Tài liệu Giải pháp phát hành trái phiếu quốc tế của việt nam luận văn thạc sĩ

  • Số trang: 97 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 62 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 11429 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---- K --- TRẦN THỊ TRÚC GIANG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA KIỂM TRA TẠI CỤC THUẾ TPHCM Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng Mã số: 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS UNG THỊ MINH LỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan các số liệu trong luận văn này được thu thập từ nguồn thực tế. Những ý kiến đóng góp và giải pháp đề xuất là của cá nhân tôi từ việc nghiên cứu và rút ra từ thực tế làm việc tại Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh CÁC TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN BCTC: Báo cáo tài chính BHXH: Bảo hiểm xã hội CBCC: Cán bộ công chức CCT: Chi cục thuế CHLB: Cộng hoà liên bang CP: Cổ phần DN: Doanh nghiệp ĐTNT: Đối tượng nộp thuế FDI: Foreign Direct Investment GDP: Tổng sản phẩm quốc nội GTGT: Giá trị gia tăng KK-KKT: Kê khai kế toán thuế NN: Năm nay NNT: Người nộp thuế NT: Năm trước NSNN: Ngân sách nhà nước P.: Phòng QĐKT: Quyết định kiểm tra QĐXP: Quyết định xử phạt QL: Quản lý TCT: Tổng cục thuế TNCN: Thu nhập cá nhân TNDN: Thu nhập doanh nghiệp TNHH: Trách nhiệm hữu hạn Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh TSCĐ: Tài sản cố định TTĐB: Tiêu thụ đặc biệt UBND: Uỷ ban nhân dân VAT: Thuế giá trị gia tăng VC: Viên chức VPHC: Vi phạm hành chính XNK: Xuất nhập khẩu DANH MỤC CÁC BẢNG- HÌNH VẼ Số hiệu Tên hình Trang Bảng 1 GDP qua các năm của Thành phố Hồ Chí Minh 23 Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng và đóng góp vào tăng trưởng của các ngành 24 Bảng 3 Kết quả thực hiện công tác thanh tra của 4 phòng thanh tra Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh 35 Bảng 4 Kết quả thực hiện công tác kiểm tra 35 Bảng 5 Kết quả kiểm tra hồ sơ thuế tại trụ sở NNT 37 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU.................................................................................................................................. Trang 1 Lý do chọn đề tài................................................................................................................................. Trang 1 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn ....................................................................................................... Trang 1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………………………Trang 2 Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………………………………………. Trang 2 Kết cấu của luận văn ……………………………………………………………………………........ Trang 2 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ KIỂM TRA – THANH TRA THUẾ …….. Trang 3 1.1 Một số lý luận cơ bản về thuế………………………………………………………………….. Trang 3 1.2.1 Khái niệm…………………………………………………………………………………….. Trang 3 1.2.2 Bản chất ……………………………………………………………………………………... Trang 4 1.2.3 Chức năng …………………………………………………………………………………… Trang 10 1.2.4 Phân loại …………………………………………………………………………………….. Trang 14 1.2 Lý luận cơ bản về thanh tra kiểm tra thuế …………………………………………………… Trang 19 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm ……………………………………………………………………… Trang 19 1.2.2 Các nội dung cơ bản ………………………………………………………………………….Trang 21 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ……................................................................................................ Trang 23 2.1 Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh………….…… Trang 23 2.1.1 Về tình hình phát triển kinh tế……………………………….………....……….....………… Trang 23 2.1.2 Về tình hình xã hội..............................................……...........……………………………….. Trang 25 2.2 Tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế Tp.Hồ Chí Minh………................ Trang 26 2.2.1 Chức năm nhiệm vụ phòng Kiểm tra thuế………………………………………………….... Trang 28 2.2.2 Chức năm nhiệm vụ phòng Thanh tra thuế…………………………………………………... Trang 30 2.3 Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra kiểm tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM…………… Trang 31 2.3.1 Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM…………………………………… Trang 31 2.3.2 Công tác xây dựng kế hoạch kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế của Cục thuế Tp.HCM……. Trang 33 2.3.3 Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế của Cục thuế Tp.HCM………………………………… Trang 34 2.4 Đánh giá thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế và quản lý thuế tại Cục thuế Tp.HCM…… Trang 43 2.4.1 Ưu điểm............................................................................…………………………………… Trang 43 2.4.2 Hạn chế...........................................................................................................................……. Trang 45 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH............................................................... Trang 51 3.1 Định hướng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế Tp.Hồ Chí Minh trong thời gian tới.......................................................................................................................................... Trang 51 3.2 Một số gợi ý giải pháp.................................................................................................………… Trang 52 3.2.1 Nhóm giải pháp ở tầm vĩ mô............................................…………………………………… Trang 52 3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể từ phía Cục thuế Tp.HCM…….......................................................... Trang 56 -1- Lý do chọn đề tài Công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp đã và đang được ngành thuế Việt Nam áp dụng, trong đó thanh tra kiểm tra thuế là quan trọng nhất. Năm 2006 là năm đầu tiên Việt Nam thực hiện cải cách công tác thanh tra thuế trên cơ sở thu thập và phân tích thông tin, lựa chọn các đơn vị có dấu hiệu gian lận thuế để tiến hành kiểm tra, vừa không gây phiền hà cho các doanh nghiệp không vi phạm, vừa tránh lãng phí nguồn lực của cơ quan thuế. Từ ngày 01/01/2007, mô hình quản lý thuế theo chức năng được mở rộng triển khai đến 64 tỉnh, thành phố trong cả nước, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi hoàn toàn, sâu rộng sang mô hình quản lý thuế theo chức năng của ngành thuế Việt nam. Việc chuyển từ mô hình quản lý theo đối tượng với mục tiêu “số thu ngân sách” làm thước đo, sang mô hình quản lý theo chức năng với mục tiêu “tuân thủ” làm thước đo. Theo đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong chương trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế trong giai đoạn hiện nay. Thanh tra kiểm tra thuế trong thời gian qua không chỉ có những đóng góp đáng kể vào chống thất thu thuế mà còn đảm bảo công bằng, động viên đối với các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực của mình đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, tại Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, công tác thanh tra kiểm tra thuế vẫn còn có những hạn chế đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra. Với sự đòi hỏi cấp thiết đó, tôi chọn đề tài: “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA KIỂM TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” làm luận văn thạc sỹ kinh tế. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích: Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề chung về công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM trong lộ trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế. Qua đó, rút ra những ưu, nhược điểm, những vấn đề -2- còn tồn tại cần phải tiếp tục hoàn thiện. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra của một số nước trên thế giới, cùng với lộ trình thực hiện chương trình cải cách từ đó đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế phù hợp với chương trình cải cách của ngành thuế và thực tiễn tại Cục thuế Tp.HCM. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của việc tổ chức, thực hiện công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế ở Cục thuế Tp.HCM hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra kiểm tra thuế góp phần đảm bảo công bằng, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thực hiện nghiêm các luật thuế và chống thất thu ngân sách Nhà nước. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp định tính. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Lý luận cơ bản về thuế và công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra kiểm tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM. Chương 3: Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra kiểm tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM. -3- CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ KIỂM TRA – THANH TRA THUẾ 1.1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ 1.1.1 Khái niệm Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tùy vào bản chất của nhà nước và cách thức nhà nước sử dụng mà các nhà kinh tế có quan điểm khác nhau về thuế. Theo khái niệm được sử dụng phổ biến, thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân nhằm trang trải mọi chi phí vì lợi ích chung. Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn. Nộp thuế cho nhà nước không có nghĩa là cho nhà nước mượn tiền hay gửi tiền vào quỹ ngân sách nhà nước hoặc là mua một dịch vụ công. Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân. Có một câu hỏi khá quan trọng, đó là nhà nước thu thuế để làm gì. Nếu mọi người nộp thuế đều đi tìm câu trả lời thì họ sẽ nhận thấy rằng thực chất nộp thuế chính là một hình thức chuyển chi tiêu cá nhân thành chi tiêu công- chi tiêu vì lợi ích chung của toàn xã hội. Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc. Để bảo đảm tập trung thuế trên phạm vi toàn xã hội, chính phủ phải cậy nhờ vào hệ thống pháp luật nên thuế thường được quy định dưới dạng văn bản luật hay pháp lệnh. Tất nhiên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi phạm pháp và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự. Thuế xây dựng trên nền tảng giá trị thặng dư do nền kinh tế tạo ra, tức là thuế gắn chặt với kinh tế. Do đó thuế đem lại số thu to lớn và bền vững gấp bội so với các khoản thu khác của nhà nước, song ý nghĩa quan trọng hàm chứa ở đây là, cách duy nhất làm cho thuế ngày càng nhiều và ổn định chính là phát triển kinh tế. Như vậy, -4- chăm lo cho sự hưng thịnh kinh tế cũng là chăm lo nguồn thu tương lai; và biện pháp giảm thuế để thúc đẩy sản xuất kinh doanh còn chứa đựng ý nghĩa đầu tư- đầu tư bằng thuế[6]. Hệ thống thuế gồm nhiều sắc thuế nhằm thực hiện nhiều mục tiêu. Về kết cấu của một sắc thuế, tuy các loại thuế khác nhau, nhưng chúng đều có một kết cấu chung, và thường được trình bày theo một trình tự thống nhất, gồm các yếu tố cấu thành chủ yếu như: Tên gọi, đối tượng nộp thuế (người nộp thuế), đối tượng tính thuế, thuế suất, chế độ giảm thuế và miễn thuế, tổ chức thực hiện (hành thu). 1.2.2 Bản chất: Cho tới nay chưa xác định rõ vùng lãnh thổ nào trên trái đất khai sinh thuế, song một điều không thể phủ nhận là thuế gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Nói chính xác, thuế là một sản phẩm hay công cụ của nhà nước. Khi một sắc thuế được ấn định, thu nhập được chuyển dịch từ dân chúng về phía chính phủ mà không có bất kỳ sự đối giá trực tiếp. Đánh thuế là đặc quyền của nhà nước, đặc quyền này được quy định bằng luật pháp. Nhưng không phải lúc nào quyền đánh thuế cũng được sử dụng theo mong muốn của dân chúng. Do đó có thể xảy ra xung đột giữa chính phủ và những công dân của mình trong quá trình thu thuế[13]. Thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của nhà nước. Bản chất của Nhà nước quy định bản chất của thuế. Về mặt lý luận, bản chất của nhà nước vốn mang tính giai cấp. Không có một nhà nước phi giai cấp mà chỉ có nhà nước của giai cấp nào mà thôi. Vì vậy, suy cho cùng bản chất thuế cũng mang tính giai cấp. Có thể hiểu được điều này, thông qua nội dung cuộc nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu nhân dân địa phương tại Thanh Hoá, ngày 13-6-1957, như sau: “…Trước kia phải nộp thuế, nay dân chủ cũng phải nộp thuế. Trước ta nộp thuế là nộp cho Tây, chúng lấy mồ hôi nước mắt của nhân dân ta mà làm giàu cho -5- chúng nó, để xây dựng bộ máy áp bức bóc lột đồng bào ta. Nhưng nay ta đóng thuế là để làm lợi cho ta. … Tóm lại, muốn xây dựng nước nhà, Chính phủ phải có tiền, tiền đó do đồng bào góp lại. Trước hết là đồng bào nông dân đông nhất, rồi đến công thương. Nếu không có tiền thì Chính phủ không xây dựng được. Vì vậy, đồng bào phải giúp Chính phủ, nghĩa là đồng bào phải nộp thuế” - Hệ số huy động thuế và khả năng thụ thuế Mặc dù, thuế được coi là công cụ chủ yếu để huy động tập trung nguồn lực tài chính cho nhà nước, nhưng không có nghĩa là nhà nước có thể quy định mức động viên thuế cao để tăng thu thuế bằng mọi giá, mà mức độ động viên thuế chỉ có một giới hạn nhất định. Nếu nhà nước dùng quyền lực để tập trung quá mức phần thu nhập từ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào cho ngân sách nhà nước, thì phần GDP còn lại dành cho các doanh nghiệp và cá nhân sẽ giảm xuống. Đến một lúc nào đó, nếu họ nhận thấy rằng công sức bỏ vào kinh doanh, vào làm việc được bù đắp không thoả đáng thì họ sẽ nghỉ không kinh doanh hoặc chuyển sang kinh doanh ngầm và tìm mọi cách để trốn thuế. Như vậy, có thể thấy rằng, khả năng thu thuế tối đa cho ngân sách nhà nước là khoản thu nhập mà các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng giành ra để trả thuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có của họ. Đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân, khả năng thu thuế của một quốc gia được phản ánh thông qua tỷ lệ phần trăm của GDP được động viên vào ngân sách nhà nước được gọi là hệ số huy động thuế. Hệ số huy động thuế không chỉ là cơ sở chính để tham khảo việc các quốc gia xây dựng chính sách thuế của họ mà còn là một dấu hiệu để so sánh mức độ huy động thuế giữa các quốc gia khác nhau. Hệ số huy động thuế này bao nhiêu thì ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập sau thuế và gián tiếp đến mức tiêu dùng và mức sống -6- của nhân dân. Đó là điều mà các quốc gia cần cân nhắc. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, hệ số huy động thuế có thể phản ảnh xu thế dịch chuyển dòng vốn, lao động giữa các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, để gia tăng sự phồn vinh trong cộng đồng dân cư, tất cả các quốc gia xem thuế là nguồn thu chính, phải đưa ra một mức thuế hợp lý trong chính sách thuế của mình. Độ lớn của hệ số huy động thuế vì thế trở thành một trong những dấu hiệu quan trọng để đánh giá việc hoàn thiện hơn của một nền kinh tế. Nếu gọi T là tổng số thuế có thể thu được vào Ngân sách Nhà nước thì hệ số huy động thuế là: T/GDP Khả năng thụ thuế là tỷ lệ tối đa từ thu nhập mà các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng trích ra để trả thuế mà không làm thay đổi hoạt động vốn có của họ. Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, khả năng thụ thuế của một đất nước cho thấy tỷ phần bình quân của thu nhập được thu dưới dạng thuế trong một quốc gia. Khả năng thụ thuế tuỳ thuộc vào bản chất và trạng thái kinh tế, truyền thống của mỗi quốc gia, sự hiểu biết và thái độ của dân chúng đối với các chương trình hành động của chính phủ và sức mạnh quyền lực của chính phủ. Khả năng thụ thuế là một khái niệm lý thuyết. Nó cho chúng ta thấy ranh giới phân chia hợp lý thu nhập xã hội giữa các chủ thể của nền kinh tế. Nói chung, nó nhạy cảm như chính thuế vậy. Nếu nhà nước động viên thuế chưa đạt giới hạn khả năng thụ thuế thì sự tập trung nguồn lực xã hội vào tay nhà nước chưa thật đầy đủ. Nếu động viên vượt giới hạn thuế thì số thu cũng giảm sút, đấy là hình thức thất thu thuế[11]. - Chuyển thuế (tax shift) [11] Khi một sắc thuế được áp dụng thì đối tượng chịu tác động đầu tiên là người nộp thuế. Người này có thể là các doanh nghiệp, người làm công ăn lương,... Người này có thể chính mình gánh chịu sắc thuế, hoặc có thể chuyển gánh nặng thuế cho người khác. Trong cả hai trường hợp có một loạt những hậu quả phụ thuộc chứa đựng ít nhiều ý nghĩa kinh tế. Khi người trả thuế thứ nhất chịu gánh nặng thuế thì sự -7- kiện này gây ảnh hưởng đến thu nhập sau thuế, và qua đó ảnh hưởng đến mức cầu về yếu tố sản xuất. Nếu thuế được di chuyển sang người thứ hai, giá cả hàng hóa lên cao và kéo theo sự sụt giảm tương ứng trong thu nhập khả dụng của họ. Người thứ nhất có thể chuyển 100% gánh nặng thuế, chuyển một phần gánh nặng thuế hoặc không chuyển được thuế. Chuyển thuế chỉ được thực hiện khi có sự tiêu dùng xã hội về một sản phẩm nào đó. Lúc này, người ta sẽ tìm mua sản phẩm dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của mình. Tận dụng cơ hội đó, người sản xuất tính thuế thêm vào giá bán rồi bán sang người mua, thuế đã được chuyển đi. Giả sử có một loại hàng hóa đang được bán với giá 40.000 đồng khi nhà nước không đánh thuế. Nay chính phủ ấn định thuế suất 4.000 đồng trên một sản phẩm, người có nghĩa vụ nộp thuế là người bán. Giá Đường cung sau khi đánh thuế Đường cung trước khi đánh thuế Giá do người tiêu dùng trả sau khi đánh thuế E1 G Giá ban đầu Giá doanh nghiệp nhận sau khi nộp thuế A 41.600 B Eo H 37.600 O Q1 Q0 Số lượng Để có được doanh thu thuần vẫn là 40.000 đồng, người sản xuất giờ đây phải bán với giá 44.000 đồng, điều này làm đường cung dịch lên đúng bằng khoản -8- thuế. Giá cân bằng mới tăng lên, nhưng không phải 4.000 đồng mà chỉ 1.600 đồng. Như vậy, mặc dù các nhà lập pháp xác định doanh nghiệp là người trả thuế, song họ đã chuyển vào người tiêu dùng được 1.600 đồng, còn họ chỉ phải chịu 2.400 đồng. Doanh thu thuần trước khi đánh thuế: Diện tích OBEoQo. Doanh thu thuần sau khi đánh thuế: Diện tích OCHQ1. Tổng thuế của nhà nước: Diện tích CAE1H. Mất mát trong thặng dư tiêu dùng: Diện tích GE1Eo. Mất mát trong thặng dư của nhà sản xuất: Diện tích HGEo. Tổng mất mát xã hội: Diện tích HE1Eo. Chuyển thuế thuận là loại chuyển thuế làm cho giá cả của một vật biến chuyển khỏi mức trước khi có thuế, theo chiều hướng tăng lên. Nói cách khác, chuyển thuế thuận là loại thuế được chuyển từ người bán sang người mua. Chuyển thuế nghịch là loại chuyển thuế làm cho giá cả một vật biến chuyển xuống dưới mức trước khi có thuế, tức là người bán chịu thuế thay cho người mua. Chuyển thuế thuận phổ biến và hợp lý hơn. Muốn biết thuế đã được chuyển thuận hay chuyển nghịch, chúng ta phải xác định được lúc đầu ai là người mà chính phủ đánh thuế. Nếu khởi đầu, đánh thuế vào người bán, ta kết luận thuế đã thuận chuyển được một phần. Nếu khởi đầu thuế đánh vào người mua chứ không phải người bán, ta nói thuế đã nghịch chuyển một lần. - Sơ lược về quá trình phát triển của thuế [2] Trong khoảng thời gian dài của lịch sử từ đầu chế độ nô lệ đến đầu chế độ tư bản, nhà nước sử dụng thuế thu được phục vụ chủ yếu cho mục đích phi kinh tế như xây thành lũy, đắp các tuyến phòng thủ, đúc vũ khí, nuôi binh lính, trả lương cho quan lại. Có thể nói, nhà nước thời kỳ ấy không chi một khoản nào cho mục đích kinh tế. Tác dụng duy nhất của thuế lúc này là công cụ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước để nuôi bộ máy của mình. -9- Khi xã hội loài người chuyển sang hình thái tư bản chủ nghĩa, kéo theo nó là những biến đổi sâu sắc về kinh tế- xã hội, nhà nước nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong việc điều hành nền kinh tế, từ đó ngày càng can thiệp nhiều hơn, mạnh mẽ hơn vào tiến trình kinh tế- xã hội của đất nước. Tất cả các hoạt động của nhà nước thời kỳ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi một nguồn vật chất lớn hơn hẳn thời kỳ trước đây. Nếu chỉ dựa vào các sắc thuế vốn có (thuế đánh vào ruộng đất, thuế đánh vào nhân thân,...) thì không đủ và kém công bằng, nên nhà nước mở rộng nguồn thu bằng cách đặt thêm nhiều sắc thuế nhằm vào nhiều đối tượng khác nhau. Một hệ thống thuế với thuế suất đa dạng, linh hoạt hình thành. Thuế trở nên tinh xảo, vừa mang lại một năng suất thu dồi dào, vừa thực hiện được mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế. Khi quyền lực tối cao trong xã hội ngày càng được chuyển sang tay dân chúng (chế độ dân chủ) thì người đại diện của nhân dân là nhà nước càng phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện của xã hội, đến khía cạnh công bằng xã hội, đến thất nghiệp, người già, trẻ em không nơi nương tựa, người mất khả năng tạo thu nhập. Để làm và cần thiết phải làm được việc ấy, nhà nước phải tìm cách trích bớt một phần thu nhập của những người giàu có hay của các công ty thông qua thuế TNCN và thuế thu nhập công ty, chuyển chúng vào ngân sách nhà nước để chi dùng cho các mục tiêu xã hội. Ở đây thuế lại được xử lý một cách khôn khéo hơn. Một mặt, thuế không hạn chế ý chí làm giàu của cá nhân- một động lực thúc đẩy xã hội phát triển; mặt khác, gia tăng lượng thu nhập quốc dân vào tay nhà nước; và cuối cùng vẫn giữ được tính nhân đạo và công bằng. Sự phát triển của thuế gắn liền với sự phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển, thuế càng đa dạng, ý niệm về thuế ngày càng trở nên hết sức tự nhiên. Có thể nói bản chất của một nhà nước không thể hiện ra trong các tôn chỉ nhà nước đó đưa ra, mà nó thể hiện rất cụ thể qua việc sử dụng tiền thuế của nhà nước đó -10- trong việc điều hành đất nước. Việc đánh giá một nhà nước có thật sự do dân, vì dân hay không, chỉ có thể đoán chắc trong việc nhận định và đánh giá mục đích và hiệu quả của việc sử dụng tiền thuế mà người dân đóng góp. 1.1.3. Chức năng[5] Trong thế kỷ XX thì ý kiến phổ biến là thuế nên chủ yếu giữ vai trò tài trợ cho chính phủ nhưng cho đến nay thì thuế còn được sử dụng để đạt đến nhiều mục tiêu khác nhau. Thông thường nhiều tác giả cho rằng thuế có hai chức năng chủ yếu đó là chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế. Một cách nhìn hơi khác- cũng tương đối hữu ích của một chuyên giả nổi tiếng về thuế của Mỹ là Richard A. Musgrave cho rằng thuế có ba mục tiêu chính là phân phối các nguồn lực, tái phân phối thu nhập và ổn định nền kinh tế. Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản, đặc thù nhất mà tất cả các nước đều phải dựa vào đó. Thông qua chức năng này các quỹ bằng tiền của Nhà nước được hình thành. Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất bảo đảm cho sự hoạt động của và tồn tại của Nhà nước. Khi bàn đến chức năng tài chính của Thuế, một số người thường đơn giản cho rằng: Thuế là phương tiện tạo nguồn thu nhập - theo nghĩa thông thường trưng thu tiền - đối với Nhà nước. Điều đó không hoàn toàn chính xác, bởi vì Nhà nước có thể có tiền bằng nhiều cách khác nhau như: Yêu cầu ngân hàng trung ương mở rộng tín dụng, phát hành thêm tiền ... Nhưng việc sử dụng những phương cách này đương nhiên phải được Nhà nước cân nhắc vì chúng chứa đựng những mầm mống của nguy cơ lạm phát. Bởi vậy, ngoài việc phát hành tín dụng để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, nhà nước có thể sử dụng Thuế một cách thường xuyên và lâu dài. Mục tiêu thực sự của chính sách thuế, theo nhiều nhà kinh tế là “rút bớt sức mua khỏi những người đóng thuế, để những người đóng thuế từ bỏ sự kiểm soát đối với tài nguyên kinh tế và làm cho tài nguyên này thành khả dụng đối với Nhà nước”, theo giáo sư John Mikesell, sự chuyển dịch tài nguyên đó bao gồm sự chuyển dịch khả năng mua hàng giữa các nhóm người trong khu vực các doanh nghiệp và sự -11- dịch chuyển quyền kiểm soát đối với khả năng mua hàng từ khu vực các doanh nghiệp sang tay nhà nước. Lịch sử đã cho thấy chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập có vị trí ngày càng tăng, nhất là vào thế kỷ XX, là thế kỷ được đặc trưng bởi sự tăng lên chưa từng có của thu nhập của nhà nước có nguồn gốc từ thuế. Điều này được giải thích bởi sự mở rộng các chức năng của nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của nhà nước vào các quá trình kinh tế. Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế được nhà nước vận dụng dẫn đến kết quả là diễn ra quá trình “nhà nước hoá” một bộ phận GDP dưới hình thức tiền tệ; tạo điều kiện khách quan vô cùng cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế. Do đó, chính chức năng phân phối và phân phối lại, trong một chừng mực rất đáng kể, đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của Thuế. Chức năng điều tiết kinh tế của thuế. Theo chức năng này, phải xem Thuế như một tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Chức năng này không tách rời khỏi chức năng phân phối và phân phối lại của thuế, mà hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ. Khi sử dụng thuế với mục đích huy động một bộ phận tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào tay mình thì nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất. Nếu các nhà nước ở Liên xô và Đông Âu trước đây hầu như thụ động trong việc vận dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế, thì tại các nước tư bản công nghiệp phát triển và ngày nay kể cã tại các nước đang phát triển, chức năng điều tiết kinh tế ngày càng được chú ý và càng được tăng cường đáng kể. Tại các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển có hệ thống thuế ổn định, thuế tác động vào quá trình sản xuất các doanh nghiệp trên cả 3 yếu tố mà chúng sử dụng: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Công nhân -12- và người làm thuê, sau khi nhận được tiền lương sẽ chỉ dùng số tiền này cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ và nộp thuế. Vào lúc này, thuế sẽ tác động đến quá trình sản xuất theo 3 hướng: + Thứ nhất, thuế sẽ ảnh hưởng đến mức độ và cơ cấu của tổng cầu, đồng thời thông qua cơ chế của mức cầu thị trường có thể thúc đẩy hoặc kiềm hãm sản xuất. Điều này phụ thuộc rất lớn vào thu nhập mà người dân sử dụng- thông thường là dành toàn bộ cho tiêu dùng- và vì thế sự thay đổi mức đánh thuế vào tiêu dùng ngay lập tức tác động vào mức cầu và nói chung, ảnh hưởng đến tổng mức cầu có khả năng thanh toán được của nền kinh tế. Nói một cách cụ thể hơn, ở đây thuế có hai tác dụng (Samuelson và Nordhaus, 1995): * Đầu tiên, thuế làm giảm thu nhập của nhân dân. Với việc làm nhỏ đi phần thu nhập có thể chi tiêu cho các hộ gia đình, thuế cao hơn có xu hướng làm cho các hộ gia đình giảm mức chi cho tiêu dùng của họ, do đó làm giảm mức cầu và GNP thực tế. * Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức cung sản phẩm. Ví dụ: Vào năm 1981 do chính quyền Reagan đưa ra một số ưu đãi về thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư kinh doanh mới nên các khoản đầu tư vào các ngành kinh doanh máy móc, nhà máy đã gia tăng. + Thứ hai, mức độ đánh thuế trên thu nhập cũng ảnh hưởng đến việc xác định tiền lương, bởi vì khi tính toán tiền lương, giới chủ nhân và người làm thuê bao giờ cũng chú ý đến tiền thuế như là một yếu tố của tiền lương phải được xem xét tới. + Thứ ba, thuế còn tác động đến việc mua sắm, sử dụng và phục hồi TSCĐ trong doanh nghiệp, thông qua các quy định của nhà nước về hình thành, sử dụng qũy khấu hao. Như mọi người đều biết, TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, thường xuyên bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình cho đến khi không còn tác dụng nữa. Sau đời phục vụ của mình, TSCĐ cần được phục hồi. Việc phục hồi này được tiến -13- hành bằng cách lập quỹ khấu hao, là một loại quỹ, được hình thành từ một bộ phận lợi tức không phải chịu thuế. Giữa hai chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế của thuế tồn tại mối quan hệ chặt chẽ. Mối quan hệ này- xét về bản chất- phản ánh sự thống nhất của hai mặt đối lập. Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết kinh tế. Một khi các nguồn tài chính nhà nước tập trung được dưới dạng thuế gia tăng đáng kể thì lúc đó việc này lại tạo điều kiện khách quan để nhà nước tác động trên diện tích rộng và cả theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh kế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại. Do đó, các chức năng của thuế, trước có quan hệ hỗ tương và tác động lẫn nhau. Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn tồn tại giữa chúng, bởi lẽ mỗi chức năng phản ánh từng mặt nhất định của các quan hệ có tính chất thuế vẫn luôn luôn mâu thuẫn với nhau. Chức năng phân phối và phân phối lại phản ánh các mối quan hệ giữa người nộp thuế và nhà nước, còn chức năng kinh tế lại phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước hướng tới người nộp thuế. Ngay trong chức năng phân phối và phân phối lại đã chứa đựng những mầm mống của sự phát triển mâu thuẫn giữa một bên là sự cần thiết mở rộng nguồn thu về thuế của nhà nước với một bên là sự phản kháng hoặc sự không hài lòng của các thành viên trong xã hội khi nộp thuế. Mâu thuẫn của chức năng điều tiết kinh tế thể hiện ở chỗ: Nhu cầu thực tế của sự can thiệp của nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh đụng chạm phải lợi ích kinh tế của từng nhà doanh nghiệp. Trong khi hình thành và vận dụng một chính sách thuế, nhiều chính phủ thường hay mắc sai lầm: Không tôn trọng đầy đủ cả hai
- Xem thêm -