Tài liệu Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương hải dương

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 35 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương MỤC LỤC MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI........................................................................................................2 1.1. Tín dụng ngân hàng......................................................................................2 1.1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại..........................................2 1.1.2. Vai trò của tín dụng..................................................................................2 1.1.3. Các hình thức cấp tín dụng trong ngân hàng thương mại.........................5 1.2. Rủi ro tín dụng ngân hàng...........................................................................9 1.2.1. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng..............................................9 1.2.2. Khái niệm rủi ro tín dụng.......................................................................11 1.2.3. Phân loại rủi ro tín dụng.........................................................................12 1.2.4. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại...............13 1.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng......................................................17 1.2.6. Tác động của rủi ro tín dụng...................................................................18 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HẢI DƯƠNG...............................19 2.1. Giới thiệu tổng quan về chi nhánh ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.......19 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng Ngoại thương Hải Dương...........................................................................................19 2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức...........................................................................20 2.1.3. Kết quả hoạt động của chi nhánh trong những năm gần đây..................26 2.2. Thực trạng về rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.................................................................................................................. 33 2.2.1. Thực trạng hoạt động tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương........................................................................................................33 2.2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.......................................................................................................37 2.3. Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.............................................................................................39 2.3.1. Những kết quả đã đạt được.....................................................................39 SVTH: Nghiêm Đức Linh Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương 2.3.2. Những tồn tại trong việc hạn chế rủi ro của chi nhánh và nguyên nhân. 40 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HẢI DƯƠNG...............44 3.1. Định hướng phát triển của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.................................................................................................................44 3.2. Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.............................................................................................44 3.2.1. Hoàn thiện công tác tổ chức điều hành...................................................44 3.2.2. Hoàn thiện chất lượng công tác thu thập thông tin, thẩm định dự án......45 3.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ......................................................46 3.2.4. Tăng cường vốn tự có.............................................................................47 3.2.5. Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát nội bộ về tín dụng...........................47 3.2.6. Hoàn thiện quy trình cho vay.................................................................47 3.2.7. Hiện đại hóa công nghệ thông tin ngân hàng..........................................48 3.2.8. Ngăn ngừa các khoản vay dẫn tới nợ quá hạn........................................48 3.2.9. Nâng cao chất lượng chính sách đối với khách hàng..............................49 3.3.Kiến nghị.......................................................................................................50 3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước.........................................................................50 3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước.......................................................50 KẾT LUẬN............................................................................................................52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................53 SVTH: Nghiêm Đức Linh Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT NHTM Ngân hàng thương mại RRTD Rủi ro tín dụng NHNT Ngân hàng Ngoại thương VCB Vietcombank NHNN Ngân hàng Nhà nước QLRR Quản lý rủi ro TMCP Thương mại cổ phần SVTH: Nghiêm Đức Linh Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU Sơ đồ 2.1: Bảng 2.1: Bảng 2.1: Bảng 2.2: Bảng 2.3: Bảng 2.4: Bảng 2.5: Bảng 2.6: Bảng 2.7: Bảng 2.8: Bảng 2.9: Bảng 2.10: Bảng 2.11: Bảng 2.12: Bảng 2.13: Mô hình tổ chức.................................................................................21 Tổng hợp cơ cấu lao động qua các năm.............................................22 Số liệu thống kê tình hình thu nhập của chi nhánh trong 5 năm từ 2007-2011..........................................................................................27 Cơ cấu về vốn của chi nhánh trong 5 năm từ 2007-2011...................28 Tình hình cho vay theo ngành kinh tế................................................31 Số lượng các loại thẻ chi nhánh VCB Hải Dương phát hành giai đoạn 2007 – 2011.......................................................................................32 Số lượng khách hàng của chi nhánh VCB Hải Dương giai đoạn 2007 – 2011......................................................................................33 Dư nợ tín dụng tại chi nhánh VCB Hải Dương .................................33 Phân loại theo chất lượng tín dụng của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.............................................................................34 Phân loại tín dụng theo thành phần kinh tế của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương..................................................................34 Phân loại tín dụng theo ngành nghề của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.............................................................................35 Phân loại tín dụng theo kỳ hạn của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.............................................................................36 Các khoản mục nợ có vấn đề của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.........................................................................................38 Nợ quá hạn phân theo khả năng thu hồi của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương..................................................................38 Nợ quá hạn phân theo loại tiền của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương.............................................................................39 SVTH: Nghiêm Đức Linh Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương LỜI MỞ ĐẦU Một trong những đặc điểm nổi bật của nền kinh tế trong những thập niên gần đây là sự phát triển rầm rộ và sôi động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Trong thời đại ngày nay, với trình độ phát triển cao của nền kinh tế - xã hội, thị trường ngày càng mở rộng và phát triển theo mối quan hệ kinh tế khu vực và quốc tế. Đây là điều kiện môi trường thuận lợi để các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng phát triển. Tuy nhiên mức độ rủi ro tiềm ẩn trong nền kinh tế hiện đại cũng nhiều hơn gắn liền với những cơ hội và thách thức mà nền kinh tế hội nhập mang lại. Đặc biệt là đối với rủi ro tín dụng, nếu rủi ro tín dụng xảy ra xuất hiện xảy ra sẽ có tác động rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng, cao hơn nó tác động ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng bởi những đặc thù trong hoạt động tín dụng, hoạt động kinh doanh ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề khó khăn nhưng rất bức thiết. Đặc biệt đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Thực tế Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là một ngân hàng lớn mạnh, có kinh nghiệm và uy tín trên thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam. Tuy vậy trong thời gian gần đây do biến động lớn của nền kinh tế và sự cạnh tranh khắc nghiệt giữa các ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương nói chung và chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong rủi ro tín dụng. Sau thời gian thực tập tại chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Hải Dương, trên cơ sở những kiến thức tích lũy được trong nhà trường kết hợp với những kinh nghiệm thực tiễn thu được trong quá trình thực tập, với mong muốn phân tích các nguyên nhân của rủi ro tín dụng để góp phần đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế các rủi ro tín dụng, em đã nghiên cứu và đi sâu vào đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hải Dương” Kết cấu khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương: Chương 1: Chương 2: Chương 3: Tổng quan về rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Dương SVTH: Nghiêm Đức Linh 1 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Tín dụng ngân hàng 1.1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán tiền, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với tất cả các tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng là xoay quanh việc kinh doanh tiền tệ, lượng vốn tự có của ngân hàng thường nhỏ hơn rất nhiều so với nhu cầu vay vốn của khách hàng do vậy ngân hàng thương mại thường phải huy động vốn từ rất nhiều nguồn khác nhau, sau đó sẽ đầu tư trở lại nền kinh tế. Đây chính là nguồn gốc của hoạt động tín dụng ngân hàng. Tín dụng là một giao dịch về tài sản có thể là tiền hoặc hàng hóa giữa người cho vay và người đi vay, trong đó người cho vay sẽ giao tài sản cho người đi vay theo đúng như thỏa thuận, còn người đi vay sẽ có trách nhiệm hoàn trả lại vô điều kiện toàn bộ cả gốc và lãi cho người cho vay khi đến hạn theo thỏa thuận. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các cá nhân, tổ chức kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng có nghĩa là việc thực hiện giá trị hàng hóa trong thị trường, còn việc thực hiện trả được lãi là việc thực hiện được giá trị thặng dư trong thị trường. Thuật ngữ “ Tín dụng ngân hàng ” thường được hiểu là hoạt động cho vay của ngân hàng. 1.1.2. Vai trò của tín dụng Tất cả các ngân hàng thương mại là các tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi và cho vay, chúng đóng vai trị quan trọng vì sử dụng được một số lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, chuyển dòng vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn để hoạt động kinh doanh, đóng góp vai trò quan trọng trong việc đưa nguồn vốn đến tay những người kinh doanh có khả năng thu nguồn lợi nhuận lớn. Chúng đảm bảo nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hữu hiệu thông qua hoạt động tín dụng. SVTH: Nghiêm Đức Linh 2 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương 1.1.2.1. Đối với Nhà nước Hoạt động tín dụng tạo ra nguồn lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tín dụng ngân hàng là công cụ quan trọng để NHNN điều tiết khối lượng tiền tệ đang lưu thông trong nền kinh tế thị trường. Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế NHNN đã tạo ra cung tiền tệ, đây chính là khả năng tạo tiền của ngân hàng. Như chúng ta đã biết, một khoản tiền ban đầu khi được gửi vào ngân hàng sau khi đã được trích dự trữ sẽ được ngân hàng sử dụng để cho vay hay cấp tín dụng. Sau đó khoản tiền này lại quay trở lại ngân hàng một cách lặp đi lặp lại. Tỷ lệ cấp tín dụng của ngân hàng càng lớn so với nguồn vốn huy động thì mức cung tiền tệ trong lưu thông càng lớn. Cho nên bằng các phương pháp, chính sách tài chính tiền tệ của mình NHNN dễ dàng thay đổi lượng tiền trong lưu thông bằng cách điều chỉnh hạn mức tín dụng và tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các Ngân hàng thương mại. Ngoài ra, tín dụng góp phần tài trợ nguồn vốn cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho một bộ phận lao động không nhỏ trong xã hội có công ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, không bị rơi vào các tệ nạn xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển đưa nền kinh tế đất nước lên một tầm cao mới. Ở bất kỳ một đất nước nào bao giờ cũng tồn tại những chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa thành thị với nông thôn, giữa người giàu và người nghèo. Thông qua tín dụng Nhà nước có thể điều chỉnh kinh tế giữa các vùng miền, các lĩnh vực khác nhau, để có thể phát huy mọi tiềm năng của vùng ngành đó, đưa nền kinh tế của vùng đó phát triển mạnh lên và có điều kiện như những vùng khác, thu hẹp khoảng cách giữa người giàu và người nghèo tiến tới một xã hội ngày càng công bằng và phát triển. 1.1.2.2. Đối với các doanh nghiệp Với chức năng mục tiêu chính là “ đi vay để cho vay ”, ngân hàng đã đứng ra để huy động vốn từ các cá nhân và các tổ chức kinh tế. Các doanh nghiệp sản xuất hoạt động kinh doanh dựa trên chủ yếu là vốn chủ sở hữu và vốn vay, một trong những nguồn đi vay là từ phía các ngân hàng. Đây là nguồn tài trợ hiệu quả và đáng tin cậy cho các doanh nghiệp trong thời kỳ nền kinh tế đang khủng hoảng vì nó đảm bảo cả về số lượng và thời hạn. Hơn nữa để vay vốn được ở các ngân hàng, các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình để đảm bảo được lòng tin các nguyên tắc trong cấp tín dụng của ngân hàng. Nó đòi hỏi và thúc đẩy các doanh SVTH: Nghiêm Đức Linh 3 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương nghiệp phải tìm hiểu thị trường, khai thác thông tin, tìm hiểu sản phẩm, tìm kiếm khách hàng, định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho đạt được hiệu quả cao nhất. Điều đó làm tăng hiệu quả của các dự án và làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển. Nền kinh tế đất nước đang ngày càng phát triển theo xu hướng quốc tế hóa, không chỉ có quan hệ mua bán với các doang nghiệp trong nước mà còn mở rộng mối quan hệ xuất, nhập khẩu với các đối tác doanh nghiệp nước ngoài. Do vậy tín dụng ngân hàng có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua các hình thức bảo lãnh, cho vay đứng đằng sau các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp cũng như của đất nước trên thị trường quốc tế. 1.1.2.3. Đối với ngân hàng thương mại Tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại, phần lớn nguồn vốn do ngân hàng thương mại huy động được là dựng để cho vay trung và dài hạn đối với nền kinh tế. Hoạt động tín dụng cũng chính là nguồn thu nhập chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Do vậy, hoạt động tín dụng có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng cũng đóng vai trị quan trọng, là cơ sở để ngân hàng thương mại phát triển, mở rộng các hoạt động trong lĩnh vực khác như huy động vốn, thanh toán quốc tế, dịch vụ thanh toán thẻ và các dịch vụ khác cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. 1.1.2.4. Đối với nền kinh tế thị trường Với chức năng là chiếc cầu nối trung gian giữa những người cho vay đầu tiên và những người cho vay cuối cùng, tín dụng ngân hàng đã tập trung, sử dụng một số lượng lớn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, qua đó làm giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông. Nếu mà lượng vốn tồn đọng này không được huy động một các hợp lý, kịp thời và sử dụng một cách hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng đến tìn trnag lưu thông tiền tệ làm cho mất cân đối trong quan hệ tiền – hàng dẫn đến hệ thống giá cả sẽ bị biến động. Bởi vậy, tín dụng ngân hàng góp phần ổn định tiền tệ, giá cả cho nền kinh tế thị trường. Tiền luôn có mặt tại tất cả các lĩnh vực của xã hội. Trong việc sản xuất, hoạt động kinh doanh việc rút ngắn thời gian nhằm tăng nhanh vòng quay vốn do đó tất cả các chủ thể kinh doanh phải chủ động thực hiện nhiều biện pháp để tìm kiếm SVTH: Nghiêm Đức Linh 4 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương các nguồn vốn. Và tín dụng ngân hàng là nơi có thể cạnh tranh nhau và thúc đẩy làm cho nền kinh tế thi trường phat triển nhảy vọt. 1.1.3. Các hình thức cấp tín dụng trong ngân hàng thương mại Ngân hàng cung cấp rất nhiều các hình thức tín dụng cho tất cả các khách hàng với nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Để không bị nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quan về các loại tín dụng và mối quan hệ giữa chúng người ta có thể phân loại tín dụng theo các tiêu thức khác nhau. Theo Luật các tổ chức tín dụng thì tín dụng ngân hàng được thể hiện dưới các hình thức sau: 1.1.3.1. Hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá Trong nền kinh tế thị trường, tất cả các giấy tờ có giá được phát hành và lưu thông đều phải nhất định tuân theo các quy định chuẩn mực của pháp luật vì nếu không chúng sẽ không có giá trị kinh tế. Khi người giữ các giấy tờ có giá nếu cần tiền mặt trong khi các giấy tờ có giá chưa đến hạn thì có thể đem giấy tờ có giá đó đến ngân hàng để xin chiết khấu theo điều 57 mục 2 Luật các tổ chức tín dụng “ Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Chủ sở hữu các giấy tờ có giá và thương phiếu phải chuyển giao ngay mọi quyền lợi và lợi ích hợp pháp phát sinh từ các giấy tờ có giá đó cho tổ chức tín dụng ”. Như vậy thực chất chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác là tín dụng ngắn hạn mà trong đó ngân hàng đã chuyển tiền cho người chủ sở hữu các giấy tờ có giá đó khi nó chưa đến hạn thanh toán. Khách hàng muốn chiết khấu thương phiếu tại ngân hàng cũng phải làm đầy đủ các thủ tục, giấy tờ giống vay vốn theo yêu cầu từ phía ngân hàng, làm đơn xin chiết khấu thương phiếu, sau đó ngân hàng sẽ kiểm tra khả năng thanh toán nợ khi đến hạn của người phát hành thương phiếu, nếu được chấp nhận vả quyết định mức triết khấu và tiến hành thu phí dựa trên giá trị của thương phiếu. Ưu điểm nổi bật của hình thức tín dụng chiết khấu thương phiếu là nếu có trường hợp khó khăn về việc thanh toán thì có thể đem các giấy tờ có giá đó đến Ngân hàng Trung ương xin tái chiết khấu. Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân hàng với những người ký tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách hàng, ngân hàng thường ký hợp đồng chiết khấu. Khi cần chiết khấu khách hàng chỉ cần gửi thương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu. Sau đó ngân hàng sẽ kiểm tra chất lượng của thương phiếu và thực hiện chiết khấu. Do tối thiểu có hai người cam kết giả tiền cho khách hàng nên độ an toàn của thương phiếu là tương đối cao. SVTH: Nghiêm Đức Linh 5 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương 1.1.3.2. Hình thức cho vay Đây là hình thức hoạt động tín dụng đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và cũng là hoạt động chính của các ngân hàng thương mại, ngân hàng có thể cho vay nguồn vốn của mình đến các khách hàng theo nhiều hình thức khác nhau. a) Thấu chi Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được tri vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời gian thấu chi. Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi, mua thẻ séc…vượt quá số dư tiền gửi để chi trả. Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản thì ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngân quỹ song không chính xác. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục dơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cá nhân vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dựng đẻ trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao,thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn. b) Cho vay trực tiếp từng lần Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh. Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng về phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảo bảo nếu cần. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đói đơn giản và ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay riêng biệt. c) Cho vay hạn mức Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối SVTH: Nghiêm Đức Linh 6 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện trả - vay nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng. Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kỳ. Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên, đến cuối kỳ, khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạn mức. Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng vốn vay, nộp các giấy tờ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính chất hợp lệ và hợp pháp của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp vụ này ngân hàng không xác định trước kì hạn nợ và thời hạn tín dụng. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay và ngân hàng chỉ phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính. d) Cho vay luân chuyển Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức cho vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Viêc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa nên cả ngân hàng và doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quỹ. Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền người bán. Theo hình thức này, giá trị hàng hóa mua vào đều là đối tượng được ngân hàng cho vay, thu nhập bán hàng sẽ là nguồn để chi trả cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vaytheo tỷ lệ nhất định tùy theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay. Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với cá doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay – trả thường xuyên với ngân hàng. Nó rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần SVTH: Nghiêm Đức Linh 7 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn e) Cho vay trả góp Là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ. Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hóa mà khách hàng đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi bán hàng từ phía ngân hàng và làm đại lý thu tiền cho ngân hàng, hoặc khách hàng trả trực tiếp cho ngân hàng. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua nhằm khuyến khich tiêu thụ hàng hóa. Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng. 1.1.3.3. Hình thức bảo lãnh Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh. Bảo lãnh của ngân hàng có nghĩa là ngân hàng là bên bảo lãnh, khách hàng của ngân hàng là bên được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba. Các loại bảo lãnh mà NHTM cung cấp cho các khách hàng của mình:      Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu Bảo lãnh thực hiện hợp đồng Bảo lãnh đảo bảo hoàn trả tiền ứng trước Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay Bảo lãnh đảm bảo thanh toán Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín. Ngân hàng không phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh, do vậy bảo lãnh được coi như tài sản ngoại bảng. Tuy nhiên khi khách hàng không thực hiện được cam kết, ngân hàng phỉa thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên thứ ba. Khoản chi trả này được xếp vào loiaj tài sản “ xấu” trong nội SVTH: Nghiêm Đức Linh 8 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương bảng, cấu thành nợ quá hạn. Chính vì vậy, bảo lãnh cũng chứa đựng các rủi ro như một khoản cho vay và đòi hỏi ngân hàng phân tích khác hàng như khi cho vay. Bảo lãnh của ngân hàng tạo mối liên kết trách nhiệm tài chính và san sẻ rủi ro. Trách nhiệm tài chính trước hết thuộc về khach hàng, trách nhiệm của ngân hàng là thứ cấp khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba. Do mối liên hệ giữa ngân hàng và khách hàng có khả năng ràng buộc khách hàng phải thực hiện các cam kết. Bảo lãnh cũng góp phần giảm bớt thiệt hại tài chính cho bên thứ ba khi tổn thất xảy ra. 1.2. Rủi ro tín dụng ngân hàng 1.2.1. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận và rủi ro luôn đi với nhau. Kinh tế thị trường làm đa dạng hóa các thành phần kinh tế, thúc đẩy phát triển và cạnh tranh lẫn nhau. Rủi ro là những khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến song lại là hiện tượng đồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường ngày nay. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không nằm ngoài tác động trên, với tất cả các lĩnh vực kinh doanh của mình ngân hàng đều gặp rủi ro do loại hàng hóa ngân hàng kinh doanh là đặc biệt – hàng hóa tiền tệ do đó thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro. Hoạt động của ngân hàng được coi là thành công khi mức độ rủi ro kinh doanh là nhỏ nhất và được kiểm soát trong phạm vi năng lực của ngân hàng đó. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, ngoài hàng hóa đăc biệt là “ tiền ” thì việc luân chuyển qua rất nhiều người cũng là một phần khiến rủi ro kinh doanh ngân hàng tăng thêm. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thường xảy ra các loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỉ giá, rủi ro hoạt động. Rủi ro tín dụng là khả năng tổn thất xảy ra ngoài dự kiến đối với các khoản vay của khách hàng với ngân hàng, do khách hàng vay không trả, không trả đúng hạn, không trả đủ cả gốc và lãi. Đây là rủi ro bao giờ cũng gắn liền với hoạt động của các NHTM vì cho vay bao giờ cũng đi với rủi ro và xảy ra tổn thất mất mát. Rủi ro tín dụng không chỉ xảy ra ở hoạt động cho vay mà còn xảy ra trong nhiều lĩnh vực mang tính chất cấp tín dụng khác của ngân hàng như: các hoạt động bảo lãnh, cam kết, cho vay ở các thị trường liên minh ngân hàng. SVTH: Nghiêm Đức Linh 9 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương Rủi ro lãi suất là rủi ro xảy ra mất mát đối với ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính. Lãi suất ngân hàng liên tục biến động với các mức độ khác nhau nên dễ gây lên tổn thất. Rủi ro lãi suất có quan hệ chặt chẽ với rủi ro tín dụng. Lãi suất của các công cụ trên thị trường chuyển nhượng khác với lĩa suất ngân hàng ví dụ như thương phiếu và ngân khố phiếu do chúng được đàm phán giữa ngân hàng và người vay hơn là quyết định trong một thị trường được tổ chức sẵn. Vì vậy kết quả của phương pháp xác định giá cả tín dụng được đàm phán, các mức lãi suất cho vay của ngân hàng không thống nhất. Chúng phản ánh cả đặc tính cá biệt của cung cầu tín dụng trên thị trường vốn và tiền tệ. Lãi suất cũng thay đổi so với mức rủi ro của tín dụng trên nhiều yếu tố: quy mô cho vay, tiền cho vay, số dư tiền gửi của người vay, thời hạn, số tiền cho vay, các chi phí thực hiện khi giám sát khoản cho vay. Ngoài ra lãi suất còn bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng . Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất cho vay cố định trong khi lãi suất huy động được thả nổi hoặc khi lãi suất huy động thả nổi trong khi lãi suất huy động là cố định. Rủi ro lãi suất ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của ngân hàng theo hai cách. Cách thứ nhất được nghiên cứu và biết rõ nhất là mối quan hệ trái ngược giữa lãi suất – giá trị một tài sản tài chính. Cách thứ hai dẫn đến sự sai lệch lâu dài về thu nhập của sử dụng vốn và chi phí của nguồn vốn trong tài khoản kết quả tài chính. Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi mà tỷ giá hối đoái thay đổi ngoài dự tính. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay tỷ giá thường xuyên giao động, sự thay đổi này cộng với trạng thái hối đoái của ngân hàng sẽ tạo ra thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời. Một NHTM khi tham gia vào giao dịch ngoại hối phải tham gia với các loại tiền tệ khác nhau và phải thực hiện một lượng kinh doanh vừa đủ để lượng lợi tức có thể bù đắp cho các thiệt hại. Ngoài ra các ngân hàng phải cảnh giác không chỉ với những thay đổi của tỷ giá mà cả tới những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đấy để có những biện pháp phòng chánh và giảm bớt rủi ro. Rủi ro hoạt động là loại rủi ro xảy ra làm tổn thất tài sản của ngân hàng do hoạt động kém chất lượng, kém hiệu quả ví dụ như: hệ thống thông tin không đầy đủ, có gian lận trong kinh doanh, vi phạm trong hệ thống kiểm soát thông tin nội bộ…. Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng khi mà nhu cầu thanh toán thực tế vượt quá khả năng thanh khoản của ngân SVTH: Nghiêm Đức Linh 10 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương hàng làm gia tăng các chi phí để thanh khoản hay làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán với khách hàng. Sự an toàn của các NHTM luôn là mối quan tâm với nhiều người, từ các cổ đông của ngân hàng, công dân của đất nước tới những quan chức các nhà điều hành vì khi mất khả năng thanh khoản sẽ dẫn đến sự phá sản của cả một hệ thống ngân hàng tiếp theo đó là sự sụp đổ của nền kinh tế. Khả năng thanh toán của các NHTM không phải là đại lượng thống kê, nó không được đánh giá một cách trực tiếp. Ngược lại, người ta có thể dễ dàng hiểu được những thay đổi của khả năng thanh toán của một ngân hàng nó biểu hiện những gì. Một ngân hàng mà có khả năng thanh toán càng nhiều hơn, nếu chúng có nhiều tiền tệ trung ương hơn, có nghĩa là số dư cao hơn trong tài khoản vãng lai tại NHNN. Cùng với khả năng tăng vốn nhanh từ nhiều nguồn khác nhau khiến nó có khả năng chi trả và các ràng buộc tài chính theo một phương pháp thích hợp. Giữ dưới hình thức nào và giữ bao nhiêu thanh khoản là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý ngân hàng. Các ngân hàng phải tuân theo các nhu cầu về dự trữ bắt buộc, các ngân hàng cần tính thanh khoản cao để đáp ứng các nhu cầu về tín dụng bất ngờ và theo thời vụ những giao động bất ngờ do tiền gửi. Sự đánh giá thanh khoản được ủng hộ nhiều nhất xuất phát từ việc mức độ thanh khoản của một ngân hàng bất kỳ nào đó cần đến tùy thuộc vào lượng biến đổi xảy ra ở số dư tiền gửi và nhu cầu về tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định. 1.2.2. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là đặc trưng nhất, dễ xảy ra nhất và gây hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động kinh doanh của bất kỳ một ngân hàng. Sở dĩ như vậy là do các ngân hàng thương mại đều có dư nợ tín dụng chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và thường tạo ra 1/2 đến 2/3 lợi nhuận cho ngân hàng. Vì thế ở tất cả các ngân hàng rủi ro tín dụng là vấn đề luôn được đặc biệt quan tâm chú trọng, các ngân hàng luôn tìm tối đa lợi nhuận qua việc tìm kiếm lợi tức cao nhất ở các khoản vay và chứng khoán, đồng thời cố gắng giảm thiểu rủi ro liên quan đến các hoạt động cho vay bằng cách: lựa chon, sàng lọc và giám sát khách hàng vay, thiết lập tạo mối quan hệ lâu dài với khách hàng, quy định mức tín dụng, tài sản thế chấp, số dư bù và hạn chế tín dụng. Tuy nhiên, không một ngân hàng nào có thể nghĩ được hết mọi sự bất ngờ khi tham gia vào một hợp đồng cho vay, sẽ luôn luôn có những hoạt động rủi ro của người vay tiền. SVTH: Nghiêm Đức Linh 11 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ tạo ra cho ngân hàng những tổn thất nặng nề về tài chính. Nhưng những hậu quả về uy tín của ngân hàng, mất lòng tin của xã hội mới là những hậu quả lớn nhất. Rủi ro tín dụng có thể tạo ra một dây chuyền sụp đổ của cả một hệ thống ngân hàng, lúc đó có thể là đầu mối của những cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế xã hội. Rủi ro tín dụng luôn đưng vị trí đầu tiên được các NHTM quan tâm. Từ xưa đến nay, rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các ngân hàng trên thế giới. Tín dụng là hoạt động mag tính bản chất của NHTM là cơ sở chính để đánh giá chất lượng hoạt động của một ngân hàng. Việc quản trị tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của một ngân hàng. Hoạt động tín dụng luôn đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng trả nợ của khách hàng hay quản lý rủi ro tín dụng, ít nhất cũng là phán đoán, dự tính khả năng này. 1.2.3. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng được phân loại theo rất nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và mục đích quản lý. Đối với ngân hàng, việc phân loại rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng để có thể thiết kế chính sách, quy trình, thủ tục và mô hình tổ chức, nhằm đảm bảo nhận biết các yếu tố làm phát sinh rủi ro, phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận và giữa các khâu. 1.2.3.1. Theo đối tượng sử dụng  Rủi ro khách hàng cá thể.  Rủi ro công ty/ tổ chức kinh tế.  Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý. 1.2.3.2. Theo giai đoạn phát sinh rủi ro  Rủi ro trong thẩm định tín dụng, nghĩa là đã đánh giá sai khach hàng.  Rủi ro trong quá trình cho vay, như giải ngân quá hạn mức, giải ngân sai mục đích làm cho khoản vay không phát huy hiệu quả.  Rủi ro trong quản lý, xử lý thu nợ, không giám sát hoạt động của khách hàng. 1.2.3.3. Theo tính chất của rủi ro  Rủi ro chủ quan xảy ra do người vay hoặc người cho vay vô tình hoặc cố ý làm cho thất thoát khoản vay.  Rủi ro khách quan xảy ra do thiên tai, lũ lụt, người vay trốn chạy, mất tích. 1.2.3.4. Theo thời hạn khoản vay SVTH: Nghiêm Đức Linh 12 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương  Rủi ro do các khoản vay ngắn hạn.  Rủi ro do các khoản vay trung và dài hạn. 1.2.4. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại Tất cả các ngân hàng khi tiến hành cho vay đều phải đối mặt với nhiều rủi ro. Với khả năng cho vay, các ngân hàng thương mại thúc đẩy quá trình đầu tư sản xuất, và lưu thông hàng hóa góp một phần ý nghĩa quan trọng phát triển đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xác định nguyên nhân gây rủi ro tín dụng cần tập trung vào các nguyên nhân sau: 1.2.4.1. Các nhân tố khách quan a) Nhân tố kinh tế Môi trường kinh tế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công và thất bại của ngân hàng. Sự biến động của một ngành kinh tế nào đó trong kinh tế thị trường đều sẽ ảnh hưởng đến các ngành còn lại. Trong khi đó, ngân hàng thương mại được coi như là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Trong số các hoạt động của ngân hàng, hoạt động tín dụng là nhạy cảm nhất đối với sự biến động của nền kinh tế xã hội. Khi nền kinh tế phát triển, mọi hoạt động của nền kinh tế cũng tăng trưởng cao và ổn định, môi trường hấp dẫn sẽ thu hút các nhà đầu tư khiến tín dụng ngân hàng có cơ hội phát triển, và các khách hàng kinh doanh phát triển thì khoản vay của ngân hàng sẽ được đảm bảo. Ngược lại, kinh tế suy thoái thì các doanh nghiệp sẽ có xu hướng thắt chặt hoạt động, thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh khiến tín dụng ngân hàng cũng bị thu hẹp. Do vậy, lạm phát cũng là một vấn đề quan trọng mà các ngân hàng luôn phải chú ý, cảnh giác vì các khách hàng khi vay cũng phải vay một khoản lớn hơn cho mục đích của họ vì phải chịu chi phí cao hơn. b) Nhân tố xã hội Mọi nhân tố xã hội như an toàn xã hội, trật tự an ninh, trình độ dân trí…, đều ảnh hưởng trực tiếp đến các tác nhân chính của ngân hàng là khách hàng. Quan hệ tín dụng ngân hàng là dựa trên cơ sở tín nhiệm, tin tưởng lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng, do vậy uy tín đóng vai trị quan trọng trong quan hệ này. Ngân hàng nào hoạt động an toàn, hiệu quả, phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng thì sẽ được khách hàng lựa chọn, tin tưởng. Còn khách hàng nào hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có uy tín với ngân hàng thì sẽ được hưởng ưu đãi trong quan hệ tín dụng với ngân hàng. Niềm tin tưởng lẫn nhau trong quan hệ sẽ là cơ sở để mở rộng quan hệ của mình đối với các thành phần khác trong nền kinh tế. Bên cạnh đó trình độ dân trí, an ninh xã hội….sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ tín dụng ngân hàng. SVTH: Nghiêm Đức Linh 13 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương Thực tế nơi nào mà an ninh xã hội kém, nhiều trộm cắp, trình độ dân trí thấp sẽ tạo sự không tin tưởng đối với các nhà đầu tư và họ cũng sẽ không đầu tư vào những nơi như vậy. Dẫn đến nhu cầu tín dụng sẽ bị hạn chế, ảnh hưởng tới việc mở rộng tín dụng của ngân hàng. Ngược lạ, nơi nào an ninh tốt, đời sống người dân được đảm bảo, dân cư đông đúc phát triển sẽ thu hút được nhà đầu tư, và tín dụng ngân hàng cũng được mở rộng. c) Nhân tố pháp lý Môi trường pháp lý trong kinh doanh là tổng hợp các yếu tố pháp lý, pháp luật, có tác động đến quá trình kinh doanh bao gồm hệ thống pháp luật, hệ thống các biện pháp đảm bảo pháp luật được thực thi và sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh doanh. Hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng phải tuân theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước, luật các tổ chức tín dụng, luật dân sự và các quy định khác có liên quan. Nếu các quy định của pháp luật không rõ ràng, không ổn định, đồng bộ, kịp thời và còn nhiều khe hở thì sẽ rất khó cho ngân hàng trong tất cả các hoạt động đặc biệt là về tín dụng, Điều này không đảm bảo sự lành mạnh và hiệu quả nên rất dễ gặp rủi ro. Ngược lại, một hành lang pháp lý vững chắc, các văn bản pháp luật đều rõ ràng, đồng bộ, sẽ góp phần đẩy mạnh cạnh tranh tín dụng giữa các NHTM, và đó cũng là điều kiện để các NHTM giải quyết các tố cáo trong tranh chấp của hoạt động tín dụng. Do vậy sẽ giúp các ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng. 1.2.4.2. Các nhân tố chủ quan a) Chính sách cấp tín dụng Chính sách tín dụng chính là các đường lối chủ trương được thể hiện qua văn bản, được chỉnh sửa hoàn thiện qua nhiều năm và là cơ sở yếu tố căn bản, là nền tảng để quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả. Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố hạn mức cho vay đối với các khách hàng, kỳ hạn của các loại tín dụng, các loại cho vay được thực hiện, sự đảm bảo và khả năng thanh toán nợ của các khách hàng, các khoản vay có vấn đề, mức lệ phí cho vay và lãi suất cho vay, hướng giải quyết phần tín dụng vượt giới hạn. Việc hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng sẽ chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tố này. Các chính sách tín dụng mà đúng đắn, linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý rủi ro tín dụng. Tất cả các tổ chức tín dụng trên thế giới đều rất coi trọng việc xây dựng chính sách tín dụng mộ cách đúng đắn, và coi đó là điều kiện thiết yếu để quản lý rủi ro tín dụng. Một chính sách được hoạch định kỹ càng, cẩn thận và hợp lý, thông suốt từ trên xuống dưới sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì hoạt động SVTH: Nghiêm Đức Linh 14 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương tín dụng của mình và có thể đánh giá đúng đắn về cơ hội kinh doanh. Chính sách tín dụng phản ánh chế độ hoạt động của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho các cán bộ tín dụng, các nhân viên ngân hàng nhằm tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng để giảm thiếu rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng sinh lời. Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, giữa các tổ chức tín dụng thì một chính sách tín dụng linh hoạt và đúng đắn sẽ đóng vai trị rất quan trọng b) Quy trình cấp tín dụng Quy trình cấp tín dụng là tập hợp các nghiệp vụ cơ bản, những bước trong quá trình cho vay và thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Nó bao gồm nhiều bước từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, giám sát trong khi cho vay và cho đến khi thu hồi nợ. Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng. Bao gồm ba giai đoạn: khai thác và tìm kiếm thông tin từ khách hàng, hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và các thủ tục, hồ sơ vay vốn, phân tích thẩm định các dự án của các khách hàng vay vốn. Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào công tác thẩm định và các quy định về điều kiện của thủ tục cho vay của từng ngân hàng. Giám sát, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay giúp cho các ngân hàng có thể nắm bắt được tình hình các khoản cho vay của mình để sớm ngăn ngừa và có những biện pháp cần thiết để hạn chế được những rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Khâu quyết định đến chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng là giải quyết và thu hồi nợ. Sự nhạy bén của các ngân hàng khi phát hiện kịp thời những biểu hiện sai trái của khách hàng, khi đó ngân hàng sẽ có những biện pháp xử lý hay tư vấn cho khách hàng để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra. Quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại chủ động, thích hợp với tất cả các khách hàng, và phải thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tín dụng một cách cẩn thận, để bảo vệ lợi ích của chính các ngân hàng, của khách hàng và của toàn xã hội. Có như vậy mới thu hút được nhiều khách hàng, tăng sự cạnh tranh giữa các ngân hàng. Sự chủ động và kết hợp nhịp nhàng các bước trong quy trình tín dụng sẽ giúp cho các ngân hàng phát hiện kịp thời các yếu điểm của mình, sớm ngăn ngừa hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra. c) Tình hình huy động vốn Ngân hàng hoạt động kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn chính là hoạt động tạo SVTH: Nghiêm Đức Linh 15 Lớp: Tài chính công K50 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thùy Dương nguồn vốn cho ngân hàng thương mại, nó đóng vai trị quan trọng, quyết định tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng hoạt động chủ yếu theo phương châm “ huy động vốn để sử dụng vốn ”. Do vậy, nếu không đi vay được nghĩa là không huy động được vốn thì sẽ không có hoạt động sử dụng vốn, hoạt động tín dụng. Nguồn vốn huy động được càng lớn, càng đa dạng thì sẽ tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng phát triển. Và vì nó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng nên nó cũng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Nguyên nhân của những rủi ro này là do ngân hàng là một trung gian tài chính, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội với lãi suất thấp sau đó sẽ cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay với lãi suất cao hơn để kiếm lời. Nếu một ngân hàng không huy động được vốn, hoặc có vốn nhưng không có thị trường cho vay thì sẽ dẫn đến rủi ro. d) Chất lượng nhân sự và thiết bị kỹ thuật Các cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu trong quy trình tín dụng nên đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại trong họt động kinh doanh trong hoạt động tín dụng nói riêng cũng như hoạt động ngân hàng nói chung. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng. Những cán bộ ngân hàng có kiến thức tốt, nghiệp vụ chuyên môn giỏi cùng với kinh nghiệm công tác, sẽ đánh giá được đúng tình hình tào chính của khách hàng, tính khả thi của các dự án, tình hình trả nợ của người vay vốn và đồng thời phát hiện được các dấu hiệu lừa đảo của khách hàng để kịp thời ngăn ngừa, giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra. Ngoài ra sự hiểu biết sâu rộng về pháp luật, các chính sách kinh tế của nhà nước, những biến động của xã hội sẽ giúp họ có thể dự đoán chính xác về tình hình kinh tế xã hội, từ đó sẽ tư vấn cho khách hàng một phương hướng sản xuất, làm ăn hợp lý. e) Tình trạng của chính các khách hàng Khách hàng là người lập ra phương án kinh doanh để đi vay vốn, và sau khi được ngân hàng chấp nhận thì cũng chính họ trực tiếp sử dụng vốn vay vào phương án sản xuất kinh doanh. Vì vậy ảnh hưởng của khách hàng đến rủi ro tín dụng cũng rất lớn. Năng lực của khách hàng là biểu hiện của việc sử dụng vốn vay của khách hàng có hiệu quả hay không. Khách hàng yếu kém trong việc tìm hiểu thị trường, quản lý nhân sự, không nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, phương án kinh doanh không SVTH: Nghiêm Đức Linh 16 Lớp: Tài chính công K50
- Xem thêm -