qua việc phát triển nền kinh tế hướng về xuất khẩu . Nhưng để vận chuyển hàng hóa (nguyên, vật liệu và thành phẩm) từ địa điểm này sang địa điểm khác đặc biệt là giữa các quốc gia một cách nhanh chóng với chi phí thấp và độ an toàn cao thì việc ứng dụng logistics là rất quan trọng. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đang diễn ra rất sôi động và có đóng góp quan trọng cho việc phát triển kinh tế. Cùng với sự mở rộng của hoạt động thương mại quốc tế, dịch vụ logistics cũng đã được hình thành và bước đầu phát triển tại Việt Nam. Sự phân công lao động ngày càng mạnh mẽ đã hình thành nên những công ty chuyên cung cấp dịch vụ logistics. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) và mở cửa 11 ngành dịch vụ trong đó có lĩnh vực vận tải sẽ mang đến cho ngành dịch vụ logistics của nước nhà không những cơ hội mà cả thách thức để phát triển. Hệ thống các doanh nghiệp logistics Việt Nam tuy đông về số lượng nhưng vẫn còn nhiều bất cập mà nổi trội hơn cả chính là hiệu quả hoạt động. Nếu như không có sự thay đổi trong hoạt động logistics của mình, các doanh nghiệp Logistics Việt Nam sẽ thất thế ngay trên thị trường của mình. Chính vì vậy, để đối phó với môi trường cạnh tranh vô cùng gay gắt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, việc phải có được các giải pháp phù hợp cho các doanh nghiệp logistics nói riêng và toàn bộ ngành logistics nói chung là một yêu cầu cấp bách về phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Theo đó, em đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp phát triển các doanh nghiệp logistics của Việt Nam trong hội nhập quốc tế” với mong muốn đóng góp những hiểu biết của mình về lĩnh vực logistics. 2, Mục đích nghiên cứu của đề tài: SV: Nguyễn Thành Luân 3 Lớp: QTKD Thương mại 53A - Nghiên cứu bản chất của dịch vụ logistics, các dịch vụ được cung cấp bởi các doanh nghiệp logistics và vai trò của chúng đối với nền kinh tế nói chung, đối với các doanh nghiệp nói riêng. - Đánh giá môi trường kinh doanh logistics ở Việt Nam hiện nay và thực trạng kinh doanh logistics ở các công ty Việt Nam. - Đề xuất giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại giúp cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam cạnh tranh và phát triển trong môi trười hội nhập quốc tế. 3, Kết cấu của đề án: Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề án được trình bày thành 3 chương: Chương I: Những lý luận cơ bản về Doanh nghiệp logistics Chương II: Thực trạng phát triển các doanh nghiệp logistics Việt Nam. Chương III: Giải pháp phát triển các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong hội nhập quốc tế SV: Nguyễn Thành Luân 4 Lớp: QTKD Thương mại 53A CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP LOGISTICS 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp Logistics 1.1. Khái niệm: 1.1.1. Doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Điều 4), doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. 1.1.2. Logistics Trước hết về từ “logistics”, Logistics có người dịch ra là hoạt động hậu cần bởi nó bắt nguồn từ quân sự hay lại nói đó là dịch vụ giao nhận kho vận. Tuy nhiên, tất cả các cách dịch đó đều chưa thỏa đáng, không phản ánh đúng bản chất của logistics bởi nó là một từ bao hàm nghĩa quá rộng giống như trường hợp của từ marketing vậy. Cách tốt nhất là giữ nguyên là “logistics”. Về khái niệm, theo Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) thì: Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển hàng hóa từ điểm xuất phát đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. Bên cạnh đó, ta có thể kể đến các khái niệm khác về Logistics như: - Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hóa dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ tới nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (World Marintime University- Đại học Hàng Hải Thế giới. D.Lambert. 1998). - Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. ( Ủy ban Quản lý Logistics của Hoa Kỳ) - Trong luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233 - mục 4 – Chương VI): “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực SV: Nguyễn Thành Luân 5 Lớp: QTKD Thương mại 53A hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thể chia làm hai nhóm: - Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của luật Thương mại 2005, coi Logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong luật thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Theo họ, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO). - Nhóm định nghĩa thứ hai về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. 1.1.3. Như vậy, hiểu theo cả nghĩa rộng và hẹp, tôi đồng ý với quan điểm “Doanh nghiệp Logistics là doanh nghiệp thực hiện dịch vụ phân phối và lưu thông hàng hóa dưới sự tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, dịch vụ … từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng”. 1.2. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển dịch vụ logistics, nhà cung ứng dịch vụ logistics. Sự phát triển của dịch vụ logistics bắt nguồn từ sự thay đổi trong sản xuất. Người bán hàng hóa không nhất thiết phải là nhà sản xuất và người mua cũng không nhất thiết phải là người tiêu dùng cuối cùng. Và để tránh ứ đọng vốn, các nhà SV: Nguyễn Thành Luân 6 Lớp: QTKD Thương mại 53A sản xuất kinh doanh luôn tìm cách duy trì một lượng hàng dự trữ nhỏ nhất. Điều này đòi hỏi các nhà giao nhận vừa phải đảm bảo giao hàng đúng lúc (JIT), vừa phải tăng cường vận chuyển những chuyến hàng nhỏ nhằm giúp những nhà sản xuất kinh doanh thực hiện mục tiêu tối thiểu hàng tồn kho (Minimum stock). Mặt khác, cuộc cách mạng Container hoá trong vận tải diễn ra trong những năm 70 của thế kỷ XX đã giải quyết được tình trạng ùn tắc tại các đầu mối giao thông khác. Điều này đã giúp các nhà vận chuyển tìm ra một phương pháp vận tải mới để đưa hàng hóa từ nơi gởi đến nơi nhận một cách thông suốt, đó là vận tải đa phương thức. Người gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng vận tải với một nhà kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Operator – MTO) để thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hoá của mình. Ban đầu, dịch vụ logistics được thuê ngoài là dịch vụ vận chuyển và giao nhận. Hàng hóa đi từ nước người bán đến nước người mua thường dưới hình thức hàng lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải ở mỗi phương thức vận tải khác nhau. Vì vậy xác suất rủi ro mất mát xảy ra đối với hàng hóa là rất lớn do người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng vận tải riêng biệt với từng người vận tải thực sự và trách nhiệm của mỗi người vận tải chỉ giới hạn trong dịch vụ hay chặng đường của người đó đảm nhiệm. Vào những năm 60, 70 của thế kỷ này, cách mạng container hóa trong vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong di chuyển hàng hóa là tiền đề cho sự ra đời của vận tải đa phương thức. Sau đó khách hàng rất cần một người đứng ra tổ chức mọi công việc ở tất cả các công đoạn liên quan để tiết kiệm tối đa thời gian, chi phí và rủi ro phát sinh nhằm gia tăng lợi nhuận. Từ đó, những người vận tải đa phương thức ngoài làm vận chuyển, giao nhận đã kiêm thêm các khâu liên quan đến quá trình sản xuất hàng hóa như: gia công, chế biến lắp ráp, đóng gói, gom hàng, xếp hàng, lưu kho và giao nhận. Hoạt động giao nhận vận tải thuần túy đơn lẻ đã chuyển dần sang hoạt động tổ chức toàn bộ dây chuyền phân phối vật chất và trở thành một bộ phận khăng khít của chuỗi mắt xích “cung-cầu”. Xu hướng đó không những đòi hỏi phải phối hợp liên hoàn tất cả các phương thức vận tải, mà còn đòi hỏi phải kiểm soát được các luồng thông tin, luồng hàng hóa và luồng tài chính. Chỉ khi tối ưu được toàn bộ quá trình này thì mới giải quyết được vấn đề đặt ra là: vừa tăng lợi nhuận cho các doanh SV: Nguyễn Thành Luân 7 Lớp: QTKD Thương mại 53A nghiệp sản xuất hàng hóa, vừa tăng lợi nhuận cho các đơn vị kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận, bảo đảm được lợi ích chung của các bên tham gia vào dây chuyền. Hoạt động giao nhận vận tải thuần túy chuyển sang hoạt động tổ chức toàn bộ dây chuyền vận động của hàng hóa- đó chính là hoạt động logistics. Như vậy, do sự thay đổi của môi trường kinh doanh toàn cầu đã đặt ra nhu cầu cho ngành dịch vụ logistics hình thành và phát triển. Từ sự phân tích trên chúng ta thấy rằng dịch vụ logistics chính là sự phát triển ở giai đoạn cao của các khâu dịch vụ giao nhận kho vận, điều phối hàng hóa từ khâu tiền sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng qua các công đoạn: dịch chuyển, lưu kho và phân phát hàng hóa. Trong quá trình lưu chuyển hàng hóa, đồng thời cũng có sự lưu chuyển của các dòng thông tin của dịch vụ logistics. Vì vậy, ngày nay nhiều công ty giao nhận kho vận và nhiều hiệp hội giao nhận kho vận ở các nước đã đổi tên thành công ty cung cấp dịch vụ logistics và Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ logistics. Như vậy dịch vụ logistics là những hoạt động giúp cho hoạt động logistics của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục mà không nhất thiết phải do chính doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực hiện. Ban đầu do doanh nghiệp không đủ khả năng kiểm soát toàn bộ hoạt động của mình khi qui mô mở rộng buộc doanh nghiệp phải thuê bên ngoài thực hiện các hoạt động trong chuỗi logistics. Dần dần, các doanh nghiệp phát hiện hiệu quả hơn nên đã chuyển sang thuê các doanh nghiệp dịch vụ tiến hành thực hiện thay mình các hoạt động logistics. Từ đó hình thành nên các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics như hiện nay. 1.3. Vai trò của doanh nghiệp logistics Nếu người ta xem Marketing là vũ khí chiến lược trong cạnh tranh vào những năm của thế kỷ XX thì trong thế kỷ XXI vai trò này đã nhường lại cho hoạt động logistics. Do vậy, dịch vụ logistics hoàn hảo sẽ là vũ khí quan trọng trong thời đại ngày nay. 1.3.1. Doanh nghiệp Logistics góp phần làm giảm chi phí lưu thông, chi phí sản xuất và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại. SV: Nguyễn Thành Luân 8 Lớp: QTKD Thương mại 53A - Chi phí lưu thông: Dịch vụ logistics không chú trọng tiết kiệm chi phí cho một khâu nhất định mà là chú trọng vào tính hiệu quả trong cả quá trình, nghĩa là cung cấp dịch vụ với tổng chi phí nhỏ nhất. * Với chi phí vận chuyển: Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tự khai thác phương tiện vận tải của chính mình thường không đạt hiệu quả do lượng hàng không cho phép khai thác tốt nhất phương tiện trong tất cả các ngày làm việc hoặc xe chỉ chở một chiều. Trong khi đó thông qua doanh nghiệp dịch vụ logistics xe sẽ chạy hai chiều đi và về đều có hàng, container sẽ đầy hơn do việc ghép chung hàng của các đơn vị thuê ngoài dịch vụ khác nhau. Ngoài ra, dựa vào phương thức vận chuyển đa phương thức người cung cấp dịch vụ logistics giúp người gửi hàng giảm chi phí bằng cách kết hợp các loại phương tiện vận tải khác nhau như máy bay, xe lửa, ôtô, tàu biển… Các dịch vụ đóng gói và lắp ráp tại nơi tiêu thụ cũng giảm được trọng lượng và thể tích chuyên chở. * Với chi phí lưu kho: Với việc thiết kế và bố trí kho hợp lý, quản lý lượng hàng tồn kho bằng máy tính để cập nhật thông tin hàng ngày, các doanh nghiệp có thể giảm hoàn toàn chi phí lưu kho. * Với chi phí và lãi suất ngân hàng: Với việc giảm lượng hàng tồn kho cũng như các chi phí vận tải và các chi phí khác, doanh nghiệp cần một lượng vốn ít hơn phục vụ cho đầu tư vào những lĩnh vực là thế mạnh của mình do đó nhu cầu vay vốn giảm, chi phí cho lãi suất tiền vay cũng giảm theo. - Chi phí sản xuất: Thông qua dịch vụ logistics, hàng hóa sẽ có được dòng chảy đầu vào đảm bảo và chất lượng. Một dịch vụ logistics tốt sẽ cung ứng sản phẩm ngay đúng lúc thị trường cần. Và trong mối liên hệ trong sản xuất là đầu ra của một tổ chức này chính là một đầu vào của tổ chức khác. Hơn nữa, với cơ sở vật chất và thông tin hiện đại, các nhà cung ứng này có thể cung ứng hàng hóa với chất lượng và thời gian đảm bảo hơn cho các nhà sản xuất. Doanh nghiệp logistics có thể tham gia vào quá trình tư vấn nguyên vật liệu ngay từ quá trình thiết kế sản phẩm giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị cho sản phẩm mới. Hơn nữa dịch vụ logistics tốt đảm bảo nguyên vật liệu đi đúng theo lịch trình và đáp ứng SV: Nguyễn Thành Luân 9 Lớp: QTKD Thương mại 53A kịp thời cho kế hoạch sản xuất tránh tình trạng ngắt quãng sản xuất do thiếu nguyên vật liệu. Bên cạnh đó dịch vụ logistics góp phần hợp lý hóa các giai đoạn sản xuất. Thay vì sản xuất tại một địa điểm từ công đoạn đầu đến cuối thì nhà sản xuất có thể phân bổ một số công đoạn như lắp ráp, gia công nhằm tận dụng nguồn nhân lực rẻ hay nguồn nguyên liệu dồi dào. Với sự cung ứng nguyên vật liệu đúng lúc, bảo đảm và sự thiết kế địa điểm sản xuất hợp lý sẽ giúp giảm thiểu chi phí sản xuất mà không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. - Chi phí cơ hội: Thay vì các doanh nghiệp đầu tư dàn trải vào những lĩnh vực mình không có lợi thế cạnh tranh mà chiếm nhiều vốn như nhà kho, đội vận tải, họ có thể tập trung vào việc tạo ra sản phẩm độc đáo để tăng sức cạnh tranh. Chi phí cơ hội còn thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp có thể giao hàng đúng lúc không gây ứ đọng vốn do sản xuất theo đúng nhu cầu, tránh được chi phí lưu kho và tồn đọng hàng hóa. Tóm lại, để giảm chi phí mà không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp logistics có thể cung cấp các dịch vụ từ nguồn vào tới việc bố trí sản xuất hiệu quả cũng như tránh được việc đầu tư dàn trải nhờ vậy không những không làm giảm chất lượng hàng hóa mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất. 1.3.2. Doanh nghiệp logistics tạo thêm giá trị gia tăng và cung cấp dịch vụ khách hàng. Ngày nay người mua hàng không chỉ mua một sản phẩm vì công dụng của nó mà còn mua cả dịch vụ kèm theo sản phẩm đó. Với những dịch vụ giá trị gia tăng của logistics như dán nhãn, đóng gói, lắp ráp, dịch vụ khách hàng… đã tạo thêm giá trị gia tăng cho hàng hóa giúp cho doanh thu của nhà sản xuất được tăng lên. Hơn nữa các dịch vụ như gom và phân hàng lẻ, xé lẻ các lô hàng lớn , chuẩn bị các lô hàng hỗn hợp… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng và giảm được chi phí phát sinh. 1.3.3. Logistics là công cụ marketing hiệu quả giúp các doanh nghiệp sản xuất thâm nhập thị trường SV: Nguyễn Thành Luân 10 Lớp: QTKD Thương mại 53A Không gì thuận lợi hơn cho các nhà xuất khẩu khi có một căn cứ phân phối hàng ngay tại khu vực tiêu thụ. Tại đây, hàng hóa sẽ được phân phối theo yêu cầu của khách hàng theo đúng chất lượng và số lượng, việc in ấn nhãn hiệu theo tiếng bản xứ, thậm chí có thể mua thêm nguyên liệu tại chỗ để gia công thêm cho hàng nhập khẩu mà không bị đánh thuế sẽ giảm chi phí rất lớn cho nhà nhập khẩu và tạo thuận lợi rất lớn trong việc cung cấp cho khách hàng các dịch vụ đa dạng khác nhau. Ngày nay, việc sử dụng các doanh nghiệp logistics có uy tín cũng là một cách tăng thêm uy tín cho chính công ty xuất nhập khẩu, tạo thêm độ an tâm cho đối tác. Để thu hút khách hàng, các doanh nghiệp logistics còn kiêm thêm dịch vụ môi giới giữa người mua và người bán vốn không quen biết nhau và họ là người đảm bảo uy tín cho hai bên. Với những vai trò của doanh nghiệp logistics trên đây đã làm cho các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại dần chuyển sang thuê ngoài dịch vụ logistics phục vụ cho chuỗi hoạt động logistics của doanh nghiệp. 1.4.Phân loại: Theo tính chuyên môn hóa của các Doanh nghiệp Logistics, người ta chia thành: * Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải. Bao gồm: + Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức : Là những công ty chỉ cung cấp một loại phương tiện vận tải. Ví dụ: Công ty cung cấp dịch vụ vận tải đường bộ , đường sắt, hàng không, đường biển; + Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức : là những công ty cung cấp từ hai phương tiện vận tải khác nhau trở lên trong cả quá trình vận chuyển + Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng + Các công ty môi giới vận tải * Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối. Bao gồm: + Các công ty cung cấp dịch vụ kho bãi + Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối . * Các công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa. Bao gồm: + Các công ty môi giới khai thuê hải quan + Các công ty giao nhận, gom hàng lẻ SV: Nguyễn Thành Luân 11 Lớp: QTKD Thương mại 53A + Các công ty chuyên ngành hàng nguy hiểm + Các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển. * Các công ty cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngành. Bao gồm: + Các công ty công nghệ thông tin + Các công ty viễn thông + Các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm + Các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo. Phân loại theo hình thức khai thác hoạt động logistics: - Các công ty Logistics thứ nhất (1PL - First Party Logistics): người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics. First Party Logistics làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý, vận hành hoạt động logistics. - Các công ty Logistics bên thứ hai (2 PL - Second Party Logistics) – người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục Hải quan, thanh toán,…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trung gian thanh toán… - Các công ty Logistics bên thứ 3 (3 PL - Third Party Logistics) – là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng đến địa điểm đến quy định, … Do đó 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin, … và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. - Các công ty Logistics bên thứ tư (4 PL - Fourth Party Logistics) – là người tích hợp (intergrator) – người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và SV: Nguyễn Thành Luân 12 Lớp: QTKD Thương mại 53A vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải, … 4 PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng. - Gần đây cùng với sự phát triển của Thương mại điện tử, người ta đã nói đến khái niệm công ty Logistics bên thứ 5 (5 PL). 5 PL phát triển nhằm phục vụ cho Thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5 PL là các 3 PL và 4 PL đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử. Vì vậy các doanh nghiệp với vai trò là nhà cung cấp dịch vụ logistics không bao gồm nhà cung cấp logistics bên thứ nhất vì đó chính là bản thân doanh nghiệp tự cung ứng mà không thuê bên ngoài 2,3,4,5PL 1.5. Những nhân tố cơ bản và sự tác động đến hoạt động các Doanh nghiệp logistics Việt Nam hiện nay. 1.5.1. Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động logistics, trong đó hệ thống giao thông và hạ tầng thông tin có vai trò hết sức quan trọng. Chi phí vận tải giao nhận thường chiếm hơn 1/3 tổng chi phí của logistics và là yếu tố không thể thiếu được trong logistics , yêu cầu này xuất phát từ xu hướng chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Giao nhận vận tải đảm nhận việc di chuyển nguyên vật liệu vào doanh nghiệp sau đó phân phối sản phẩm từ doanh nghiệp ra thị trường tạo thành một vòng tuần hoàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, vai trò của yếu tố cơ sở hạ tầng, bao gồm hệ thống hạ tầng giao thông, kho bãi nhà xưởng, phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng thông tin,… là rất quan trọng, là một trong những bộ phận cấu thành hoạt động cung ứng dịch vụ logistics. Nó là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp logistics hoạt động kinh doanh tốt trong lĩnh vực của mình. Lãnh thổ toàn vẹn của Việt Nam bao gồm diện tích đất liền, theo tổng điều tra đất năm 2002 là 329,297 km2 và vùng biển rộng hơn 1 triệu km2. Việt Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi cho vận tải quốc tế, nằm ở khu vực chiến lược trong vùng Đông Nam Á. Bờ biển Việt Nam dài hơn 3260km. Trung bình khoảng 20km chiều SV: Nguyễn Thành Luân 13 Lớp: QTKD Thương mại 53A dài bờ biển có một cửa sông thông ra biển, có nhiều cảng nước sâu, các sân bay quốc tế, hệ thống đường sắt xuyên quốc gia và mạng lưới giao thông là tiền đề khả quan để phát triển Logistics. Các cảng biển tự nhiên, ví dụ như vịnh hay các cảng nước sâu…là một trong những đặc điểm địa lý rất có giá trị trong việc phát triển vận tải sông, biển mà bất kỳ quốc gia nào cũng mong có được. Điều kiện địa lý thuận lợi là một trong những yếu tố để phát triển logistics. Việc có được điều kiện địa lý thuận lợi sẽ mở ra khả năng phát triển mô hình Logistics. Đặc biệt gần hai năm khi Việt Nam gia nhập WTO thì vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra bộ mặt mới cho hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Đã có rất nhiều các dự án đầu tư về cơ sở hạ tầng đang được thực hiện. Hệ thống cảng biển Việt Nam đã được quy hoạch và đang hình thành và phát triển đa dạng, phong phú. Các loại hình cảng mới như cảng nước sâu, cảng container chuyên dụng…với vốn đầu tư lên đến hàng chục, trăm triệu USD đã được xây dựng, đang phát huy tác dụng…Lượng hàng hóa vận chuyển thông qua cảng hàng năm đều tăng về mọi chỉ tiêu kể cả hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như hàng hóa vận chuyển nội địa. 1.5.2. Công nghệ thông tin. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự ra đời của thương mại điện tử hơn bao giờ hết đã mở ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp trong ngành giao nhận vận tải và logistics nói riêng khả năng tinh giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của mình trên thương trường. Công nghệ thông tin và thương mại điện tử tại Việt Nam còn mới mẻ, song lại có tốc độ phát triển rất nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Với hiện trạng va xu hướng phát triển công nghệ thông tin cũng như thương mại điện tử của Việt Nam sẽ tạo ra nhiều cơ hội và khả năng áp dụng công nghệ Logistics trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vị trí của Logistics trong toàn bộ quá trình phân phối vật chất thực chất là sử dụng và xử lý thông tin để tổ chức và quản lý chu trình di chuyển hàng hóa qua nhiều cung đoạn, chặng đường, phương tiện, địa điểm khác nhau đáp ứng yêu cầu kịp thời, đúng lúc. Sự tham gia của công nghệ thông tin trong ngành logistics đã thúc đẩy quản lý có hiệu quả các hoạt động logistics và giúp các công ty logistics đáp ứng được yêu SV: Nguyễn Thành Luân 14 Lớp: QTKD Thương mại 53A cầu của chủ hàng. Hầu hết các công ty lớn đều có phần mềm như hệ thống quản lý kho (WMS) và hệ thống quản lý vận tải để quản lý hệ thống kho, hoạt động vận tải và các hoạt động khác của mình. Chuyển giao dữ liệu điện tử (EDI) và Internet đã cho phép các công ty 3PL cung cấp các dịch vụ giá trị lớn hơn cho khách hàng của họ, họ có thể thấy được nguyên liệu, hàng hoá của họ đang ở đâu trên thế giới từ đó phục vụ cho quản lý chuỗi cung ứng ngày càng hiệu quả hơn. Các dịch vụ cung cấp công cụ tìm kiếm (track and trace) đã xác lập giá trị cho khách hàng trong việc lên kế hoạch hoạt động của họ tốt hơn và giảm vốn lưu động do tồn kho và các hoạt động vận tải khác. Do vậy trong xu hướng cạnh tranh hiện nay, ứng dụng công nghệ thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng trong ngành công nghiệp logistics, có quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp logistics. 1.5.3. Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành Trong kinh doanh việc tạo ra cạnh tranh là việc rất dễ hiểu, các doanh nghiệp logistics cạnh tranh để dành thị phần cho mình, nhằm tạo ta lợi nhuận và uy tín cho doanh nghiệp. Logistics được quan tâm ở các quốc gia trên thế giới trong lĩnh vực kinh doanh từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 và có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở các nước phát triển. Logistics ở Việt Nam mới xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX và hiện nay vẫn đang đước đi những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực này. Bước vào hội nhập, các doanh nghiệp Logistics trong nước sẽ gặp không ít sự cạnh tranh. Tại hội thảo về phát triển dịch vụ logistics, do Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam phối hợp với báo Thương mại tổ chức, Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự nói rằng các doanh nghiệp dịch vụ logistics sắp tới sẽ đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn, khi Việt Nam thực hiện cam kết mở cửa thị trường dịch vụ này cho nhà đầu tư nước ngoài. Ông nói: “Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chúng ta đã cam kết cho nước ngoài được thiết lập ngay các doanh nghiệp liên doanh, với tỷ lệ góp vốn 49-51%, để thực hiện kinh doanh các dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi... Ba năm sau, tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài sẽ tăng lên và họ có thể thiết lập các công ty 100% vốn sau 5-7 năm”. SV: Nguyễn Thành Luân 15 Lớp: QTKD Thương mại 53A Đến nay, trong khi các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dịch vụ logistics trong lĩnh vực vận tải biển còn gặp nhiều khó khăn thì các tập đoàn hàng hải lớn thế giới đã và đang từng bước thâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước và ngày càng khẳng định vị trí lớn mạnh của mình như APL, Mitsui OSK, Maersk Logistics , NYK Logistics … Đây là những tập đoàn hùng mạnh, tính cạnh tranh rất lớn với bề dày kinh nghiệm, năng lực tài chính khổng lồ, có mạng lưới đại lý, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin kết nối rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao và đảm bảo khép kín quy trình hoạt động vận chuyển hàng hóa toàn cầu, đòi hỏi các doanh nghiệp Logistics trong nước phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện mình để không bị lép vế ngay trên “sân nhà” và vươn ra thế giới. 1.5.4. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế Về chính sách hội nhập, Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế thông qua những cải cách về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc trở thành thành viên chính thức của WTO đã đưa Việt Nam thành một quốc gia mở cửa về thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư từ đó nguồn cầu logistics sẽ tăng lên nhanh chóng: Vốn đầu tư nước ngoài. - Kể từ khi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu lực (1988), FDI vào VN ngày càng tăng cả về dự án, vốn đăng ký và số nước, vùng lãnh thổ. Tính đến hết năm 2012, tổng vốn FDI đăng ký là 242.613 triệu USD, vốn thực hiện là 102.551 triệu USD. Nguồn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và các nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho Việt Nam ngày càng tăng. Tính từ năm 1993 đến hết năm 2012, tổng vốn ODA cam kết đạt 76,176 triệu USD, giải ngân đạt 35,967 triệu USD, tương đương với 3,36% GDP. Thương mại quốc tế liên tục tăng đã thúc đẩy cho các doanh nghiệp Logistics phát triển hoạt động. - Thương mại quốc tế liên tục tăng đã thúc đẩy cho các doanh nghiệp logistics phát triển hoạt động. Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam từ năm 1991, đặc SV: Nguyễn Thành Luân 16 Lớp: QTKD Thương mại 53A biệt là từ năm 1995 đến nay đã không ngừng tăng trưởng và thực sự trở thành động lực chính, quan trọng của sự phát triển kinh tế. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu tương đối cao, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, nếu so sánh năm 2012 với năm 1986, thì kim ngạch xuất khẩu tăng gấp khoảng 145 lần (114.529 triệu USD/789,1 triệu USD) Hình 1.1 (Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam) Tuy nhiên, Việt Nam gia nhập WTO cũng mang lại nhiều thách thức khi doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh gay gắt với doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều năm trước các doanh nghiệp logistics Việt Nam được chính phủ bảo hộ khá kỹ thông qua các biện pháp ngăn chặn doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường trong nước, ngoại trừ một số doanh nghiệp logistics nước ngoài được thành lập trước năm 2005 khi luật Thương mại sửa đổi có quy định về ngành nghề logistics và các doanh nghiệp được thành lập với Hiệp định thương mại song phương. Tuy nhiên khi gia nhập WTO tồn tại và phát triển được hay không gần như tùy thuộc vào khả năng cạnh tranh của chính doanh nghiệp. Thực trạng này đặt các doang SV: Nguyễn Thành Luân 17 Lớp: QTKD Thương mại 53A nghiệp Việt Nam trước nhiều thách thức hơn cơ hội, buộc các doanh nghiệp phải tự củng cố mình khi mà ngành nghề liên quan đến logistics đã mở cửa hoàn toàn. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, thời gian, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng đến tay người tiêu dùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. Ngày nay vì tính hiệu quả mà các doanh nghiệp chuyển dần các hoạt động logistics không phải là thế mạnh của mình sang cho các doanh nghiệp logistics thực hiện. Như vậy dịch vụ logistics là những hoạt động giúp cho hoạt động logistics của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục mà không nhất thiết phải do chính doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực hiện. Ban đầu do doanh nghiệp không đủ khả năng kiểm soát toàn bộ hoạt động của mình khi qui mô mở rộng buộc doanh nghiệp phải thuê bên ngoài thực hiện các hoạt động trong chuỗi logistics. Dần dần, các doanh nghiệp phát hiện hiệu quả hơn nên đã chuyển sang thuê các doanh nghiệp dịch vụ tiến hành thực hiện thay mình các hoạt động logistics. Xu hướng trên thế giới cho thấy càng ngày các dịch vụ logistics càng đi sâu vào quá trình logistics của doanh nghiệp và dần dần trở thành đối tác không thể thiếu khi đảm nhận nhiệm vụ giá trị gia tăng liên quan đến thanh toán, dịch vụ khách hàng,… dần đi đến quản trị cả quá trình logistics. Vai trò của dịch vụ logistics đã được khẳng định rõ với những đóng góp cho ngân sách quốc gia, giúp tăng năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung của doanh nghiệp nói riêng…. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp logistics Việt Nam phải đối mặt với những thách thức nhiều hơn cơ hội, đâu là những thế mạnh doanh nghiệp Việt Nam cần khai thác để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức cho sự cạnh tranh và phát triển của mình. Phân tích thực trạng hoạt động của họ sẽ giúp chúng ta tìm ra những giải pháp thiết thực nhất. SV: Nguyễn Thành Luân 18 Lớp: QTKD Thương mại 53A CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS Ở VIỆT NAM. Trong vòng 5 năm trở lại đây ở Việt Nam ngành logistics tuy đã có tốc độ phát triển nhanh nhưng vẫn chưa có số liệu thống kê đầy đủ, chính thức từ các ban ngành và tổ chức Nhà nước. Do vậy phần thực trạng kinh doanh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam chủ yếu dựa trên số liệu được tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau. Trước tiên, chúng ta đi vào tìm hiểu 1. Khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của các doanh nghiệp logistics trong nước. Hoạt động vận tải và giao nhận thông thường với danh nghĩa là công ty logistics, các công ty cũng chỉ mới đáp ứng được 25% nhu cầu vận tải và giao nhận của thị trường, 75% còn lại đành phải nhường cho phía các công ty nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ dành được một phần rất nhỏ trong thị trường dịch vụ logistics. Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì các doanh nghiệp hay các công ty vận tải biển chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các doanh nghiệp nước ngoài. Điều này thực sự là một sự thua thiệt lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi có 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển, sản lượng vận tải biển của Việt Nam những năm gần đây có sự giảm nhẹ nhưng đây vẫn là một thị trường mơ ước của các tập đoàn nước ngoài. Trong thời kỳ hội nhập, nếu chúng ta không có những biện pháp kịp thời thì nguy cơ bị thâu tóm là không thể tránh khỏi. SV: Nguyễn Thành Luân 19 Lớp: QTKD Thương mại 53A
- Xem thêm -