Tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty tnhh xây dựng và thương mại liên việt

  • Số trang: 60 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 44 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lời, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp thành lập công ty có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhận Phân loại doanh nghiệp - Dựa vào hình thức tổ chức doanh nghiệp nhà nước có năm loại, gồm: Thứ nhất, công ty nhà nước: là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ thành lập, tổ chức quản lý và tồn tại dưới hình thức công ty nhà nước độc lập và Tổng công ty nhà nước. Thứ hai, công ty cổ phần nhà nước: là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn. Tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005. Thứ ba, công ty TNHH nhà nước một thành viên là công ty TNHH do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ. Tổ chức quản lý và đăng ký theo Luật Doanh nghiệp năm 2005. Thứ tư, công ty TNHH nhà nước có từ hai thành viên trở lên: là công ty TNHH trong đó có tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước, thành viên được ủy quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Thứ năm, doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước: là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp. - Dựa theo nguồn vốn: có hai loại Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước do nhà nước sở hữu 100% vốn, gồm công ty nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên. 1 Thứ hai, doanh nghiệp do nhà nước có cổ phần, vốn góp chi phối gồm: công ty cổ phần nhà nước mà nhà nước chiếm trên 50% cổ phiếu, công ty TNHH mà nhà nước chiếm trên 50% vốn góp. - Dựa theo mô hình tổ chức quản lý, có hai loại: Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị: hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước, chịu trách nhiệm trước nhà nước. Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị: giám đốc doanh nghiệp được nhà nước bổ nhiệm hoặc thuê đề điều hành doanh nghiệp. 1.1.2 Các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp 1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hóa. Tùy theo điều kiện phát triển của thị trường tài chính quốc gia, tùy theo loại hình của doanh nghiệp và các đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn khác nhau. Huy động vốn là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, bao gồm huy động vốn chủ sở hữu và huy động nợ. Huy động vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp, gồm phần vốn chủ doanh nghiệp bỏ vào đầu tư kinh doanh và phần hình thành từ kết quả trong hoạt động kinh doanh. Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu chủ yếu là huy động từ: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới. Các hình thức huy động nợ chủ yếu là huy động từ: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng thuê mua, phát hành trái phiếu. 1.1.2.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó. Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khả năng kinh doanh. Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng tiêu dùng, không tự sản xuất được hoặc không đủ điều kiện để tự sản xuất những sản phẩm vật chất và dịch vụ mà mình có nh cầu tiêu dung, hoạt động này sáng tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ để cung cấp cho người tiêu dùng nhằm thu được tiền công và lợi nhuận kinh doanh. 2 Thang Long University Library “Nếu loại bỏ các thành phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường” Hoạt động kinh doanh có đặc điểm: Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp. Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình ngày càng phát triển. Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: vốn là yếu tố quyết định cho việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động … Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận. Các doanh nghiệp còn có thể góp vốn vào doanh nghiệp khác để đa dạng hóa danh mục đầu tư tăng tầm ảnh hưởng của mình cũng như thu về một khoản lợi nhuận. Doanh nghiệp có thể đầu tư vào các công ty, có thể mua các chứng khoán ngắn hạn có khả năng thanh khoản cao, đầu tư tạm thời số tiền nhàn rỗi của mình nhằm thu được một số lợi nhuận nhất định. 1.2 1.2.1 Nội dung tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Khái niệm tài sản ngắn hạn Tài sản là vấn đề trung tâm cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Tài sản trên thực tế tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng. Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản là khái niệm gọi chung cho các của cải, vật chất được dùng vào mục đích sản xuất của doanh nghiệp nhằm đáp ứng mục tiêu quan trọng nhất đó là tối đa hóa giá trị tài sản thuộc chủ sở hữu. Tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, mỗi loại tài sản chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp [1]. Tài sản dài hạn có đặc điểm là tốc độ thu hồi vốn chậm, khi kết thúc thời hạn tính khấu hao thì thu hồi toàn bộ vốn đầu tư. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, tài sản dài hạn có thời gian sử dụng dài hơn 1 năm và giá trị hơn 30 triệu đồng, còn lại là tài sản ngắn hạn. “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kì kinh doanh hoặc một năm. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn 3 hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, khoản phải thu, dự trữ tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác. Giá trị các loại TSNH của doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng. Quản lý sử dụng hợp lí các loại TSNH có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp” [2, tr214 - 215]. 1.2.2 Phân loại tài sản ngắn hạn Sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả cần phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào phạm vi sử dụng: Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính chủ yếu là nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, vật liệu bao bì đóng gói … Nguyên vật liệu chính: gồm giá trị của những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm Vật liệu phụ: là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo, có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dạng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản xuất sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghiệp, kỹ thuật phục vụ cho quá trình lao động Nhiên liệu: Thực chất là một loại vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường Phụ tùng thay thế: là những loại vật tư sản phẩm dùng để thay thế, sữa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vật tư công cụ, dụng cụ sản xuất… Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản là những vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản Công cụ, dụng cụ lao động nhỏ là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn. Công cụ, dụng cụ lao động sử dụng trong doanh nghiệp được phân thành hai loại: + Công cụ, dụng cụ được phân bổ một lần (phân bổ 100%) + Công cụ, dụng cụ được phân bổ nhiều lần 4 Thang Long University Library Bao bì, vật liệu đóng gói là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, nó luôn đi cùng sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Sản phẩm dở dang: Là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất xây dựng hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp, chi phí trồng trọt dở dang, chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ và nuôi béo… Bán thành phẩm tự chế: Cũng là những sản phẩm dở dang nhưng khác ở chỗ nó đã hoàn thành giai đoạn chế biến nhất định Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ Để linh hoạt trong sử dụng tài sản trên thực tế hiện nay người ta dùng tài sản ngắn hạn để chi cho công tác sửa chữa. Căn cứ vào đặc điểm kinh tế và kỹ thuật sửa chữa được phân thành hai loại: sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản lưu động Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp Công tác quản lý doanh nghiệp bao gồm cả quản lý kinh doanh và quản lý hành chính. Tài sản ngắn hạn được sử dụng bao gồm: - Vật liệu cho văn phòng, cho phương tiện vận tải Công cụ, dụng cụ văn phòng phẩm: giấy, bút mực, bàn ghế … - Khoản tạm ứng: hội nghị, tiếp khách… Tài sản ngắn hạn dùng trong công tác phúc lợi Công tác phúc lợi, chủ yếu tài sản ngắn hạn dùng để đầu tư cho câu lạc bộ, công trình phúc lợi công cộng của doanh nghiệp, cho công nhân, cho nhân viên đi tham quan, các hoạt động văn nghệ… Căn cứ theo đặc điểm chu chuyển tài sản ngắn hạn Tiền: bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản ký cược, ký quỹ, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn… Đầu tư ngắn hạn: Là các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán có thời gian sử dụng thu hồi vốn không quá một năm Các khoản phải thu: Là toàn bộ các khoản mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thu từ các đối tượng khác: Phải thu từ khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản thế chấp, cầm cố, ký quỹ, ký cược… Hàng tồn kho: bao gồm nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình SXKD, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Với doanh nghiệp, vật liệu thô không sinh lời song là điều kiện căn bản để sản xuất hàng hóa thành phẩm nên việc dự trữ hàng tồn kho hợp 5 lý là vấn đề của nhà quản lý để vừa đảm bảo cho quá trình SXKD của doanh nghiệp mà không làm phát sinh quá nhiều chi phí dự trữ cho doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm một số tài khoản như tạm ứng, chi phí trả trước ngắn hạn, các khoản ký quỹ, ký cược ngắn hạn, chi sự nghiệp. 1.2.3 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn được phân bổ đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Do đó tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Thứ nhất, tài sản ngắn hạn biểu diễn dưới các hình thức khác nhau như tiền và các tài sản tương đương tiền, phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản khác. Các khoản mục này tương ứng với các mục đích chuyên biệt khác nhau của TSNH trong doanh nghiệp: tiền và các tài sản tương đương tiền hay chứng khoán khả thị đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, hàng tồn kho được sử dụng trong khâu sản xuất kinh doanh, các khoản phải thu khách hàng dùng để ghi nhận các khoản tín dụng thương mại. Thứ hai, tài sản ngắn hạn thường luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh, phân biệt với TSDH như thiết bị, máy móc, nhà xưởng thường dùng trong nhiều năm và trích khấu hao. Thứ ba, tài sản ngắn hạn thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thực thể của sản phẩm. Đặc điểm này là điển hình của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho dùng cho mục đích sản xuất, thường trải qua một quá trình biến đổi thành phẩm, hàng hóa hoàn chỉnh để xuất bán ra thị trường. Thứ tư, tài sản ngắn hạn có giá trị luân chuyển toàn bộ một lần và giá thành sản phẩm làm ra. Điều này có nghĩa là mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi tài sản ngắn hạn thành thành phẩm đã được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. 1.2.4 Vai trò của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể kinh doanh, sản xuất thuận lợi. Tài sản ngắn hạn giúp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận hành liên tục, không bị gián đoạn. Tài sản ngắn hạn còn hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian. Điều này xuất hiện trong quá trình sản xuất, marketing và thu tiền. Do các giao dịch đó diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến vốn lưu động như lưu trữ hàng tồn kho, áp dụng các chính sách hỗ trợ 6 Thang Long University Library bán hàng, chiết khấu thanh toán dễ khuyến khích khách hàng thanh toán sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ. Tài sản ngắn hạn giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán. Doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để đáp ứng cho các chi phí giao dịch. Chi phí giao dịch bao gồm phí dịch vụ cho việc mua bán chứng khoán, các khoản lỗ tiềm tàng do phải bán gấp các tài sản trong khi có thể kiếm lời nhiều hơn nếu có thêm thời gian. Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn phải dự trữ một lượng tiền hoặc chứng khoản khả thị đủ để đảm bảo khả năng thanh toán, đây cũng là loại tài sản có khả năng thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí thấp đáp ứng cho các mục tiêu ngắn hạn. Trong các trường hợp cần phải chi trả các chi phí liên quan đến pháp luật, chi phí gián tiếp trong quản lý. Những chi phí này rất lớn nên các nhà quản lý thường xem chúng như những áp lực tài chính và có xu hướng dự trữ một lượng lớn tài sản có khả năng thanh khoản cao để đảm bảo khả năng thanh toán ngay cả khi việc này đem lại ít lợi nhuận hơn so với đầu tư dài hạn. Chính vì vậy chính sách quản lý tài sản đối với doanh nghiệp hết sức quan trọng. Ngoài ra tài sản ngắn hạn còn tạo lập quan hệ với khách hàng. Việc tài sản ngắn hạn của công ty được sử dụng có hiệu quả hay không được ghi chép trong hồ sơ tín dụng thương mại, các khách hàng, đối tác dựa vào đó để đưa ra đánh giá xem có hợp tác hay không. Các công ty dựa vào mức độ thương mại của doanh nghiệp đang xem xét để đưa ra những quyết định chắc chắn, bao gồm việc cho vay, cho thuê, tăng nợ tín dụng, tiêu thụ giúp hàng tồn kho với giá cạnh tranh … 1.3 Nội dung quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Quản lý tài sản ngắn hạn là nhiệm vụ tất yếu để duy trì tình hình kinh doanh ổn định của doanh nghiệp. Việc quản lý tài sản phụ thuộc vào đặc điểm của ngành nghề mà doanh nghiệp đang kinh doanh, quy mô của doanh nghiệp (lớn, nhỏ hay trung bình), mức độ ổn định của doanh thu và theo từng thời kỳ của doanh nghiệp. 1.3.1 Quản lý tiền và các tài sản tương đương tiền Quản lý tiền mặt và các tài sản tương đương tiền ở đây chính là quản lý tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các loại chứng khoán thanh khoản. Doanh nghiệp cần phải quản lý tiền và chứng khoán thanh khoản để có thể thực hiện giao dịch, đối phó với các biến cố bất thường xảy đến với doanh nghiệp hoặc đầu tư sinh lời. Dự trữ loại tài sản này có lợi song cũng tiềm ẩn rủi ro. Về mặt lợi ích, doanh nghiệp luôn đảm bảo được khả năng thanh toán từ đó cải thiện được uy tín và vị thế của doanh nghiệp. Ngược lại khi dự trữ quá nhiều sẽ giảm khả năng sinh lời của số tiền đó, đồng thời doanh nghiệp phải phát sinh tăng chi phí quản lý cho số tài sản này. Quản lý tiền và chứng khoán thanh khoản cần tập trung vào các quyết định sau: 7 - Quản lý hoạt động thu – chi của tiền mặt - Xác định nhu cầu dự trữ tiền mặt tối ưu - Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán thanh khoản Quản lý hoạt động thu – chi của tiền mặt Trong quản lý thu – chi tiền mặt, một nguyên tắc tất yếu đó chính là “tăng thu, giảm chi”, tức là nhà quản lý cần tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được và chậm chi những khoản tiền phải trả. Tăng thu là doanh nghiệp tích cực thu hồi được những khoản nợ từ khách hàng để sớm có vốn quay vòng đầu tư và các hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo thông suốt quá trình giao dịch kinh doanh. Giảm chi là tận dụng thời gian chênh lệch của các khoản thu, chi, chậm trả lương để có nhiều tiền nhàn rỗi để đầu tư sinh lời. Ngoài vấn đề tăng thu, doanh nghiệp cần phải giảm chi, tức là nên trì hoãn việc thanh toán (nhưng trong phạm vi cho phép) để có thể tận dụng những lợi ích từ các khoản chậm thanh toán này. Hình thức thông dụng nhất được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến rộng rãi là chậm trả lương. Cụ thể hơn, doanh nghiệp sẽ thiết lập một hệ thống trả lương cho từng bộ phận nhân viên và trả lương theo thời gian biểu đó thay vì trả lương đồng thời tất cả các nhân viên một lúc. Trong khoảng thời gian chênh lệch đó, ít nhiều những khoản tiền này cũng có thể đem lại lợi nhuận. Xác định mức dự trữ tối ưu Xác định mức sự trữ tối ưu về tiền mặt hỗ trợ doanh nghiệp trong thanh toán và đối phó với các phát sinh bất ngờ. Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình dự trữ của nhà khoa học William J.Baumol để ước tính. Điều kiện để áp dụng mô hình: Doanh nghiệp có nhu cầu về tiền ổn định Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn Doanh nghiệp chỉ có hai phương thức dự trữ tiền và chứng khoán khả thị Không có rủi ro trong đầu tư chứng khoán Mô hình này được viết như sau: Chi phí giao dịch (TrC – Transaction Cost) TrC = (T/C)*F Trong đó: T: Tổng nhu cầu về tiền mặt trong một thời kỳ (thường là 1 năm) C: Quy mô một lần bán chứng khoán F: Chi phí cố định một lần bán chứng khoán T/C: Số lần mà công ty phải bán chứng khoán một năm. 8 Thang Long University Library Tổng chi phí giao dịch được xác định dựa vào số lần công ty phải bán chứng khoán trong một thời kỳ (thường là 1 năm) Chi phí giao dịch = Số lần bán chứng khoán* Phí giao dịch = (T/C)*F Chi phí cơ hội (OC – Opportunity Cost) Tổng chi phí cơ hội bằng tồn quỹ trung bình nhân với lãi suất đầu tư chứng khoán ngắn hạn: Chi phí cơ hội = (C/2)*K Trong đó: C/2: mức dự trữ tiền mặt trung bình K: lãi suất đầu tư chứng khoán / thời kỳ (thường là 1 năm) Từ đó ta có tổng chi phí: TC = TrC + OC Mức dự trữ tiền tối ưu để tổng chi phí bỏ ra là nhỏ nhất tương đương TC min: C* = √ Đồ thị 1.1 Mô hình dự trữ tiền tối ưu Chi phí TC OC= C/2*K TrC = T/C *F C* Ưu điểm mô hình Baumol: Mô hình quản trị tiền mặt Baumol đã làm nổi bật sự đánh đổi giữa chi phí cố định của việc bán các chứng khoán và chi phí tồn trữ của việc nắm giữ tiền mặt. Doanh nghiệp có thể nhận về một dòng thu thuần hay nhận về một dòng chi thuần bằng tiền mặt. Mô hình Baumol giúp hiểu được tại sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ lưu giữ một số dư tiền mặt đáng kể. Trong khi các công ty lớn, có các chi phí giao dịch mua 9 và bán chứng khoán quá nhỏ so với cơ hội phí mất đi do lưu trữ một số lượng tiền mặt nhàn rỗi. Nhược điểm của mô hình Baumol: Mô hình này có thể ước lượng được mức dự trữ tiền tối ưu cho doanh nghiệp song lại chưa thực tế do đưa trên giả định rằng nhu cầu về tiền của doanh nghiệp trong các thời kỳ là như nhau. Rủi ro trong thanh toán và cả đầu tư chứng khoán là hoàn toàn có thể xảy ra trong kinh doanh, vì vậy mô hình này chỉ tồn tại trên cơ sở lý thuyết. Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất hiếm khi mà lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được, từ đó tác động đến mức dự trữ không thể đều đặn như tính toán. Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, Miller - Orr đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoản tức là lượng tiền mặt sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất. Nếu lượng tiền mặt ở dưới mức thấp thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền mặt ở mức dự kiến, ngược lại tại giới hạn trên doanh nghiệp sử dụng số tiền vượt mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến. Khoảng dao động của lượng tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản: Mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ. Sự dao động này được thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quỹ. Phương sai của thu chi ngân quỹ là tổng bình phương (độ chênh lệch) của thu chi ngân quỹ thực tế càng có xu hướng khác biệt nhiều so với thu chi bình quân. Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán. Khi chi phí lớn người ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoản dao động và khi đó khoản dao động của tiền mặt cũng lớn. Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống. Mức tiền mặt theo thiết kế được xây dựng như sau: Mức tiền mặt theo thiết kế = Mức giới hạn dưới + Đây là mô hình thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu. Phương sai của tiền mặt thanh toán được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế của một quý trước đó để tính toán. 10 Thang Long University Library Đồ thị 1.2. Biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian Mức cân đối tiền mặt Giới hạn trên Mức tiền mặt Giới hạn dưới Thời gian D: Khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ Ch : Chi phí của mỗi lần dao dịch chứng khoán Vh: Phương sai của thu chi ngân quỹ I : Lãi suất 1.3.2 Quản lý khoản phải thu khách hàng Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ. Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể đến mức không thể kiểm soát nổi. Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đanh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Chính vì vậy quản lý khoản phải thu khách hàng rất quan trọng bởi nếu không thu được tiền đúng hạn thì sẽ là một rủi ro trong thanh toán mà doanh nghiệp phải đối mặt. Chính vì vậy để giảm thiểu rủi ro thấp nhất có thể, doanh nghiệp thường xây dựng một chính sách tín dụng thông qua một số yếu tố: Điều khoản bán chịu, phân tích tín dụng, quyết định cấp tín dụng, chính sách thu tiền. Các yếu tố này được xem xét cụ thể như sau: Điều khoản bán chịu Điều khoản bán chịu là điều khoản xác định độ dài thời gian hay thời gian bán chịu và tỷ lệ chiết khấu áp dụng nếu khách hàng trả sớm hơn thời gian bán chịu cho phép. Ví dụ điều khoản bán chịu “2/10 net 30” có nghĩa là khách hàng được hưởng 2% chiết khấu nếu thanh toán trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hóa đơn được phát hành và nếu khách hàng không lấy chiết khấu thì khách hàng được trả chậm trong thời gian 30 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn. Thay đổi điều khoản tín dụng lại thay đổi tới thời hạn tín dụng và tỉ lệ chiết khấu. Trong điều khoản chiết khấu, có hai vấn đề liên quan là thời hạn tín dụng và tỉ 11 lệ chiết khấu. Thời hạn tín dụng là thời gian mà nếu người mua thanh toán trước hoặc trong thời gian đó người mua sẽ nhận được tỉ lệ chiết khấu. Tỉ lệ chiết khấu là tỉ lệ phần trăm của doanh thu hoặc giá bán được chiết khấu trừ nếu người mua trả tiền đối với các khoản phải thu. Nhưng tỉ lệ chiết khấu sẽ làm giả doanh thu ròng, do đó làm giảm lợi nhuận. Liệu giảm chi phí đầu tư khoản phải thu có bù đắp thiệt hại do giảm lợi nhuận hay không là vấn đề mà nhà quản lý cần quan tâm. Cần phải chú ý rằng, mỗi thời kì khác nhau đều có những thay đổi nhất định, do đó, cần xem xét nội dung của chính sách tín dụng thương mại thường xuyên xem có phù hợp không. Phân tích tín dụng Để thực hiện được việc cấp tín dụng cho khách hàng thì vấn đề quan trọng là phải phân tích khả năng tín dụng của khách hàng. Mỗi doanh nghiệp đều thiết lập tiêu chuẩn bán chịu của mình chính thức hoặc không chính thức. Công việc nay bắt đầu bằng việc doanh nghiệp xây dựng một tiêu chuẩn tín dụng hợp lý, sau đó xác minh phẩm chất tín dụng của khách hàng tiềm năng. Nếu khả năng tín dụng của khách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn của tối thiểu mà doanh nghiệp đưa ra thì tín dụng thương mại có thể được cấp. Việc thiết lập tiêu chuẩn tín dụng của khách hàng cần phải đạt tới sự cân bằng phù hợp. Nếu tiêu chuẩn tín dụng quá cao thì sẽ loại bỏ mất nhiều khách hàng tiềm năng, dó đó làm giảm lợi nhuận. Ngược lại, nếu một chính sách tín dụng quá thấp có thể làm tăng doanh thu nhưng sẽ tạo ra nhiều khoản tín dụng có rủi ro cao và chi phí thu tiền cao. Các tài liệu được sử dụng để phân tích khách hàng có thể là kiểm tra bảng cân đối kế toán, bảng ngân quỹ, phỏng vấn trực tiếp, xuống tận nơi để kiểm tra tìm hiểu thông qua các khách hàng khác. Khi thực hiện việc phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, người ta có thể sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: Phẩm cách và tư cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ. Điều này cũng chỉ phán đoán dựa trên cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệp hoặc đối với doanh nghiệp khác. Năng lực trả nợ: Tiêu chuẩn này dựa vào hai chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh và bảng dự trữ ngân quỹ của doanh nghiệp… Vốn của khách hàng: Đánh giá về tiềm năng tài chính dài hạn Thế chấp: Xem xét khách hàng dưới góc độ các tài sản riêng mà họ có thể sử dụng để đảm bảo cho các khoản nợ. 12 Thang Long University Library Điều kiện kinh tế: Đề cập đến khả năng phát triển của khách hàng, xu thế phát triển về ngành nghề kinh doanh của họ. Quyết định cấp tín dụng Sau khi đã thực hiện thu thập thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ cân nhắc việc cũng cấp tín dụng thông qua chỉ tiêu NPV thông qua ba mô hình dưới đây: Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án: Mô hình này so sánh giá trị hiện tại của lợi ích (giá trị dòng tiền vào hay dòng tiền sau thuế của năm) và chi phí của việc cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước. NPV = CFt /k – CF0 CF0 = VC*S* CFt = (S*(1 – VC) – S*BD – CD) * (1-t) Trong đó: CFt: Dòng tiền sau thuế mỗi giai đoạn k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu CF0: Giá trị doanh nghiệp đầu tư vào khoản phải thu khách hàng VC: Chi phí biến đổi tính theo tỷ lệ % dòng tiền vào S/365: Dòng tiền vào (doanh thu) dự kiến mỗi ngày ACP: Thời gian quay vòng khoản phải thu TB BD: Tỷ lệ nợ xấu/doanh thu CD: Dòng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng t: Thuế suất thuế TNDN Từ kết quả thu được, nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại ròng: NPV > 0: cấp tín dụng NPV = 0: Bàng quan NPV < 0: Không cấp tín dụng Quyết định cấp tín dụng giữa phương án trả tiền ngay và bán trả chậm: Để đưa ra quyết định có nên cấp tín dụng ngay không, nhà quản lý tài chính phải so sánh giá trị hiện tại ròng của từng phương án: NPV0 = P0*Q0 – AC0*Q0 NPV1 = P1*Q1*h/ (1+ Rt) – AC1*Q1 Trong đó: NPV0: giá trị hiện tại ròng khi chưa cấp tín dụng NPV1: giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng 13 P0, Q0, AC0: giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi không cấp tín dụng P1, Q1, AC1: giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi cấp tín dụng h: xác suất thanh toán Rt: tỷ suất chiết khấu thanh toán Cơ sở để ra quyết định: NPV0 > NPV1: Không cấp tín dụng NPV0 < NPV1: Cấp tín dụng NPV0 = NPV1: Bàng quan Quyết định cấp tín dụng và thông tin rủi ro: NPV1 = P1*Q1*h/ (1 + Rt) – AC1*Q1*h NPV2 = P1*Q1*h/ (1 + Rt) – AC1*Q1*h – C Cơ sở ra quyết định: NPV1 > NPV2: Không sử dụng thông tin rủi ro NPV1 < NPV2: Sử dụng thông tin rủi ro NPV1 = NPV2: Bàng quan Chính sách thu tiền Sau khi đưa ra các quyết định cấp tín dụng cho khách hàng, doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi các khoản phải thu dựa trên thời gian thu nợ trung bình (ACP). Thời gian thu nợ trung bình là khoảng thời gian được tính theo ngày trung bình kể từ khi khách hàng nhận nợ cho đến khi khách hàng trả nợ cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi các khoản nợ để nhanh chóng đối phó với các tình huống xảy ra bất ngờ như khách hàng phá sản, mất tích … bằng việc trích lập dự phòng rủi ro. 1.3.3 Quản lý hàng tồn kho Hàng tồn kho là loại tài sản doanh nghiệp dự trữ cho quá trình sản xuất và lưu thông. Quản lý hàng tồn kho là việc tính toán theo dõi, xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và phí tổn của việc duy trì hàng tồn kho, đồng thời đảm bảo dự trữ duy nhất. Dưới đây là mô hình quản lý hàng tồn kho được nhiều doanh nghiệp áp dụng: Mô hình EOQ (The Economic Order Quantity Model): mô hình xác định lượng hàng hóa tối ưu (Q*) sao cho tổng chi phí tồn kho ở mức thấp nhất. 14 Thang Long University Library Đồ thị 1.3. Mô hình EOQ Mô hình EOQ Chi phí Tổng chi phí Chi phí dự trữ Chi phí đặt hàng Số lượng đặt hàng CP1 = S/Q * O (1) Q * CP2 = Q/2 * C (2) Trong đó: CP1: Chi phí đặt hàng CP2: Chi phí dự trữ S: Số lượng hàng cần đặt Q: Lượng hàng đặt 1 lần S/Q: Số lượng đặt hàng O: Chi phí một lần đặt hàng C: Chi phí dự trữ kho tính cho 1 đơn vị hàng lưu kho Q/2: Mức lưu kho trung bình Từ đó, ta có tổng chi phí: TC = CP1 + CP2 Tổng chi phí tối thiểu là mức lưu kho tối ưu, tương đương TCmin Q*=√ Thời gian dự trữ tối ưu: T* = Q*/(S/365) Vậy ta có điểm đặt hàng tối ưu (OP – order point): Là điểm mà tại đó doanh nghiệp nên tiến hành đơn đặt hàng mới sao cho sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Điểm đặt hàng = Thời gian chờ đặt hàng * Số lượng sử dụng trong ngày Tổng quan về mức dự trữ hàng lưu kho cho doanh nghiệp sẽ được mô tả qua hình vẽ dưới đây: 15 Đồ thị 1.4. Đồ thị mức dự trữ hàng tồn kho Số lượng (1) Thời gian chờ hàng về hàng lưu kho Điểm đặt Q/2 hàng Thời gian Thời điểm 1.2.3 Hi đặt hàng 1.4 (1) Thời điểm nhận hàng Thời gian dự trữ tối ưu (T*) Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Khái niệm 1.4.1 Hiệu quả theo nghĩa chung nhất được hiểu là những lợi ích về mặt kinh tế và xã hội do một hoạt động nào đó mang lại hay nói cách khác hiệu quả gồm hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội là những lợi ích đạt được về mặt xã hội do một hoạt động nào đó đem lại. Ví dụ như hiệu quả xã hội của hoạt động thương mại tạo nên đó là việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần cho xã hội, là sự góp phần cân đối cung cầu, ổn định giá cả và thị trường, là việc mở rộng giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng hoặc các nước tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Hiệu quả kinh tế (hiệu quả kinh doanh) là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt được kết quả kinh doanh cao nhất với chi phí thấp nhất, nói cách khác, hiệu quả kinh tế đó là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố đầu vào hoặc giữa kết quả với chi phí gắn liền với hoạt động kinh doanh nào đó Hiệu quả kinh doanh = Kết quả / Chi phí Hoặc Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu vào / Yếu tố đầu vào Cách đánh giá này được hầu hết các nhà kinh tế công nhận và được sử dụng rộng rãi trong thực tế. Nó cho phép đanh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh 16 Thang Long University Library doanh của doanh nghiệp, đồng thời còn so sánh được hiệu quả của các năm hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau. Về mặt lượng, hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả kinh tế càng cao. Về mặt chất, việc đạt hiệu quả cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý đồng thời cũng đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu kinh tế và những mục tiêu xã hội. Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng, nó là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. 1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản. Do đó ta sử dụng các chỉ tiêu sau: Khả năng thanh toán tức thời: Khả năng thanh toán tức thời = Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đơn vị tiền tệ. Khả năng thanh toán tức thời cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn, nó đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Nếu khả năng thanh toán hiện thời giảm (do tổng các khoản tương đương tiền giảm hoặc tổng nợ ngắn hạn tăng) là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Nếu khả năng thanh toán hiện thời cao (do tổng các khoản tương đương tiền tăng hoặc nợ ngắn hạn giảm) có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên nếu cao quá sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên khó có thể nói khả năng thanh toán tức thời cao hay thấp ở mức nào là tốt hay không tốt. Vì chỉ tiêu này phụ thuộc vào các khoản phải thu và dự trữ mà nó phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh của từng doanh nghiệp và của người phân tích. Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán nhanh = 17 Hệ số này cho thấy công ty có thể dùng bao nhiêu đồng tài sản để thanh toán nợ ngắn hạn mà không cần hàng lưu kho. Do đó, khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc hàng tồn kho. Nếu khả năng thanh toán nhanh tăng (tổng tài sản ngắn hạn tăng hoặc hàng tồn kho giảm hoặc tổng nợ ngắn hạn giảm) chứng tỏ tình hình tài chính doanh nghiệp tốt, có thể trả nợ mà không cần đến hàng trong kho. Nếu khả năng thanh toán nhanh giảm (tổng tài sản ngắn hạn giảm hoặc hàng tồn kho ứ đọng quá nhiều hoặc tổng nợ ngắn hạn giảm) cho thấy khả năng quản lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả. Khả năng thanh toán hiện hành Khả năng thanh toán hiện hành = Khả năng thanh toán hiện hành cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển bằng tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, tỷ số này đo lường được khả năng trả nợ của công ty. Nếu khả năng thanh toán hiện hành giảm (do tổng tài sản ngắn hạn giảm hoặc tổng nợ ngắn hạn tăng) cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính xảy ra. Nếu khả năng thanh toán hiện hành cao (do tổng tài sản ngắn hạn tăng hoặc tổng nợ ngắn hạn giảm) điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên nếu khả năng thanh toán hiện hành quá cao, sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn hay nói cách khác việc quản lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu được xác định bằng công thức: ROS Lợi nhuận sau thuế = Doanh thu thuần Tỷ suất này phản ánh cứ 1 đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu phần trăm lợi nhuận. Có thể sử dụng nó trong việc so sánh với tỷ suất của các năm trước. Sự biến động của tỷ suất này phản ánh sự biến động về hiệu quả ảnh hưởng các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) ROA là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận từ đầu tư tài sản, phản ánh một đồng đầu tư vào tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Thông thường tỷ suất càng cao đồng nghĩa với doanh nghiệp sử dụng tài sản có hiệu quả. Để có được 18 Thang Long University Library cái nhìn khách quan và chính xác, cần so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp cùng ngành nghề hoặc tỷ lệ chung của ngành. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ợi nhuận sau thuế Tổng tài sản Nếu tỷ suất sinh lời của tài sản lớn hơn 0 tức là doanh nghiệp đang có lãi. Nếu tỷ suất sinh lời nhỏ hơn 0 thì doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn được xác định bằng công thức: Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn Lợi nhuận sau thuế = Tài sản ngắn hạn bình quân Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn và cho biết một đồng tài sản ngắn hạn bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu lợi nhuận. Tỷ lệ doanh lợi tài sản ngắn hạn càng cao thì hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sử dụng tài sản Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Hiệu suất sử dụng tổng tài sản ngắn hạn = Chỉ tiêu này cho biết trong một kì phân tích các tài sản quay được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho, dở dang nhiều, có thể tài sản cố định chưa hoạt động hết công suất làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên cần lưu ý rằng khi phân tích chỉ tiêu này cần xem xét đặc điểm ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tài sản mà doanh nghiệp hoạt động, để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp hợp lý để tăng tốc độ quay vòng của tài sản. 1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn Tốc độ luân chuyển của các khoản phải thu Vòng quay khoản phải thu: phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu của doanh nghiệp thành tiền mặt và được xác định bằng công thức: Vòng quay khoản phải thu = Trong đó: Bình quân giá trị các KPT = giá trị CKPTđầu kì + giá trị CKPT cuối kì 2 19 Vòng quay khoản phải thu càng lớn thể hiện rằng doanh nghiệp thu hồi càng nhanh các khoản nợ, điều đó được đánh giá là tốt vì vốn bị chiếm dụng giảm. Hệ số thu nợ được sử dụng để xem xét cẩn thận việc khách hàng thanh toán các khoản nợ cho doanh nghiệp. Khi khách hàng thanh toán các khoản nợ đã đến hạn thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được một vòng. Thời gian thu nợ trung bình được xác định bằng công thức: Thời gian thu nợ trung bình = Trong phân tích tài chính chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp. Thời gian thu nợ trung bình cho biết bình quân doanh nghiệp phải mất bao nhiêu ngày cho một khoản thu. Vòng quay khoản phải thu càng cao thì thời gian thu nợ trung bình càng thấp và ngược lại, chỉ tiêu này càng nhỏ thì tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. Tốc độ luân chuyển của các khoản phải trả Vòng quay khoản phải trả = Vòng quay khoản phải trả cho biết số lần trả nợ của doanh nghiệp trong một chu kì kinh doanh, hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng được các khoản nợ dài. Thời gian trả nợ trung bình = Thời gian trả nợ trung bình cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày để trả nợ. Thời gian trả nợ càng dài chứng tỏ khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp tốt, vì khi đó nhà cung cấp bị thiệt. Tuy nhiên chiếm dụng quá lâu có thể gây ảnh hưởng không tốt cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác. Quản lý hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho: là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Số vòng hàng tồn kho càng cao việc kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao. Vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng công thức: Vòng quay hàng tồn kho = Trong đó: Giá trị bình quân hàng lưu kho = Giá trị hàng lưu kho đầu kì + Giá trị hàng lưu kho cuối kì 2 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -