Tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện tư nghĩa

  • Số trang: 52 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 151 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

Báo cáo thực tập tốt nghiệp 1 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các NHTM ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt, kể cả số lượng, quy mô và chất lượng. Trong những năm qua, hoạt động Ngân hàng nước ta đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển. Như vậy, hệ thống NHTM thực sự là ngành tiên phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa nền kinh tế-xã hội ở nước ta. Huyện Tư Nghĩa là một huyện nông nghiệp, có vị trí địa lý thuận lợi, có tiềm năng lớn về sản xuất nông nghiệp. Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp đã thu được những thành tựu to lớn góp phần vào sự tăng trưởng chung của tỉnh cũng như cả nước. Phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn toàn diện vững chắc, tận dụng lợi thế địa phương, phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả và phù hợp với nhu cầu của thị trường, phát triển đa dạng các ngành dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Trên thực tế việc mở rộng cho vay vốn ngày càng khó khăn do trên địa bàn có điều kiện thời tiết không thuận lợi như nắng mưa, bão lụt, hạn hán nên ảnh hưởng rất lớn đến đồng vốn vay, khả năng rủi ro luôn tiềm ẩn trong hoạt động cho vay. Với chủ trương công nghiêp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới thì nhu cầu vay vốn ngày càng lớn, hoạt động kinh doanh Ngân hàng sẽ có nhiều tiềm năng phát triển và nhiều rủi ro. Bởi vậy mở rộng cho vay phải đi kèm với việc nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của Ngân hàng. Có như vậy, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mới thực sự trở thành "đòn bẩy" thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Nhận thức được những vấn đề trên và xuất phát từ thực tiễn, sau thời gian thực tập tại phòng Nghiệp vụ kinh doanh của NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tư Nghĩa”. Nhằm mục đích tìm hiểu tình hình thực tế và từ đó tìm ra những giải pháp để đầu tư đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện và đảm bảo an toàn vốn đầu tư cũng như nâng cao chất lượng cho vay trong ngắn hạn. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt 2. Mục đích nghiên cứu. Việc chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triên nông thôn huyện Tư Nghĩa” nhằm các mục tiêu: - Nghiên cứu về mặt lý luận các vấn đề về NHTM, cho vay Ngân hàng nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng cùng với chất lượng cho vay. - Nghiên cứu tình hình thực tế về hoạt động cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng, đồng thời đóng góp về mặt thực tiễn giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của bài chuyên đề này là những lý luận cơ bản về hoạt động cho vay ngắn hạn. Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn. Phạm vi nghiên cứu là khảo sát hoạt động cho vay ngắn hạn và các giải pháp nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn tại NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa. 4. Phương pháp nghiên cứu. Sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phân tích, diễn giải, điều tra thực tế, thống kê số liệu hoạt động của Ngân hàng qua các năm. 5. Kết cấu của đề tài. Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài chuyên đề chia ra làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay ngắn hạn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tư Nghĩa. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượngcho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tư Nghĩa. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 3 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY NGẮN HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG. 1.1. Khái niệm về NHTM. Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2009: NHTM là Ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức cho vay và các quy định khác của pháp luật. 1.2. Cho vay ngắn hạn của NHTM. 1.2.1. Khái niệm về cho vay ngắn hạn. Cho vay ngắn hạn là việc NHTM sử dụng từ nguồn vốnchủ sở hữu, nguồn vốn huy động, các nguồn vốn khác của mình để cho các chủ thể có nhu cầu vay, NHTM thu hồi vốn gốc và lãi với thời hạn dưới 12 tháng. 1.2.2. Mục đích của cho vay ngắn hạn. Mục đích của cho vay ngắn hạn chủ yếu để bổ sung vào nguồn vốn thiếu cho các chủ thể nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. 1.2.3. Phân loại cho vay ngắn hạn. Thực hiện tốt việc phân loại cho vay ngắn hạn sẽ giúp cho Ngân hàng nghiên cứu việc vận dụng vốn cho vay trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng. Từ đó có sự quản lý phù hợp nhất để nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn. Ta có một số cách phân loại chủ yếu sau: Căn cứ vào mục đích sử dụng: cho vay ngắn hạn bao gồm cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh. - Cho vay tiêu dùng: Việc cho vay của Ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, chi sửa chữa nhà cửa, mua sắm tài sản... - Cho vay kinh doanh: Ngân hàng sẽ cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh vay để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh ngắn hạn của họ. Lĩnh vực kinh doanh ngắn hạn của khách hàng bao gồm: SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 4 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt + Cho vay công nghiệp và thương mại: Giúp khách hàng trang trải các khoản chi phí hoạt động như chi phí mua hàng, trả lương… + Cho vay xây dựng ngắn hạn: Tạm ứng vốn cho bên thi công trong giai đoạn thi công các công trình xây dựng. + Cho vay nông nghiệp: Nhằm hỗ trợ nông dân trong giai đoạn gieo trồng, bảo quản sản phẩm. + Cho vay các tổ chức cho vay. + Cho vay khác: Bao gồm các hình thức như kinh doanh chứng khoán… Căn cứ vào đảm bảo tiền vay: cho vay ngắn hạn chia thành cho vay có bảo đảm và cho vay không có bảo đảm. - Cho vay có bảo đảm: cho vay ngắn hạn có đảm bảo được chia thành các dạng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, đảm bảo bằng tài sản được hình thành từ vốn vay nhằm hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. - Cho vay không có đảm bảo: cho vay ngắn hạn không có đảm bảo được dựa trên tính liêm khiết và tình hình tài chính của người vay, lợi tức có thể có trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây, cho vay ngắn hạn không có đảm bảo được chia thành tín chấp, bảo lãnh bằng tín chấp của bên thứ ba. Căn cứ vào đồng tiền cho vay: cho vay ngắn hạn bao gồm cho vay bằng đồng nội tệ và cho vay bằng đồng ngoại tệ. Căn cứ vào phương pháp cho vay: cho vay ngắn hạn được chia thành cho vay từng lần, và cho vay theo hạn mức. Căn cứ vào đối tượng sử dụng vốn vay: cho vay ngắn hạn chia thành cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp - Cho vay trực tiếp: Tiền vay được phát trực tiếp cho người vay - Cho vay gián tiếp: Tiền vay được phát đến một tổ chức trung gian, sau đó mới tới tay người vay. Căn cứ vào phương thức thanh toán: Người ta chia cho vay ngắn hạn thành cho vay ngắn hạn hoàn trả một lần, cho vay ngắn hạn hoàn trả nhiều lần. 1.2.4. Tuân thủ nguyên tắc cho vay ngắn hạn. Khách hàng vay vốn của tổ chức cho vay phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 5 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt - Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay. - Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiện đúng quy định của chính phủ và Ngân hàng nhà nước. 1.2.5. Xây dựng tiêu chuẩn cho vay ngắn hạn. Để quản lý có hiệu quả chất lượng cho vay cần có các tiêu chuẩn quản lý để làm thước đo đánh giá mức độ chất lượng đạt được. Chất lượng cho vay phải là kết quả của công tác quản lý của Ngân hàng đối với tình hình khách hàng và hoạt động cho vay của bản thân Ngân hàng. Do vậy, tiêu chuẩn quản lý cho vay cần được xây dựng cụ thể đối với khách hàng và Ngân hàng. Đối với Ngân hàng: tiêu chuẩn quản lý tập trung vào 6 tiêu chuẩn: Tình hình chấp hành các điều luật và nguyên tắc cho vay ngắn hạn đã quy định; vòng quay vốn cho vay; khả năng sẵn sàng thanh toán; mức độ phân tán rủi ro; tình hình chấp hành hạn mức cho vay đã quy định; kết quả kinh doanh. Đối với khách hàng: tiêu chuẩn quản lý tập trung vào 5 tiêu chuẩn: Tư cách khách hàng; khả năng sản xuất kinh doanh; vốn tự có; khả năng thế chấp; lĩnh vực sản xuất kinh doanh. 1.2.6. Thực hiện quy trình quản lý cho vay ngắn hạn. Quy trình quản lý cho vay ngắn hạn là một quy trình tuần tự khép kín bắt đầu từ việc đề ra chính sách cho vay, đến việc khái quát thành các quy định cụ thể về cho vay vốn, quy định cơ cấu tổ chức nghiệp vụ cho vay. Giai đoạn cuối cùng của quy trình cho vay là sử dụng thông tin về khách hàng để phân tích nhận định tình hình và ra quyết định cho vay. Trong quy trình quản lý chất lượng cho vay ngắn hạn thì giai đoạn phân tích nhận định tình hình của khách hàng là quan trọng nhất. Đây thực chất là việc phân tích cho vay. Nhờ việc phân tích và sử dụng hệ thống chỉ tiêu cho vay giúp Ngân hàng đánh giá đúng khách hàng, hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro cho vay. Nếu Ngân hàng có quy trình quản lý cho vay ngắn hạn đúng đắn thì chắc chắn mục tiêu chất lượng cho vay ngắn hạn sẽ được đảm bảo. Việc sử dụng đồng bộ các biện pháp quản lý cho vay ngắn hạn trên sẽ giúp cho Ngân hàng giảm thiểu được rủi ro cho vay, đảm bảo an toàn vốn. Do vậy chất lượng SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 6 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt cho vay ngắn hạn sẽ được bảo đảm. Đây chính là mục tiêu hàng đầu của các NHTM hiện nay. 1.3. Chất lượng cho vay ngắn hạn. 1.3.1. Khái niệm chất lượng cho vay ngắn hạn. Chất lượng cho vay ngắn hạn được hiểu là chất lượng của các món vay. Chất lượng các món vay được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được khách hàng sử dụng đúng mục đích, phục vụ cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận, có nghĩa là Ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế vừa tạo ra hiệu quả xã hội. 1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay ngắn hạn. Chất lượng cho vay là kết quả của cả một quá trình tính từ khi khoản cho vay được Ngân hàng xét duyệt, phát ra cho đến khi được thu hồi. Trong quá trình đó có rất nhiều những tác động gây rủi ro dẫn đến việc Ngân hàng không thu hồi được vốn và phải chịu thua thiệt. Để quản lý chất lượng cho vay đòi hỏi phải hiểu rõ về các nhân tố gây ảnh hưởng tới nó. 1.3.2.1. Các yếu tố chủ quan. * Chính sách cho vay ngắn hạn: Chính sách cho vay ngắn hạn là hệ thống những biện pháp được ban lãnh đạo Ngân hàng phổ biến tới từng cấp, từng bộ phận của Ngân hàng liên quan đến việc khuyếch trương hoặc hạn chế những khoản cho vay ngắn hạn để đạt được mục tiêu đã hoạch định của NHTM đó. Chính sách cho vay phản ánh định hướng cơ bản cho hoạt động cho vay, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của Ngân hàng. Để đảm bảo và nâng cao chất lượng cho vay, Ngân hàng cần phải có chính sách cho vay phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền, của Ngân hàng và người vay tiền. * Quy trình cho vay: Quy trình cho vay là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ cho vay và lãnh đạo Ngân hàng có liên quan. Quy trình cho vay là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 7 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt * Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối với mọi Ngân hàng. Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động cho vay đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong quy chế cho vay cũng như quy trình cho vay. Kiểm soát nội bộ là biện pháp mang tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ cho vay, giúp cho hoạt động cho vay kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng cho vay. * Chất lượng cán bộ công nhân viên: Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và tất nhiên nó cũng không loại trừ khỏi hoạt động của một Ngân hàng. Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong hoạt động cho vay, Ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, được đào tạo có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động cho vay. Trong bố trí sử dụng, người cán bộ cho vay cần phải được sàng lọc kỹ càng và phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để bắt kịp với nhịp độ phát triển và biến đổi của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, họ còn phải có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu người cán bộ cho vay thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể sẽ gây tổn thất rất lớn cho Ngân hàng. * Thông tin cho vay: Thực tế là hoạt động cho vay ngắn hạn có chất lượng luôn đòi hỏi phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ nghiệp vụ cho vay này đi kèm. Như vậy, thông tin cho vay có vai trò rất quan trọng trong quản lý chất lượng cho vay ngắn hạn. Việc nắm không vững và đầy đủ các thông tin có thể khiến các Ngân hàng gặp phải sai lầm lựa chọn đối nghịch. Vì trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng sử dụng vốn vay có hiệu quả và đúng mục đích. Đó là chưa kể tới những hành vi lừa đảo để vay tiền, gây tổn thất cho Ngân hàng. Việc nắm được thông tin về khách hàng, cảnh báo khách hàng kịp thời sẽ khiến khách hàng suy nghĩ kỹ hơn khi sử dụng từng đồng vốn được Ngân hàng cho vay, sẽ khó có thể sử dụng sai mục đích ban đầu, do đó hiệu quả kinh tế sẽ là cao hơn, lợi nhuận Ngân hàng cũng vì thế mà được đảm bảo. Thông tin cũng khiến cho Ngân hàng SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 8 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt có những giúp đỡ kịp thời, có những gợi ý sáng suốt tháo gỡ những khó khăn cho khách hàng trước khi quá muộn, đảm bảo cho hiệu quả kinh tế của khoản cho vay ngắn hạn. Muốn nâng cao chất lượng cho vay, Ngân hàng cần xây dựng được hệ thống thông tin đầy đủ và linh hoạt, nhờ đó cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro cho vay. 1.3.2.2. Các yếu tố khách quan. a) Nhóm nhân tố từ phía khách hàng. Khách hàng vừa là đại diện cho bên cung ứng vốn cho vay, vừa là đại diện cho bên cầu vốn cho vay. Với tư cách là người cung ứng vốn cho vay, họ mong muốn nhận được từ Ngân hàng một khoản lãi vay từ tiền gửi hay các dịch vụ thanh toán tiện lợi, do đó sự tín nhiệm của Ngân hàng đói với khách hàng sẽ tăng thêm tính ổn định của nguồn vốn huy động. Với tư cách là người vay, họ mong muốn được đáp ứng đầy đủ vốn phù hợp với yêu cầu kinh doanh có thời hạn vay và lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản nhanh chóng. Ta có thể nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhóm nhân tố này qua các yếu tố sau: * Uy tín, đạo đức của người vay: Trong qui trình cho vay các Ngân hàng thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên. Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của quy trình thẩm định, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai. Thực tế kinh doanh đã cho thấy, tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện. Khách hàng có thể lừa đảo Ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro cho Ngân hàng. Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng là tiêu chí để đáng giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 9 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng và Ngân hàng. Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác. Do đó, Ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác. * Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng: Chất lượng cho vay phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người vay. Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ Ngân hàng cả gốc lẫn lãi. Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay của Ngân hàng. b) Nhóm nhân tố thuộc môi trường. * Môi trường kinh tế: Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường. Tính ổn định về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát là những điều mà các doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của Ngân hàng. Trong trường hợp ngược lại, sự bất ổn tất nhiên cũng bao chùm đến các hoạt động của Ngân hàng, làm ảnh hưởng tới chất lượng cho vay, gây tổn thất cho Ngân hàng. * Môi trường chính trị: Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Nếu xảy ra các diễn biến gây bất ổn chính trị như: chiến tranh, xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình, bãi công,…có thể dẫn đến những SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 10 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt thiệt hại cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ,…). Và như vậy, những món tiền doanh nghiệp vay Ngân hàng sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay. * Môi trường pháp lý: Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng là hệ thống pháp luật. Với một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật, văn bản dưới luật, sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, thiếu đi tính linh hoạt cần thiết, vốn đưa vào kinh doanh dễ bị rủi ro. Do đó, xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh sẽ tạo thuận lợi trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có các NHTM. * Môi trường cạnh tranh: Có thể nói đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh chung của NHTM. Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng: thứ nhất, để chiếm ưu thế trong cạnh tranh Ngân hàng luôn phải quan tâm tới đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố và khuyếch trương uy tín và thế mạnh của Ngân hàng. Hướng tác động này đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng cho vay. Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, dưới áp lực của cạnh tranh gay gắt các Ngân hàng có thể bỏ qua những điều kiện cho vay cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng cho vay. * Môi trường tự nhiên: Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hoả hoạn, động đất, dịch bệnh,… có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả người vay và Ngân hàng. Mặc dù những rủi ro này là khó dự đoán nhưng bù lại nó chiếm tỷ lệ không lớn, mặt khác Ngân hàng thường được chia sẻ thiệt hại với các Công ty Bảo hiểm hoặc được Nhà nước hỗ trợ. 1.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay ngắn hạn. Hiện nay Ngân hàng đang áp dụng nhiều giải pháp cũng như biện pháp để đảm bảo chất lượng cho vay ngắn hạn. Tổng thể được biểu hiện qua hai nhóm chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu định lượng. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 1.3.3.1. 11 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt Nhóm chỉ tiêu định tính. Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá tình hình, quy chế, chế độ, thể lệ cho vay của Ngân hàng. Khi cho vay vốn Ngân hàng phải tuân thủ 3 nguyên tắc đó là: - Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. - Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị vật tư hàng hoá tương đương. - Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết. Ba nguyên tắc cho vay trên hình thành một quy luật nội tại của cho vay. Trên thực tế cho thấy, một khi cả ba nguyên tắc ấy, hoặc một trong ba nguyên tắc ấy bị coi nhẹ, hoặc quá nhấn mạnh nguyên tắc này xem nhẹ nguyên tắc kia sẽ dẫn đến tình trạng khách hàng mất khả năng thanh toán, phá sản, đổ bể một dự án, một doanh nghiệp, một Ngân hàng. Khi nói đến chất lượng cho vay chúng ta phải xem xét đến chất lượng tuân thủ nghiêm ngặt cả ba nguyên tắc trên. 1.3.3.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng. Cho vay là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM. Do đó, đo lường chất lượng cho vay là một nội dụng quan trọng trong việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Tuỳ theo mục đích phân tích mà người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau, tuy mỗi chỉ tiêu có nội dung khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Trong phạm vi bảng báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh, ta có thể áp dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá tình hình chất lượng cho vay của Ngân hàng.  Chỉ tiêu sử dụng vốn: Hệ số sử dụng vốn = Huy động x 100% Sử dụng Đây là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh chất lượng cho vay, cho phép đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động cho vay của một Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng chứng tỏ Ngân hàng đã sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn huy động được.  Chỉ tiêu dư nợ: Dư nợ ngắn hạn Tổng dư nợ SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 12 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt Đây là một chỉ tiêu định lượng, xác định cơ cấu cho vay trong trường hợp dư nợ được phân theo thời hạn cho vay (ngắn, trung, dài hạn). Chỉ tiêu này còn cho thấy biến động của tỷ trọng giữa các loại dư nợ cho vay của một Ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ phát triển của nghiệp vụ cho vay càng lớn, mối quan hệ với khách hàng càng có uy tín.  Chỉ tiêu nợ quá hạn: Nợ quá hạn bao gồm các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5. Dư nợ quá hạn ngắn hạn Tổng dư nợ ngắn hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = ngắn hạn x 100 Nguyên tắc quan trọng nhất của cho vay là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng cho vay. Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ vi phạm nguyên tắc cho vay quan trọng nhất của Ngân hàng và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề , có khả năng mất vốn lớn, có nghĩa là tính an toàn thấp. Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động kinh doanh là một tất yếu. Vấn đề quan trọng là phải giảm tỷ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhất có thể chấp nhận được để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. NHTM có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng cho vay thấp. Đây là chỉ tiêu hiện nay thường sử dụng khi đánh giá chất lượng cho vay của NHTM. Nếu các khoản nợ quá hạn của càng cao thì Ngân hàng sẽ càng gặp khó khăn trong kinh doanh, Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và lợi nhuận sẽ giảm. Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp thì chất lượng cho vay càng cao và ngược lại.  Chỉ tiêu nợ xấu: Nợ xấu là các nhóm nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn SVTH: Đoàn Thị Vệ Dư nợ xấu ngắn hạn = Tổng dư nợ ngắn hạn X 100 Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt 13  Chỉ tiêu về tốc độ chu chuyển vốn cho vay (vòng quay vốn cho vay): Doanh số thu nợ Vòng vay vốn cho vay (vòng) = Dư nợ bình quân Trong đó: Dư nợ bình quân trong kỳ = (Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ) 2 Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn cho vay của Ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của Ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn.  Số khách hàng được vay vốn: Chỉ tiêu này phản ánh số lượng khách hàng của ngân hàng qua các thời kỳ, cho thấy khả năng thu hút khách hàng của Ngân hàng trong thời gian qua. 1.3.4. Quản lý chất lượng cho vay ngắn hạn của các NHTM. 1.3.4.1. Mục đích yêu cầu quản lý. Như ta đã biết, cho vay nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho hệ thống NHTM. Do vậy, mục đích của việc nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn là khả năng mang lại lợi nhuận cao nhất của các khoản cho vay ngắn hạn trong giới hạn rủi ro cho phép. Trong quản lý chất lượng cho vay ngắn hạn của các NHTM ta có thể đưa ra ba yêu cầu chủ yếu sau: - Giảm thiểu rủi ro đối với các khoản cho vay: Để phòng ngừa rủi ro, các NHTM chỉ đồng ý cấp cho vay ngắn hạn cho khách hàng trên nguyên tắc phân tán rủi ro, dự đoán được tình hình tài chính và ý chí trả nợ của khách hàng trong tương lai. - Đảm bảo tính lành mạnh của khoản cho vay ngắn hạn: Điều này có nghĩa là không cấp cho vay ngắn hạn giúp cho khách hàng làm giàu bất chính. Yêu cầu đảm bảo tính lành mạnh của khoản cho vay ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới quá trình thẩm định dự án của khách hàng và việc kiểm tra tình hình sử dụng vốn cho vay của khách hàng sau khi cấp cho vay. - Chiếm lĩnh thị trường một cách hợp pháp: Thực hiện được yêu cầu này sẽ giúp Ngân hàng tồn tại và phát triển. Suy cho cùng thì đây là mục đích cao nhất mà các Ngân hàng đều hướng tới. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 14 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt 1.3.4.2. Các biện pháp quản lý chất lượng cho vay ngắn hạn của NHTM. Đối với khách hàng: tiêu chuẩn quản lý tập trung vào việc đánh giá khả năng hoàn trả của khách hàng. Vì vậy, quản lý cho vay tập trung vào 5 tiêu chuẩn sau: tư cách, khả năng sản xuất kinh doanh, vốn, thế chấp, môi trường hoạt động. Đối với Ngân hàng: tiêu chuẩn quản lý là tình hình chấp hành các điều luật và nguyên tắc cho vay đã quy định, vòng quay vốn cho vay , kết quả kinh doanh, khả năng sẵn sàng thanh toán, mức độ phân tán rủi ro, nợ quá hạn, tình hình chấp hành hạn mức cho vay đã quy định. Việc quản lý chất lượng cho vay nói chung và chất lượng cho vay ngắn hạn nói riêng phải mang tính đồng bộ vì chất lượng cho vay có được là nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa những con người trong Ngân hàng, giữa những Ngân hàng với những chủ thế kinh tế, chính tri, xã hội với nhau trên cơ sở nguồn lực hiện có. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 15 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN TƯ NGHĨA 2.1. Khái quát chung về Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tư Nghĩa. 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng. Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặc trong xây dựng Chủ Nghĩa Xã hội với tinh thần đổi mới. Về đường lối kinh tế Ban chấp hành Trung Ương Đảng đã có nhiều nghị quyết quan trọng từng bước xoá bỏ chế độ bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường. Thực hiện chính sách đổi mới về hoạt động của hệ thống Ngân hàng, ngày 26-3-1988 Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 53/HĐBT về thành lập cách Ngân hàng chuyên doanh. Theo đó, NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập vào ngày 26-3-1988. Đây được xem là ngày truyền thống của NHNo&PTNT Việt Nam. NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa là một chi nhánh cấp 2 trực thuộc hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam, được hình thành từ chi nhánh Ngân hàng nhà nước huyện Tư Nghĩa vào ngày 19 tháng 6 năm 1988. Theo cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa là Ngân hàng hoạt động kinh doanh tiền tệ, cho vay và các dịch vụ Ngân hàng đầu tư các dự án phát triển kinh tế, cho vay đời sống, cho vay xuất khẩu lao động... Nhiều năm liền hoat động kinh doanh có hiệu quả, bộ máy Ngân hàng ngày càng trưởng thành, phát triển cả về số lượng cả chất lượng, đảm đương được chức năng vay và cho vay vốn cho vay đối với khu vực nông thôn. Với thời gian hoạt động trên 20 năm có rất nhiều biến cố xảy ra nhưng đến nay NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa được đánh giá là một trong những Ngân hàng hoạt động tương đối hiệu quả, có uy tín và đã khẳng định được bước tiến cả về quy mô lẫn hiệu quả kinh doanh với việc tăng lượng khách hàng và một mạng lưới các Phòng Giao Dịch được mở rộng tại các trọng điểm kinh tế của huyện để tăng cường hoạt động kinh doanh. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt 16 Hiện nay NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa có 1 trụ sở chính và 2 Phòng Giao Dịch gồm: - Trụ sở chính: Nằm ở Thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. - Phòng Giao Dịch Sông Vệ: Nằm tại Thị trấn Sông Vệ. - Phòng Giao Dịch Nghĩa Kỳ: Nằm tại Xã Nghĩa Kỳ. Để phục vụ nhu cầu cho vay cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệpNHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa bố trí cán bộ cho vay phụ trách địa bàn xã, thị trấn nhằm đảm bảo cho quá trình thực hiện các hoạt động Ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận lợi và oan toàn. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tư Nghĩa. Giám đốc Phó giám đốc PGD Sông Vệ Phòng nghiệp vụ kinh doanh Phòng kế toán – ngân quỹ PGD Nghĩa Kỳ Ghi chú: : Quan hệ trực tiếp : Quan hệ chức năng SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 17 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt Mô hình tổ chức của chi nhánh gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo tính khoa học, đầy đủ bộ phận chức năng và đạt hiệu quả cao. Tổng biên chế cuối năm 2012 là 32 CB – CNV: Ở huyện có 25 người trong đó: 1 Giám đốc 1 Phó giám đốc 2 Trưởng phòng 2 Phó phòng 6 Nhân viên phòng cho vay 5 Nhân viên phòng kế toán 3 Giao dịch viên 3 Nhân viên Bảo vệ 1 Nhân viên Lái xe 1 Nhân viên Tạp vụ * Mối quan hệ giữa các phòng ban: Trong bất cứ hoạt động của một tổ chức kinh tế nào thì điều quan trọng và cần thiết là sự thống nhất giữa các phòng ban. Sự thống nhất giữa các cá nhân, các bộ phận, các phòng ban luôn là yếu tố tiên quyết cho sự phát triển của Ngân hàng, đảm bảo hệ thống hoàn chỉnh và chính xác hơn. Bên cạnh đó các phòng ban phải luôn hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau, chính điều này giúp rất nhiều trong hoạt động điều hành của ban Giám đốc. 2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Tư Nghĩa.  Ban giám đốc: Ban Giám đốc gồm: 1 Giám đốc và 1 phó Giám đốc - Giám đốc: phụ trách tổ chức, điều hành kinh doanh và điều hành chung - Phó Giám đốc: phụ trách kế toán ngân quỹ  Phòng nghiệp vụ kinh doanh: Nghiên cứu, đề xuất chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn tại địa phương. Xây dựng kế hoạch kinh doanh theo định hướng kinh doanh của NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 18 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt Tổng hợp, theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và quyết định kế hoạch kinh doanh đến các phòng giao dịch trên địa bàn. Cân đối nguồn vốn, sử dụng vốn và điều hòa vốn kinh doanh đối với các phòng giao dịch trên địa bàn. Tổng hợp, phân tích hoạt động kinh doanh quý, năm. Dự thảo báo cáo sơ kết, tổng kết. Thực hiện phòng ngừa rủi ro và xử lý rủi ro cho vay. Thực hiện các nhiệm vụ do giám đốc Ngân hàng giao.  Phòng kế toán ngân quỹ: Trực tiếp hoạch toán kế toán, hạch toán thống kê theo quy định của NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam. Xây đựng kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu chi tài chính, quỹ tiền lương của Ngân hàng. Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam. Tổng hợp và lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các báo cáo theo quy định. Thực hiện các khoản nộp ngân sách nhà nước. Chấp hành quy định về an toàn kho quỹ và định mức tồn kho theo quy định. Thực hiện các nhiệm vụ do giám đốc Ngân hàng giao.  Các phòng giao dịch: Mỗi một Phòng giao dịch giống như một Ngân hàng thu nhỏ, có các bộ phận huy động vốn, có bộ phận cho vay làm công tác cho vay, có bộ phận kế toán đảm nhận các công việc kế toán cho vay, thu nợ, kế toán tiết kiệm thực hiện theo chế độ kế toán báo sổ. Tuỳ theo tình hình kinh tế từng thời kỳ Giám đốc có giao mức phán quyết cho vay đối với các trươngr phòng cho phù hợp. Chi nhánh tiến hành phân công cho các phòng phụ trách cho vay đối với từng địa bàn nhất định. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2.2. GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt 19 Những kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tư Nghĩa. Về tình hình huy động vốn: Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa. Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu 2010 2011 2012 Chênh lệch 2011 với 2010 Chênh lệch 2012 với 2011 ( +/- ) (%) 192.321 153.440 197.983 -38.881 -20,22 +44.543 +29,03 114.901 91.672 118.284 -23.229 -20,22 +26.612 +29,03 Tiền gửi khác 117.598 93.824 121.061 -23.774 -20,22 +27.237 +29,03 Tiền gửi của TCKT Tiền gửi dân cư Tổng ( +/- ) (%) 424.820 338.936 437.328 -85.884 -20,22 +98.392 +29,03 (Nguồn Báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm) 450.000 400.000 350.000 Tổng nguồn vốn huy động 300.000 Tiền gửi của TCKT 250.000 200.000 Tiền gửi của dân cư 150.000 100.000 Tiền gửi khác 50.000 0 2010 2011 2012 Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng từ năm 2010 – 2012. Nhìn vào bảng 2.1 có thể thấy trong 2 năm 2010, 2011 tổng nguồn vốn huy động giảm liên tục. Năm 2011, tổng nguồn vốn huy động giảm 20,22% so với 2010. Tuy nhiên, đến năm 2012 tổng nguồn vốn huy động đã tăng trở lại, cụ thể tăng 29,03% so với năm 2011. Xem xét cơ cấu để thấy sự thay đổi của từng thành phần: Nguồn vốn được hình thành từ 3 nguồn cơ bản: Tiền gửi của TCKT, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác. Trong đó: + Tiền gửi của TCKT: Năm 2011 giảm 38.881 triệu đồng so với năm 2010, tương ứng với tỷ lệ giảm 20,22%. Nhưng trong năm 2012 đã tăng lên 44.543 triệu đồng so với năm 2011, tương ứng với tỷ lệ tăng là 29,03%. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN Báo cáo thực tập tốt nghiệp 20 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Việt + Tiền gửi của dân cư: Năm 2011 giảm 23.229 triệu đồng so với năm 2010, tương ứng với tỷ lệ là 20,22%. Năm 2012 tiền gửi của dân cư có tăng hơn so với năm 2011, nó tăng 26.612 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ 29,03%. + Về tiền gửi khác: Năm 2011 giảm 23.774 triệu đồng so với năm 2010 tương ứng tỷ lệ giảm là 20,22%. Năm 2012 tiền gửi khác tăng 27.237 triệu đồng so với năm 2011 tương ứng tỷ lệ là 29,03%. Trong năm 2011, tình hình kinh tế có nhiều biến động, lạm phát, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản giảm sút, sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn… Điều đáng chú ý là đến thời điểm này, các Ngân hàng phải thực hiện Chỉ thị 02/2011/CT-NHNN về việc đưa lãi suất tiết kiệm về mức trần quy định 14%/năm. Lúc này khách hàng sẽ chuyển hướng đầu tư vào lĩnh vực khác thay vì gửi tiền vào Ngân hàng. Chính vì vậy mà việc huy động vốn của NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa gặp khó khăn, nguồn vốn huy động của Ngân hàng có xu hướng giảm. Để khắc phục kết quả trên, NHNo&PTNT huyện Tư Nghĩa đã có nhiều cố gắng để giữ vững và tăng trưởng nguồn vốn huy động, tích cực tìm kiếm thêm những khách hàng có nguồn vốn lớn, tạo tâm lý yên tâm và tin tưởng cho khách hàng. Tuy nhiên với cơ cấu vốn như hiện nay thì Ngân hàng sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa để có thể tăng thêm nguồn vốn huy động cho Ngân hàng cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Nhìn chung, bước sang năm 2012 các thành phần nguồn vốn huy động đều tăng trở lại so với năm 2011 nhưng còn chậm do vẫn còn ảnh hưởng của biến động kinh tế năm 2011. SVTH: Đoàn Thị Vệ Lớp: CDTN12QN
- Xem thêm -