Tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng liên doanh lào – việt chi nhánh hà nội

  • Số trang: 60 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 53 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Báo cáo tốt nghiệp Học viện Ngân hàng LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.Những kết quả và các số liệu trong báo cáo chưa được ai công bố dưới bất kì hình thức nào.Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này. Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2013 Tác giả Souliya Sengthongkham SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp Học viện Ngân hàng DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Bảng 1: Tình hình vốn huy động của LVB chi nhánh Hà Nội. .....................................31 Bảng 2: Tình hình dư nợ tín dụng tại LVB chi nhánh Hà Nội. .........................34 Bảng 3: Cơ cấu dư nợ cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội ..............................................................................38 Bảng 4: Vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội ..............................................................................40 Bảng 5: Mức vốn sử dụng của Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội .......................................................................................................................... 41 Bảng 6: Tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội .................................................................................................41 Bảng 7: Tỷ lệ mất vốn trung và dài hạn của Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội .................................................................................................42 Bảng 8: Tỷ lệ sinh lời trung và dài hạn của Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội .................................................................................................................................42 Biểu đồ 1.1: tình hình huy động vốn của LVB trong 3 năm 2010, 2011, 2012. ................................................................................................................................. 32 Biểu đồ 2: tình hình cho vay của LVB trong 3 năm 2010, 2011, 2012. ............35 Biểu đồ 3 : Nợ quá hạn của LVB trong 3 năm 2010, 2011, 2012. ......................................36 Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt chi nhánh Hà Nội ................................................................................................................................. 29 SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp Học viện Ngân hàng TÊN CÁC ĐỀ MỤC VIẾT TẮT Từ viết tắt Từ viết đầy đử CHXHCNVN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam CHDCNDL : Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào USD : Đô la mỹ VND : Việt Nam Đồng Tr.t : Tỷ trọng LVB : Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt BCEL : Ngân hàng Ngoại thương Lào LVBHN : Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 1 Banking Academy LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam đang có nhiều bước tiến trên con đường phát triển của mình. Đó cũng là cơ hội tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam theo kịp các nước khác. Để có được những thành tựu như vậy trong thời gian qua không thể không kể đến vai trò của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính trung gian quan trọng nhất, và là mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế. Ngân hàng có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giúp đỡ các nhà đầu tư, phát triển thị trường vốn, thị trường ngoại hối, tham gia và hỗ trợ hoạt động thanh toán ... Với nhiệm vụ quan trọng, sinh ra để tăng cường mối quan hệ kinh tế, thanh toán, thương mại Việt Nam – Lào, và giúp các cá nhân và doanh nghiệp thuận lợi trong buôn bán hàng hóa, thúc đẩy và tăng cường quan hệ mậu dịch chính ngạch giữa hai quốc gia. Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội đã thực hiện các hoạt động như huy động vốn; tín dụng; thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế và trong nước, các dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế, bảo lãnh, SMS Banking. Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội đã có biện pháp để hoạt động tín dụng trung và dài hạn đạt kết quả cao, song đây là vấn đề khó khăn của các ngân hàng nói chung chứ không riêng gì Chi nhánh. Qua quá trình nghiên cứu, học tập, tìm hiểu, và từ những yêu cầu từ thực tiễn đề ra, đặc biệt trong quá trình thực tập tại Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội, được sự giúp đỡ và khuyến khích của các thầy cô giáo trong khoa, các cô chú, anh chị trong ngân hàng, em đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội” để viết báo cáo tốt nghiệp. 2. Kết cấu bài báo cáo: Bài báo cáo tốt nghiệp được chia thành 3 chương: SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 2 Banking Academy Chương 1: Tín dụng và chất lượng tín dụng trung và dài của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt Chi nhánh Hà Nội SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 3 Banking Academy CHƯƠNG 1: TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1.1. Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 1.1.1.1. Tín dụng Ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian, thưc hiện hoạt động tài chính. Ở Việt nam, NHTM được quy định rõ trong luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Trong các họat động đó có hoạt động tín dụng: Tín dụng là: Quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là: Quá trình tập trung, phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật trên nguyên tắc có hoàn trả. Tín dụng là: Sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tín dụng là: Sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, hay cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả. Tuy nhiên, trong các NHTM tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn, gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 1.1.1.2. a) 4 Banking Academy Khái niệm, phân loại tín dụng trung và dài hạn Khái niệm Tín dụng của ngân hàng chia làm ba loại: Tín dụng ngăn hạn, và tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Nếu căn cứ vào thời hạn tín dụng, thì tín dụng trung hạn thường là trên 1 (năm) đến 3, 5, 7 (năm) tuỳ theo quan điểm của mỗi quốc gia. Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng mới những công trình loại nhỏ thời hạn thu hồi vốn nhanh. Tín dụng dài hạn thì thời hạn trên 3, 5, 7 năm tuỳ theo điều kiện ở mỗi nước. Mục đích là sử dụng vốn vay gần như tín dụng trung hạn nhưng với những dự án, công trình có quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn. Còn ở nước ta thì tín dụng trung hạn là món cho vay có thời hạn từ 1 đến dưới 5 năm, tín dụng dài hạn thì trên 5 năm. b) Phân loại Để phân loại tín dụng trung và dài hạn thì có nhiều căn cứ, một trong số đó là: Căn cứ vào tính chất đảm bảo, phương thức cho vay, và cuối cùng là đồng tiền vay vốn. - Căn cứ vào tính chất đảm bảo.  Tín dụng trung và dài hạn có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay mà bên cho vay yêu cầu bên đi vay có tài sản đảm bảo thì mới cho vay.  Tín dụng trung và dài hạn không có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay mà bên cho vay không yêu cầu bên đi vay phải có tài sản đảm bảo, được áp dụng trong trường hợp khách hàng quen, làm ăn với Ngân hàng có uy tín. - Căn cứ vào phương thức cho vay. Đây là hình thức cho vay trên cơ sở dự án đã được xem xét khẳng định tính khả thi và tính hiệu quả. Bao gồm: SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp  5 Banking Academy Cho vay đồng tài trợ: Là hình thức cho vay mà có tới ít nhất hai tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên đồng tài trợ thực hiện nhằm phân tán rủi ro tín dụng. Được áp dụng trong trường hợp các dự án lớn một ngân hàng không đủ khả năng cho vay, hoặc dự án này rủi ro cao.  Cho vay trực tiếp theo dự án: Đối với hình thức này NHTM tự tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm về dự án mà mình tài trợ, đây là hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường.  Tín dụng thuê mua: Đây là hình thức cho vay thông qua hợp đồng tín dụng thuê mua, qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản mình có quyền sở hữu cho người đi thuê sử dụng, khi đó người đi thuê có trách nhiệm thanh toán đầy đủ khoản tiền thuê trong suốt thời gian thuê. Bên thuê có thể mua tài sản, hoặc thuê tiếp tài sản đó theo hợp đồng do hai bên kí kết. Đối với nền kinh tế nhiều thành phần, và các doanh nghiệp lại chưa có năng lực về vốn cao như ở Việt Nam thì tín dụng thuê mua là một hình thức rất có ý nghĩa. - Căn cứ vào đồng tiền vay vốn  Tín dụng trung và dài hạn bằng nội tệ: Là hình thức cho vay bằng đồng nội tệ.  Tín dụng trung và dài hạn bằng ngoại tệ: Là hình thức cho vay bằng đồng ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán của các công trình xây dựng cơ bản, các chi phí liên quan đến nước ngoài. 1.1.1.3. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn Khi thực thi một kế hoạch kinh doanh nào, điều kiện đầu tiên là cần có vốn, xong không phải ai cũng đủ vốn để thực thi, hoặc chỉ chi tiêu trong số vốn mình có chưa phải là phương pháp tối ưu, vì vậy tín dụng ngân hàng là giải pháp về vốn. Trong đó Tín dụng trung và dài hạn đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ đối với Ngân hàng, khách hàng mà cả với nền kinh tế quốc dân. SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp a) 6 Banking Academy Đối với ngân hàng Vì mỗi món vay trung và dài hạn thường có khối lượng rất lớn, lãi suất cao nên nếu Ngân hàng có nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, thì đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với việc dùng nó để cho vay ngắn hạn. Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt từ khi Việt Nam ra nhập WTO, có rất nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nhiệp, vì thế nhu cầu đổi mới công nghệ, kĩ thuật cũng như mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh của các doanh nghiệp là rất lớn, theo đó mà nhu cầu vốn trung và dài hạn cũng tăng cao. Đối với Ngân hàng đây là cơ hội để thực hiện hoạt động tín dụng. Với hoạt động tín dụng hiệu quả Ngân hàng không những thu được lợi nhuận mà ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thị trường tài chính. Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có chất lượng tốt sẽ tạo được mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Bởi Ngân hàng mở rộng tín dụng trung và dài hạn để đẩy tạo điều kiện đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Vì những lý do sau các doanh nghiệp sau khi được ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc mới, cải tiến kĩ thuật hay xây dựng…., năng lực sản xuất sẽ tăng lên, doanh nghiệp lại cần có nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất, kế hoạch kinh doanh mới. Khi đó, Ngân hàng đã đầu tư cho họ chính là điểm đến đầu tiên mà doanh nghiệp tìm đến. Bởi lẽ Ngân hàng đã nắm được tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp nên có thể giảm thiểu thời gian do không mất công tìm hiểu thẩm định lại, từ đầu, các dịch vụ sẽ tiện lợi, nhanh chóng hơn, đáp ứng được nhu cầu vốn phục vụ tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. b) Đối với khách hàng Trong môi trường kinh tế cạnh tranh đầy khốc liệt, để có thể tồn tại và phát triển được thì các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến kỹ thuật, công nghệ, nâng cao năng suất lao động. Bởi lẽ tài sản cố định là tư liệu chủ yếu, chiếm bộ phận lớn trong tổng giá thành, là yếu tố quan trọng quyết định lợi thế cạnh tranh… Tuy nhiên, trên thực tế giá trị tài sản cố định thường rất cao, nếu chỉ trông chờ vào SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 7 Banking Academy nguồn vốn tự tích luỹ thì cần phải mất rất nhiều thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ bị tụt hậu. Vì thế lối thoát duy nhất cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Và khi tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp mong muốn có đựơc những khoản tín dụng trung và dài hạn từ ngân hàng. Một hình thức khác đó là doanh nhiệp huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn dài hạn, chúng ta không phủ nhận những mặt tích cực của thị truờng chứng khoán trong việc phục vụ nhu cầu bổ sung vốn cho doanh nghiệp, tuy nhiên hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán hoàn hảo. Nhưng cho đến thời điểm hiện nay năm 2011, thị trường chứng khoán tại Việt Nam vẫn là một thị trường không hoàn hảo. Thêm nữa tín dụng trung và dài hạn có kì hạn, và doanh nghiệp không phải phân chia quyền lực như phát hành chứng khoán, nên dễ dàng điều khiển các hoạt động kinh doanh. Tín dụng trung và dài hạn là trợ thủ đắc lực cho các doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh đó là lợi nhuận, an toàn, phát triển không ngừng và bền vững. Có thể nói tín dụng trung và dài hạn đã giúp các doanh nghiệp đầu tư mở rộng quy mô, cải tiến kỹ thuật, công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo điều kiện canh tranh và chiếm lĩnh thị trường mới. c) Đối với nền kinh tế Tín dụng trung và dài hạn có vai trò rất quan trọng trong kinh tế, bởi nó có hiệu quả sẽ tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Phát triển cho vay tín dụng trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản và giảm bớt thâm hụt ngân sách. Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh tế, tín dụng trung và dài hạn đã thu hút được nguồn vốn dư thừa, tạm thời nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng để đưa vào sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó phục vụ cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Trong quá trình huy động vốn và cho vay, thanh toán của khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất kinh SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 8 Banking Academy doanh cũng như khả năng thanh toán chi trả của khách hàng. Trong quá trình cho vay, để tránh rủi ro ngân hàng luôn đánh giá, phân tích khả năng tài chính và thường xuyên giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết, hướng cho hoạt động của doanh nghiệp đi đúng hướng, từ đó tạo tiền đề vật chất cho xã hội. Thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.Mặc dù là một đơn vị kinh doanh, nhưng các Ngân hàng quốc doanh vẫn là một bộ phận của nhà nước, tiến hành kinh doanh dưới sự định hướng của nhà nước, hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thông qua các chính sách ưu đãi trong tín dụng. Về nguyên tắc, Ngân hàng ưu đãi đối với các dự án sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá và thắt chặt điều kiện vay vốn với doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. Đầu tư tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng theo trọng điểm của ngành và nội bộ ngành góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Hoạt động tín dụng theo chiều sâu, xây dựng mới… đã tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật vững chắc cho nền kinh tế phát triển lâu dài, góp phần tăng cường kim ngạch xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Khi năng xuất tăng, sản phẩm làm ra nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng hơn đủ tiêu dùng và dư thừa cho xuất khẩu. Nhiều xí nghiệp với máy móc hiện đại sản xuất ra sản phẩm thay thế hàng nhập. Điều đó góp phần tiết kiệm chi ngoại tệ, tăng thu ngoại tệ, tạo cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh. Ngoài ra, tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng còn góp phần nâng cao đời sống nhân dân ổn định đời sống, tạo ra công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội. Bởi lẽ, tín dụng trung và dài hạn đầu tư vào những lĩnh vực mới, cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất nên sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời do sản phẩm đa dạng hơn, giá cả phải chăng nên người dân được tiêu dùng nhiều sản phẩm hơn. SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 9 Banking Academy Tín dụng trung - dài hạn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư, làm cho cơ cấu của nền kinh tế trở lên hợp lý từ đó làm tiền đề cho sự ổn định và trật tự an toàn xã hội. 1.1.1.4. Nội dung nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn Tín dụng trung và dài hạn là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhưng kèm theo đó là rủi ro tiểm ẩn rất nhiều. Để đảm bảo tính pháp lý, sản phẩm tiện ích cho khách hàng, các ngân hàng đã cụ thể hóa nội dung nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn như sau: a) Mục đích cho vay Đối với doanh nghiệp, nếu như tín dụng ngắn hạn được cho vay với mục đích chủ yếu là bổ sung vào vốn lưu động thì tín dụng trung và dài hạn lại nhằm đầu tư vào các dự án có thời gian tương đối dài, để nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, máy móc trang thiết bị, cải tiến công nghệ, kỹ thuật, mở rộng, nâng cấp quy mô sản xuất…đáp ứng nhu cầu tồn tại phát triển của doanh nghiệp. Nhà nước cũng vay trung và dài hạn để đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho nền kinh tế, thực hiện các chiến lược phát triển trung và dài hạn. Ngân hàng cho vay đối với cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận chuyển như nội thất, ô tô… b) Đối tượng cho vay Đối tượng cho vay của tín dụng trung và dài hạn là các chi phí cấu thành trong tổng mức đầu tư của các dự án, không phân biệt thành phần kinh tế, là tổ chức cá nhân hay hay doanh nghiệp, bao gồm: Giá trị vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân công, giá thuê và chuyển nhượng đất đai, giá thuê mua các tài sản, chi phí mua bảo hiểm và các chi phí khác, giá mua đồ dùng lâu dài như ô tô, xe máy…khi là tín dụng đối với khách hàng là cá nhân.. c) Điều kiện cho vay Khách hàng phải đáp ứng đầy đủ, và chính xác hồ sơ xin vay vốn: đó là đơn xin vay, giấy tờ chứng thực hợp pháp như: Giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép hoạt SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 10 Banking Academy động kinh doanh…. , luận chứng kinh tế kỹ thuật, dự toán đã được thẩm định, báo cáo tài chính do cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ngoài ra, bên vay phải có cả bản tính toán hiệu quả của dự án, lợi nhuận mà dự án mang lại qua các năm, các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi như IRR, NPV… có tính toán đầy đủ số tiền xin vay, các nguồn trả nợ và lệnh trả nợ… Phía ngân hàng sẽ xem xét tính chính xác, trung thực, đầy đủ của các thông tin, cũng như đánh giá khả năng của bên vay trước khi ra quyết định cho vay. Khi ngân hàng quyết định cho khách hàng vay trung và dài hạn, thì phải nắm chắc hiệu quả của phương án, dự án, chương trình sản xuất kinh doanh của bên vay vốn. Một trong các điều kiện để NHTM cho vay đó là bên vay phải có tài sản đảm bảo. - Đảm bảo đối vật: Là hình thức đảm bảo mà ngân hàng là chủ nợ được thừa hưởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của bên vay, nhằm làm căn cứ để thu hồi nợ khi bên vay không trả, hoặc không trả được nợ. Có hai cách thức đảm bảo đó là: Cầm cố và thế chấp.  Cầm cố: Là hình thức theo đó khách hàng tín dụng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo cho ngân hàng trong thời gian cam kết.  Thế chấp: Là hình thức theo đó khách hàng tín dụng chuyển giấy tờ chứng nhận sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. - Đảm bảo đối nhân: Là hình thức bên vay tìm được một bên bảo lãnh cho mình. Bên bảo lãnh phải đủ năng lực bảo lãnh theo quy định của pháp luật. Bên bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng khi bên vay không trả, hoặc không có khả năng trả nợ. d) Nguồn vốn Ngân hàng thường sử dụng vốn tự có hoặc nguồn huy động trung và dài hạn, một phần vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Như huy động từ dân cư bằng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, bán trái phiếu, vay trung và dài hạn từ ngân hàng SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 11 Banking Academy trung ương hoặc nước ngoài, vốn nhận ủy thác, và vốn tài trợ để cho vay từ các dự án của nhà nước, tổ chức kinh tế - tài chính, tín dụng xã hội trong và ngoài nước. e) Thời hạn. Thời hạn cho vay của tín dụng trung và dài hạn sẽ được tính căn cứ vào từng dự án cụ thể, khả năng trả nợ của khách hàng, và tính chất nguồn vốn của ngân hàng. Thời gian cho vay được tính từ lúc bên vay nhận được tiền đến khi họ trả hết nợ cho ngân hàng. Và thời hạn cho vay gồm thời gian trả nợ và thời gian ân hạn - Thời gian trả nợ: Tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, khả năng thu nhập của bên vay từ đó mà hai bên thỏa thuận thời gian trả nợ và số tiền trả từng kỳ. - Thời gian ân hạn: Được tính tương ứng với thời gian xây dựng công trình, thời gian lắp đặt máy móc và sản xuất thử sản phẩm. f) Lãi suất. Lãi suất cho vay được xác định tùy thuộc vào từng dự án cụ thể, ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, chính sách của ngân hàng, cũng như sự thỏa thuận của hai bên. Có thể sử dụng lãi suất cố định hoặc thay đổi, tuy nhiên lãi suất thay đổi vẫn được ưu tiên hơn vì nó giảm được rủi ro cho cả hai bên. Thông thường thì lãi suất được điều chỉnh 6 tháng một lần và lãi suất điều chỉnh = lãi suất huy động tiết kiệm 12 tháng + 0,1% / tháng. g) Hạn mức. Là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định mà ngân hàng dành cho khách hàng, theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Hạn mức tín dụng được phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Quy định của Ngân hàng Nhà nước, mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ, tùy thuộc vào bản thân từng ngân hàng nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn trung và dài hạn lớn thì khả năng cho vay trung và dài hạn càng nhiều, và chính sách thương mại đối với từng dự án trong từng thời kỳ, nhu cầu của khách hàng, cũng như uy tín của họ, sự ổn định hay bất ổn của nền kinh tế nếu bất ổn thì khả năng thu hồi nợ sẽ xấu đi... h) Thẩm định SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 12 Banking Academy Ngân hàng thẩm định hai nội dung chính trước khi cho vay như sau: Đó là thẩm định chủ đầu tư và thẩm định dự án đầu tư. Để xác định được đầy đủ hiệu quả của dự án ngân hàng cần nắm chắc phương diện tài chính của dự án.  Thẩm định chủ đầu tư: Thẩm định chủ đầu tư: Là để xem xét chủ đầu tư có nguyện vọng cũng như khả năng trả nợ cho ngân hàng hay không, nói cách khác là thẩm định xem khách hàng có thực sự có nhu cầu vay vốn hay không, tránh trường hợp sử dụng sai mục đích. Khi thẩm định chủ đầu tư ngân hàng cần xem xét các vấn đề sau: - Xem xét tư cách pháp nhân của khách hàng để có thể biết họ có khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không. - Phân tích uy tín của khách hàng, đây là vấn đề rất quan trọng vì những khách hàng có uy tín lớn họ sẽ tìm mọi cách để trả nợ ngân hàng. - Phân tích năng lực tài chính của khách hàng nhằm thấy được khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng của họ. Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng lực tài chính đó là:  Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn.  Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản ngắn hạn- Hàng tồn kho) / Nợ ngắn hạn.  Khả năng thanh toán tức thời = (Tiền và các khoản tương đương tiền)/ Nợ ngắn hạn . - Xem xét khả năng điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, sự tín nhiệm và năng lực sản xuất.  Thẩm định dự án đầu tư: - Thẩm định phương diện thị trường: Đây là bước rất quan trọng và mang tính tiền đề đối với dự án sản phẩm mới, và mở rộng thị trường sản phẩm. Nghiên cứu thị trường giúp ngân hàng thấy được xu thế tương lai của sản phẩm mà dự án sẽ sản xuất ra, rằng nó có được chấp nhận trên thị trường không, tiêu thụ nhiều hay ít, thị hiếu như thế nào, có phải thay đổi không. Các sản phẩm cạnh tranh, doanh thu của các sản phẩm tương tự trong thời gian qua để ước tính được doanh thu cho sản phẩm dự án.Từ đó xem kế hoạch kinh doanh đề ra có khả thi không. SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp - 13 Banking Academy Thẩm định phương diện kỹ thuật: Phân tích quy mô dự án và công nghệ, trang thiết bị nhằm thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm, và việc sử dụng trang thiết bị như thế đã hợp lý hay chưa, đã tăng được năng suất lao động tương ứng với sự thay đổi này chưa. Thẩm đinh trình độ tiên tiến của công nghệ, thời gian ra đời công nghệ mới. Thẩm định khả năng cung cấp nguyên vật liệu, và các yếu tố đầu vào khác. Thẩm định việc quản lý thực hiện vận hành dự án… - Thẩm định tài chính dự án đầu tư: Cán bộ tín dụng phân tích các chỉ tiêu về mặt tài chính của dự án xin vay đó là khả năng trả nợ, sản lượng hòa vốn, điểm hòa vốn, điểm hòa vốn trả nợ, NPV, IRR. .. - Phân tích các trường hợp rủi ro có thể sảy ra đối với các dự án: Trường hợp giảm sản lượng, hay chi phí biến đổi tăng, giá bán giảm, sảy ra sự lạc hậu của công nghệ dẫn đến sự cạnh tranh giảm sút, các thay đổi bởi chính sách, pháp luật… Sau khi giải ngân cán bộ tín dụng lại tiếp tục theo dõi xem việc sử dụng vốn vay đó có đúng mục đích đã đăng kí trong hợp đồng không, định kỳ kiểm tra tình hình vận hành dự án nếu phát hiện sai phạm báo ngay cho lãnh đạo để xử lý kịp thời, chuẩn bị đến kỳ hạn trả nợ lãi và gốc cán bộ tín dụng phải lập phiếu nhắc thu nợ để việc thu nợ đúng kế hoạch, cũng như sử lý kịp thời khi sai phạm sảy ra. Khi kết thúc hợp đồng tín dụng: Tức là khách hàng đã thanh toán đầy đủ gốc và lãi thì tiến hành thanh lý hợp đông. Tuy nhiên nếu khách hàng không trả được nợ khi hết hạn thì cán bộ tín dụng chuyển phần dư nợ còn lại sang theo dõi trên tài khoản nợ quá hạn, đồng thời xác định nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, có biện pháp xử lý kịp thời, có thể ra hạn nợ hoặc phát mại tài sản đảm bảo. 2.1. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN 2.1.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạn Chất lượng tín dụng là mức độ đáp ứng yêu cầu của cả người vay lẫn người cho vay, phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện đặc thù của bản thân ngân hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 14 Banking Academy + Đối với ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng thể hiện ở việc đưa ra các hình thức tín dụng trung và dài hạn phù hợp với phạm vi, mức độ, giới hạn phù hợp với bản thân ngân hàng mình để luôn đảm bảo nguyên tắc tín dụng, đó là tính cạnh tranh, an toàn, sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ gốc và lãi. + Đối với khách hàng: Tín dụng trung và dài hạn đưa ra phải phù hợp với yêu cầu sử dụng của khách hàng về cả lãi suất, kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, thuận tiện nhưng luôn đảm bảo các nguyên tắc tín dụng cho khách hàng lựa chọn hình thức phù hợp nhất với mình + Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Tín dụng trung và dài hạn khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế. Tín dụng phải luôn đảm bảo sự lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, giảm khoảng cách giàu nghèo. 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn. 1.2.2.1. Chủ quan  Về phía ngân hàng: Có thể nói các yếu tố bên trong thường có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng. Yếu tố chủ quan là yếu tố bên trong, sinh ra bởi chính bản thân ngân hàng, trên tất cả các mặt của hoạt động tín dụng như: Việc xây dựng chiến lược, sách lược trong quá trình phát triển, các chính sách tín dụng, cơ cấu tổ chức vận hành của ngân hàng nói chung và quản lý hoạt động tín dụng nói riêng, công tác kiểm tra, kiểm soát, và thiết lập hệ thống thông tin. Ta có thể nghiên cứu sự ảnh hưởng của chúng qua một số yếu tố sau: - Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng là quỹ đạo quyết định đến hoạt động tín dụng của các NHTM, và quyết định sự thành công hay thất bại của một ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng, và đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 15 Banking Academy luật, theo chủ chương đường lối, chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Trong từng thời kỳ, đối với mỗi ngân hàng thường có những chính sách khác nhau, chính sách tín dụng ảnh hưởng đến số lượng, quy mô các khoản cho vay, các khoản đảm bảo, hình thức trả tiền cho vay và nhiều yếu tố khác. - Chính sách lãi suất. Đối với chính sách lãi suất, NHTM là định chế tài chính trung gian thực hiện đi vay để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất tiền vay, do đó phải có một chính sách lãi suất phù hợp làm cơ sở để ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả tín dụng trung và dài hạn, tức phải đảm bảo các điều kiện sau đây:  Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền đó là an toàn, tiện lợi và có lãi.  Lãi suất tín dụng phải bù đắp được chi phí về huy động vốn, và đảm bảo kinh doanh có lãi.  Lãi suất thay đổi theo cung cầu thị trường nhưng sự biến đổi phải nằm trong giới hạn.  Công tác tổ chức của ngân hàng: Tổ chức ngân hàng nếu được sắp xếp một cách khoa học, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng, ban trong toàn bộ hệ thống sẽ tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, và quản lý sát sao các khoản huy động vốn cũng như các khoản vốn cho vay. Từ đó nhanh chóng phát hiện, xử lý giảm thiểu rủi ro.  Chất lượng nhân sự ngân hàng: Chất lượng nhân sự tốt sẽ đẩy nhanh tiến độ và đạt hiệu quả công việc cao. Con người là luôn là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại trong quản lý vốn tín dụng trung và dài hạn, cũng như trong hoạt động của ngân hàng, xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để ứng phó kịp thời với các tình huống khác nhau của hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt và chuyên môn nghiệp vụ giỏi SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 16 Banking Academy sẽ giúp cho ngân hàng ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện một chu trình khép kín của một hợp đồng tín dụng.  Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng trung và dài hạn bao gồm những quy định cần phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm bảo đảm an toàn nguồn vốn tín dụng. Nó được bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, giải ngân, kiểm tra quá trình cho vay cho đến khi thu hồi được nợ. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn có bảo đảm hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước và sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng. Tín dụng trung và dài hạn được tiến hành chủ yếu dựa trên các dự án đầu tư. Vì thế thẩm định dự án đầu tư chiếm một vị trí rất quan trọng đến chất lượng tín dụng. Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư để ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Thẩm định tín dụng một cách kỹ càng, đúng quy trình thẩm định sẽ góp phần giảm được những rủi ro của tín dụng trung và dài hạn, giúp ngân hàng thu được lợi nhuận và đảm bảo tính ổn định, an toàn của các khoản vay. Công tác thẩm định tập trung ở hai nội dung:  Thẩm định toàn diện các nội dung của luận chứng kinh tế, kỹ thuật, báo cáo kinh tế của các dự án tiền khả thi.  Thẩm định toàn diện tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đầu tiên thẩm định dự án là phải thu thập thông tin sau đó tiến hành phân tích. Những thông tin thu thập phải được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như: - Thẩm định về phương diện thị trường:  Kiểm tra cân đối cung cầu về sản phẩm của dự án, tuỳ theo phạm vi tiêu thụ sản phẩm ở trong nước hay xuất khẩu: Nhu cầu của thị trường, từ đó dự báo mức độ gia tăng, sản phẩm có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường về cả khối lượng và chất lượng, cũng như thị hiếu hay không, đánh giá những sản phẩm có khả năng thay thế SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12 Báo cáo tốt nghiệp 17 Banking Academy sản phẩm của dự án trong tương lai, độ bền của nhu cầu sử dụng của sản phẩm thay thế, sản phẩm và đối thủ cạnh tranh.  Căn cứ vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về sản phẩm: Ưu thế của sản phẩm về giá thành, chất lượng, mẫu mã, điều kiện lưu thông và tiêu thụ. Khả năng và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản phẩm, kênh phân phối, và nắm bắt thông tin. Những con số cụ thể về khả năng tiêu thụ sản phẩm trong quá khứ và tương lai. - Thẩm định về phương diện kỹ thuật:  Xem xét việc lựa chọn địa điểm và mặt bằng xây dựng dự án, lựa chọn hình thức đầu tư và công suất của dự án.  Khai thác tiềm năng sẵn có và lâu dài, khả năng đáp ứng được nhu cầu cần thiết, tối ưu hoá hiệu quả của dự án.  Nhu cầu về dây chuyền công nghệ và lựa cho thiết bị máy móc, khả năng tìm kiếm, kiểm tra tính pháp lý của hợp đồng chuyển giao công nghệ.  Thẩm định tiến độ thực hiện của dự án. - Thẩm định về phương diện tổ chức:  Xem xét cơ cấu tài chính: Vấn đề về quyền lợi và trách nhiệm được kết nối như thế nào.  Năng lực tài chính: Quản lý của nhóm điều hành, nhân viên có những hoạt động đào tạo trước mắt và lâu dài. - Thẩm định về mặt tài chính của dự án Đây chính là vấn đề cốt lõi nhất khi thẩm định dự án đầu tư đối với bất kỳ một ngân hàng nào khi đưa ra quyết định cho vay, mà đặc biệt là cho vay trung và dài hạn. Thẩm định về mặt tài chính được coi là sự đảm bảo tối thiểu cho khoản vay sắp cung cấp. Thẩm định tài chính bao gồm các nội dung chính như sau:  Vốn xây lắp: Thường được tính toán trên cơ sở khối lượng công tác xây lắp và đơn giá xây lắp tổng hợp hay suất vốn đầu tư. SV: Souliya Sengthongkham Lớp: NHTME – K12
- Xem thêm -