Tài liệu Giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới cho gạch xây dựng của công ty cổ phần tư vấn và xây dựng thanh nhàn trên thị trường bắc ninh

  • Số trang: 43 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 140 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP MARKETING PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY 1.1Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài. Trong nền kinh tế hiện đại, marketing đã trở thành một công cụ không thể thiếu được của mỗi doanh nghiệp. Marketing đụng chạm đến lợi ích của chúng ta hàng ngày, hàng giờ. Marketing quyết định và điều phối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường. Nó đảm bảo cho hoạt dộng kinh doanh của doanh nghiệp định hướng theo hướng phát triển của thị trường, biết lấy nhu cầu ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi hoạt động kinh doanh. Kinh tế càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn. Các doanh nghiệp luôn phải hoạt động trong môi trường biến động với những cơ hội và tiềm năng phát triển đưa doanh nghiệp đi lên và bên cạnh đó cũng không kém những khó khăn thách thức rủi ro có thể dẫn đến nguy cơ thất bại, phá sản. Vì thế để có thể giữ vững và nâng cao vị thế của mình trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải có các giải pháp marketing phù hợp để tiếp cận thị trường một cách chủ động, phù hợp để làm chủ được thị trường của mình và chiếm lĩnh được thị trường. Qua quá trình thực tập tại công ty Cổ Phần Tư Và Xây Dựng Thanh Nhàn tôi nhận thấy thị trường hiện tại của công ty đang có xu hướng bão hòa khó có thể thâm nhập và phát triển tiếp, vì vậy công ty đang mong muốn tìm kiếm các thị trường mới nhằm làm tăng doanh số, doanh thu bán hàng giúp công ty mở rộng thị trường và gia tăng lợi nhuậnNhưng để đạt được điều đó công ty cần có những giải pháp marketing thích hợp nhằm phát triển các thị trường mới này. * Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài. Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Và Xây Dựng Thanh Nhàn là công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và xây dựng, từ năm 2007 công ty bắt đầu sản xuất gạch xây dựng , lĩnh vực sản xuất gạch xây dựng đang dần trở thành lĩnh vực kinh doanh chính của công ty. Với mong muốn giải quyết phần nào các khó khăn với những giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường tiêu thụ mới cho sản phẩm gạch xây dựng của công ty . Tôi quyết định chọn đề tài “ Giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới cho gạch xây dựng của công ty Cổ Phần Tư Vấn Và Xây Dựng Thanh Nhàn trên thị trường Bắc Ninh.” SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 1 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài * Các mục tiêu nghiên cứu. Khái quát lý luận chung về thị trường và các giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới của công ty kinh doanh Nghiên cứu thực trạng thị trường tiêu thụ gạch xây dựng và giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới cho gạch xây dựng của Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Và Xây Dựng Thanh Nhàn trên thị trường tỉnh Bắc Ninh Đề xuất một số giải pháp marketing nhằm phát triển gia tăng thị phần của công ty trên thị trường tiêu thụ. * Phạm vi nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu ba gồm đối tượng nghiên cứu, không gian nghiên cứu và thời gian nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp marketing phát triển thị trường mới và nghiên cứu giải pháp marketing cho công ty Cổ Phần Tư Vấn Và Xây Dựng Thanh Nhàn. Phạm vi không gian: Khu vực thị trường địa bàn tỉnh Bắc Ninh Phạm vi thời gian: Một số cơ sở dữ liệu từ năm 2007 đến 2010 của công ty.Thực hiện đề tài từ 10/01/2011 đến 01/05/2011 1.4Một số khái niệm và phân định nội dung về giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới của công ty kinh doanh. Một số khái niệm cớ sở lý luận. 1.5.1.1 Khái niệm thi trường Theo quan niệm truyền thống góc độ vĩ mô: Thị trường bao gồm toàn bộ các hoạt động các hoạt động trao đổihàng hóa được diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với các mối quan hệ do chúng phát sinhvà gắn liền với một khoảng không gian nhất định. Theo cách hiểu này thì thị trường bao gồm các yếu tố sau: Các chủ thể tham gia trao đổi: Bên bán và bên mua Đối tượng trao đổi: Hàng hóa, dịch vụ Các mối qun hệ được hình thành giữa các chủ thể: Quan hệ cung cầu, quan hệ giá cả , quan hệ cạnh tranh… Các quan hệ trao đổi diễn ra trong một không gian nhất định : cửa hàng, chợ… SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 2 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Quan điểm này coi trọng nơi diễn ra mua bán, nó luôn phải gắn với một địa điểm cụ thể. Theo quan điểm kinh tế học phương tây: Thị trường được hiểu là những nhóm người mua và người bán thực hiện những giao dịch có liên quan tới bất kỳ thứ gì có giá trị. Theo cách hiểu này thị trường được xác định là loại hàng hóa dịch vụ đem ra trao đổi như thị trường sức lao động , thị trường chứng khoán, thị trường công nghệ… Quan điểm này coi trọng hàng hóa đem ra trao đổi. Theo quan điểm marketing: Thị trường được hiểu là tập hợp những người mua hàng hiện tại và tiềm năng có cùng nhu cầu và mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng đem ra trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó. Theo quan điểm này thị trường được hiểu là khách hàng, quy mô khách hàng tạo lập nên quy mô thị trường Quan điểm này coi trọng khách hàng- khách hàng là thượng đế Cùng với sự phát triển của những ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay, tiêu biểu là thương mại điện tử, thì khái niệm thị trường cũng có những thay đổi nhất định. Thuật ngữ ‘thị trường ảo” ( Virtual market ) đang dần thay thế và từ đó làm thay đổi cách thức mua- bán của doanh nghiệp, khách hàng và các trung gian marketing theo hướng thuận lợi và hiệu quả. Doanh nghiệp có thể bán hàng qua website , khách hàng mua hàng và thanh toán trực tuyến , các trung gian có thể không hoặc rất ít cơ hội trong phương thức kinh doanh hiện đại này… Với đề tài nghiên cứu giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới cho gạch xây dựng của công ty Cổ Phần Tư Vấn Và Xây Dựng Thanh Nhàn trên trường Bắc Ninh, tôi quyết định theo khái niệm thị trường của quan điểm marketing. * Chức năng của thị trường: Nếu xét thị trường trên giác độ marketing thì thị trường có một số chức năng cơ bản sau: Chức năng thừa nhận và thực hiện: Thị trường thừa nhận và thực hiện giá trị và giá trị sử dụng hàng hóa. Người bán đưa hàng hóa vào thị trường với giá trị và giá trị sử dụng được tạo ra trong quá trình sản xuất. Hàng hóa được đưa SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 3 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài đến tay người tiêu dùng thông qua quá trình trao đổi, mặc cả. Chúng được thừa nhận và thực hiện nếu người mua đồng ý mua loại hàng hóa đó. Chức năng điều tiết: Thông qua sự vận động của cơ chế thị trường trong đó, những vấn đề cơ bản của nền sản xuất xã hội được giải quyết thông các mối quan hệ tác động qua lại giữa các chủ thể trên thị trường, vận động theo các quy luật kinh tế…Thị trường thực hiện chức năng điều tiết nhằm tạo ra sự cân đối về cung- cầu, tiền hàng và các mối quan hệ khác giữa các hiện tượng, các quá trình kinh tế trên thị trường. Chức năng thông tin: Thị trường là nơi chứa đựng đầy đủ các thông tin mà các nhà kinh doanh cũng như người tiêu dùng cần biết đến. Đồng thời, thị trường cũng là nơi truyền tin giữa nhà kinh doanh và người tiêu dùng. Việc thực hiện các chức năng của thị trường không tách rời độc lập mà có sự đan xen lẫn nhau. Cùng một hoạt động, thị trường có thể thực hiện một hay nhiều chức năng khác nhau. Nghiên cứu các chức năng này giúp doanh nghiệp nối kết hoạt động của mình với các hoạt động khác trên thị trường, tạo điều kiện cho các hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao nhất. *Phát triển thị trường mới: Khi quy mô thị trường của doanh nghiệp bị bão hòa hoặc thị trường quá nhỏ để có thể phát triển, doanh nghiệp cần mở rộng hoặc tìm kiếm thêm thị trường mới để tiêu thụ sản phẩm của mình. Vậy phát triển thị trường mới là hoạt động tìm kiếm những phân đoạn thị trường mới, và đưa ra các cách thức, biện pháp nhằm đưa sản phẩm của doanh nghiệp tới thị trường tiêu thụ mới. Chiến lược phát triển thị trường mới. Ansoff xác định 4 khả năng có thể phát triển thị trường mục tiêu của công ty Thị trường Sản phẩm Sản phẩm mới Thị trường mới Thị trường hiện tại Đa dạng hóa Sản phẩm hiện tại Mở rộng thị trường Phát triển sản phẩm Thâm nhập thị trường BH 1:Ma trận Ansoff SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 4 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Dựa vào cặp sản phẩm và thị trường của doanh nghiệp, Ansoff xác định 4 khả năng doanh nghiệp có thể xem xét để xác định mục tiêu thị trường công ty hướng tới là thâm nhập thị trường, mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm và đa dạng hóa. Phát triển thị trường mới là trường hợp đa dạng hóa và mở rộng thị trường. Thâm nhập thị trường : Mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanh số của sản phẩm hiện có trên thị trường hiện có bằng cách thu hút thêm khách hàng của đối thủ cạnh tranh nhờ vào các biện pháp giảm giá, tăng thêm ngân sách quảng cáo và cải tiến nội dung khuyến mãi… trong khi vẫn không mất đi khách hàng đang có. Trường hợp áp dụng: Khi thị trường của doanh nghiệp chưa bước vào giai đoạn bão hòa, sản phẩm của doanh nghiệp đang ở những giai đoạn đầu của chu kì sống. Khi thị trường của đối thủ cạnh tranh đang giảm trong khi doanh số toàn ngành đang tăng. Khi có một mối tương quan tuyến tính giữa doanh thu và chi phí marketing Việc tăng trưởng kinh tế theo quy mô đem lại lợi thế cạnh tranh chủ yếu cho doanh nghiệp Mở rộng thị trường:Là hình thức triển khai sản phẩm hiện có của doanh nghiệp sang những phân đoạn thị trường mới, với mong muốn gia tăng được khối lượng bán nhờ vào việc khuyến mãi những khách hàng mới. Có thể tìm kiếm thị trường mới trên các địa bàn mới bao gồm vùng, lãnh thổ quốc gia khác. Đây là giải pháp được nhiều công ty của các quốc gia phát triển trên thế giới thực hiện để gia tăng doanh số và lợi nhuận. Tuy nhiên khi phát triển thị trường mới công ty cần phải cân nhắc thật kỹ các điều kiện về cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu. Và để phát triển được thị trường mới này công ty cần chú trọng đến các chiến lược marketing phù hợp với đoạn thị trường đó.Tìm kiếm khách hàng mục tiêu mới, doanh nghiệp có thể tìm kiếm nhóm khách hàng mới ngay trên thị trường hiện tại. Khi thiết kế sản phẩm bán đầu một số doanh nghiệp chỉ chú ý đến một hoặc một số nhóm khách hàng mục tiêu. Tuy nhiên ngoài các đối tượng này ra thì còn có thể có nhóm đối tượng khác cũng có nhu cầu với sản phẩm đó. Trường hợp áp dụng : SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 5 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Doanh nghiệp có sẵn kênh phân phối mới tin cậy, chất lượng và chi phí hợp lý. Doanh nghiệp đạt được thành công trên thị trường hiện có. Các thị trường chưa khai thác hết hoặc chưa bão hòa Khi doanh nghiệp có đủ nguồn lực quản lý. Phát triển sản phẩm:Là cách thức doanh nghiệp tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến sản phẩm để thay thế sản phẩm hiện hành sau đó đưa vào tiêu thụ ở các thị trường hiện tại nhằm tăng thêm sức mua và tăng lượng tiêu thụ. Tìm ra các giá trị sử dụng sản phẩm mới: Một sản phẩm có thể có nhiều công dụng nhưng ban đầu nhà sản xuất chưa phát hiện ra hết. Sau một thời gian vì một lý do nào đó doanh nghiệp đã phát hiện thêm công dụng của sản phẩm, giúp doanh nghiệp có thể mở rộng thêm thị trường mới và kéo dài thêm chu kỳ sống của sản phẩm. Thu hút các nhóm nhu cầu mới của khách hàng hiện tại hoặc các nhóm khách hàng mới. Trường hợp áp dụng : Sản phẩm dịch vụ của công ty đang trong giai đoạn chín muồi Ngành kinh doanh có đặc trưng kĩ thuật thay đổi nhanh chóng Doanh nghiệp phải cạnh tranh trong ngành có tốc độ phát triển cao Doanh nghiệp có khả năng nghiên cứu và phát triển vững mạnh. Đa dạng hóa: Là cách thức để doanh nghiệp mở rộng hoặc phát triển hoạt động kinh doanh trên cơ sở đưa ra các sản phẩm mới bán trong các thị trường mới, kể cả hoạt động trong lĩnh vực không truyền thống. Tìm kiếm thị trường mới cho sản phẩm mới của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm mới và chào hàng trên những thị trường mới khi họ tìm kiếm và sản xuất ra những sản phẩm mà theo họ nó đang là một thị trường hấp dẫn. Trường hợp áp dụng : Khi ngành kinh doanh có sự cạnh tranh quá cao hoặc không tăng trưởng Ngành kinh doanh mới đang đầy tiềm năng phát triển Doanh nghiệp dư thừa các nguồn lực. * Định vị thị trường. Định vị thị trường là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm chiếm được một vị trí đặc biệt và có giá trị trong tâm trí khách hàng mục tiêu. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 6 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Các doanh nghiệp cần phải định vị thị trường, nhất là trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay vì một số lý do sau: Do quá trình nhận thức của khách hàng: Khả năng nhận thức và ghi nhớ thông tin của con người là có hạn, bộ não của con người được sử dụng để làm các nhiệm vụ chọn lọc các hình ảnh về thế giới xung quanh và loại bỏ những thông tin không cần thiết. Vì vậy, cần phải có những thông điệp rõ ràng, xúc tích, gây ấn tượng cùng với việc chào bán các sản phẩm, dịch vụ có vị thế tốt mới có khả năng thâm nhập vào nhận thức của khách hàng. Do yêu cầu tất yếu của cạnh tranh: Mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt vừa là một thực tế, vừa là một thách thức đối với bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển. Xác định vị thế là một phương pháp được sử dụng nhằm tạo ra cho sản phẩm một hình ảnh độc đáo và khác biệt so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Do dung lượng lớn của các thông điệp quảng cáo: Dung lượng quá lớn của các thông điệp quảng cáo làm cho khách hàng khó tiếp nhận được tất cả những gì họ đã xem, đã đọc hay nghe nhìn. Để thu hút sự chú ý của các khách hàng khi họ bị ngập trong sự hỗn loạn của những quảng cáo thương mại, cách tốt nhất là định vị có hiệu quả. 1.5.1.2 Một số khái niệm Marketing. Có rất nhiều cách tiếp cận marketing khác nhau vì vậy cũng có rất nhiều các định nghĩa marketing khác nhau. Viện nghiên cứu Marketing của Anh: Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh, từ việc phát hiện ra sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một loại hàng hóa cụ thể đến việc đưa hàng hóa đó đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận như dự kiến. John Crightoon: Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh, đúng luồng hàng, đúng thời gian và đúng vị trí. Philip Kotler: Marketing là hoạt động của con người hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua quá trình trao đổi. Marketing mix: Là sự phối hợp hay sắp xếp các thành phần cảu marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Các thành phần của marketing mix bao gồm: chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối và chính sách SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 7 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài xúc tiến hỗn hợp. Với mỗi một sản phẩm doanh nghiệp sẽ có các chính sách marketing mix khác nhau phụ thuộc vào sản phẩm, khả năng và thị trường của mỗi doanh nghiệp. Mục tiêu của hệ thống marketing: Bằng cách này hay cách khác, marketing cũng đụng chạm đến lợi ích của từng chủ thể, đó có thể là nhà sản xuất, trung gian thương mại hay người tiêu dùng. Vì vậy tùy thuộc vào từng chủ thể mà các hoạt động marketing có mục tiêu khác nhau như: Đạt được mức tiêu dùng cao nhất. Đạt được mức thỏa mãn người tiêu dùng cao nhất. Giới thiệu thật nhiều hàng hóa để lựa chọn. Nâng cao hết mức chất lượng cuộc sống. Các giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới. Giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường: là cách thức, biện pháp doanh nghiệp sử dụng các công cụ marketing kích thích khách hàng mua sản phẩm của công ty nhiều hơn, đưa sản phẩm chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị trường làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. * Chính sách sản phẩm: Trong môi trường marketing,sản phẩm được hiểu là một phần của một giải pháp cho một vấn đề của khách hàng, bởi vì nó giải quyết vấn đề mà khách hàng cần giải quyết, và cũng có nghĩa là thông qua đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình. Sản phẩm có thể bao gồm một hay tất cả các yếu tố: Sản phẩm hữu hình, sản phẩm phi vật thể và dịch vụ. Chính sách sản phẩm ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu khác của doanh nghiệp như chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến. Để tạo ra những sản phẩm có chất lương cao, có uy tín với khách hàng chính sách sản phẩm cần bao gồm rất nhiều các hoạt động phong phú. Các hoạt động này bao gồm: Phân tích sản phẩm và khả năng thích ứng của sản phẩm trên thị trường: Đây là hoạt động giúp doanh nghiệp đánh giá đúng đắn sản phẩm của mình, những điểm mạnh và yếu trong cạnh tranh sản phẩm. Từ đó xác lập được các giải pháp marketing hữu hiệu giành ưu thế trong cạnh tranh. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 8 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Tạo uy tín cho sản phẩm: Phương hướng cung của hoạt động này là phải tạo ra xung quanh sản phẩm một tâm lý tích cực, thu hút sự chú ý của khách hàng, đẩy mạnh tiêu thụ. Đổi mới sản phẩm: Đổi mới sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của chúng. Đặc biệt là trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ và thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Các doanh nghiệp cần đổi mới sản phẩm của mình để có thể thâm nhập vào các thị trường mới. Theo dõi sản phẩm trong tiêu dùng: Hoạt động marketing này rất cần thiết bởi nó không những thể hiện trách nhiệm của nhà kinh doanh đối với người tiêu dùng mà còn giúp các doanh nghiệp đánh giá được chính xác mức độ thành công của sản phẩm trên thị trường. Từ đó có những ứng xử và giả pháp marketing hữu hiệu nhằm nâng cao uy tín của sản phẩm. Đối với chiến lược mở rộng thị trường: Để triển khaai sản phẩm hiện tại của mình trên những phân đoạn thị trường mới, doanh nghiệp cần thực hiện các công tác nghiên cứu thị trường mới, tìm kiếm khách hàng mục tiêu mới có nhu cầu và có thể chấp nhận sản phẩm của mình, ngoài ra doanh nghiệp cần có các biện pháp khác như khuyến mãi, giảm giá để có thể lôi kéo, thu hút khách hàng mới và khách hàng của đối thủ mua sản phẩm của mình. Đối với chiến lược đa dạng hóa sản phẩm: Doanh nghiệp muốn gia tăng thị phần của mình trên thị trường khi sản phẩm hiện tại của doanh đang trong giai đoạn bão hòa thì doanh nghiệp cần tạo ra các sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải biên nhằm gia tăng thêm sức mua và doanh số bán trên thị trường hiện tại hoặc thị trường mới. Doanh nghiệp có thể cải biến chất lượng nhằm nâng cao tính năng của sản phẩm, cải tiến kiểu dáng nhằm làm tăng thêm tính hấp dẫn của sản phẩm hoặc cải tiến tính chất nhằm bổ sung thêm tính chất mới như kích cỡ, trọng lượng, chất phụ gia… * Chính sách giá sản phẩm: Giá là một thành phần quan trọng trong giải pháp tổng hợp, giá đi kèm với kế hoạch sản phẩm, thị trường chứ không phải là một thực thể riêng lẻ. Giá chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 9 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Chính sách giá bao gồm các hoạt động, các giải pháp nhằm đề ra một hệ thống các mức giá phù hợp với từng điều kiện của từng vùng, thi trường và khách hàng, vì thế chính sách giá của doanh nghiệp là không thể cứng nhắc. Các chính sách giá phổ biến như: Chính sách định giá theo hướng thị trường: Là chính sách định giá bán sản phẩm xoay quanh mức giá thị trường của sản phẩm đó. Chính sách này không sử dụng yếu tố chính sách giá làm đòn bẩy kích thích nên để tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần tăng cường công tác tiếp thị và để có lãi, doanh nghiệp phải giảm chi phí kinh doanh. Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá bán sản phẩm thấp hơn giá bán thị trường gồm hai loai: Định giá thấp hơn giá thống trị trên thị trường nhưng cao hơn giá trị của sản phẩm ( doanh nghiệp sẽ có mức lãi thấp) Định giá thấp hơn giá thống trị trên thị trường và cũng thấp hơn giá trị sản phẩm ( trường hợp này doanh nghiệp sẽ chấp nhận lỗ) Chính sách định giá cao: Là chính sách định giá sản phẩm cao hơn giá thống trị trên thị trường và cao hơn giá trị sản phẩm. Bao gồm: Định giá độc quyền. Định giá bán cao sau đó giảm dần. Định giá cao do yếu tố tâm lý. Định giá cao cắt cổ ( chỉ có thể áp dụng trong một số trường hợp nhất định như thực phẩm, thuốc men… khi có một sự cố nào xảy ra tại khu vực thị trường đó) Chính sách ổn định giá: Là chính sách không thay đổi mức giá bán sản phẩm kể cả khi cung- cầu thay đổi, trong các thời kỳ, thời điểm khác nhau, trên các thị trường khác nhau…Cách này sẽ giúp doanh nghiệp thâm nhập và giữ vững thị trường, tạo nét độc đáo trong chính sách định giá của doanh nghiệp và tạo lòng tin với khách hàng. Chính sách bán phá giá: Là chính sách định giá với mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro và được áp dụng trong các trường hợp: Sản phẩm bị tồn đọng quá nhiều. Sản phẩm bị cạnh tranh gay gắt. Sản phẩm bị lạc hậu so với nhu cầu. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 10 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Sản phẩm mang tính thời vụ, khó bảo quản cất giữ… Đối với chiến lược mở rộng thị trường: Doanh nghiệp có thể giảm giá hoặc có các chương trình khuyến mãi để thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa trên thị trường hiện tại và kích thích tạo sự chú ý trên thị trường mới mở rộng của mình. Tuy nhiên giảm giá thường không mang lại được hiệu quả như mong muốn vì các đối thủ của công ty cũng có thể tiến hành giảm giá hàng loạt, điều này có thể dẫn đến tổn thất nhiều lớn khi công ty cố gắng giảm giá nhiều hơn để thu hút khách hàng. Do vậy ngoài việc giảm giá công ty cũng có thể nghĩ đến việc sử dụng các công cụ quảng cáo, khuyến mãi, hỗ trợ khách hàng để có thể thu hút sự quan tâm chú ý của khách hàng tới sản phẩm, duy trì được lòng tin và sự trung thành của khách hàng. Đối với chiến lược đa dạng hóa sản phẩm: Khi tung các sản phẩm mới, cải biên ra thị trường hiện tại hoặc thị trường mới doanh nghiệp có thể theo đuổi một trong số các chiến lược sau: Chiến lược định giá hớt váng sữa: Doanh nghiệp có thể áp dụng chính sách định giá cao để thu hút khách hàng sẵn sàng chi trả cho những sản phẩm mới của mình. Việc định giá cao giúp doanh nghiệp nhanh chóng khuếch trương mạnh sản phẩm để thu hút các mảng thị trường không nhạy cảm với giá và nhanh chóng thu hồi chi phí phát triển sản phẩm. Sau đó công ty có thể giảm giá thành để các nhóm khách hàng tiếp theo có thể chấp nhận mua. Việc hạ giá thành sản phẩm để mọi người có thể mua được sản phẩm. Chiến lược này giúp doanh nghiệp thu được lơi nhuận tối đa từ mỗi nhóm khách hàng trong thị trường. Chiến lược định giá thâm nhập: Doanh nghiệp tung sản phẩm ra với giá thấp để khách hàng có thể chấp nhận ngay và phân phối rộng rãi trên thị trường đại chúng. Chiến lược này phù hợp cho các thị trường nhạy cảm về giá và các thị trường lớn và thị trường đã biết rõ sản phẩm. Giá thâm nhập chỉ cao hơn giá thành sản phẩm chút ít để công ty có thể nhanh chóng có chỗ đứng trên thị trường và có thể bán được số lượng lớn. * Chính sách phân phối. Kênh phân phối là một phần rất quan trọng trong những nỗ lực tiếp cận thị trường của doanh nghiệp. Loại kênh phân phối mà doanh nghiệp lựa chọn có thể là trực tiếp, gián tiếp hoặc chuyên ngành. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 11 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Chính sách phân phối: Là một tập hợp các quyết định liên quan tới sự chuyển dịch của luồng hàng hóa vật chất và sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Tùy theo tình hình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà có các cách tổ chức kênh phân phối khác nhau Kênh phân phối truyền thống: Được mô tả như một tập hợp ngẫu nhiên các cơ sở độc lập về chủ quyền quản lý, và mỗi cơ sở ít nhất quan tâm tới một hoạt động của kênh. Đó là một mạng lưới rời rạc kết nối lỏng lẻo các nhà sản xuất, bán buôn và bán lẻ do buôn bán trực tiếp với nhau, tích cực thương lượng đơn lẻ về các điều khoản mua. Họ hoạt động vì các mục tiêu riêng lẻ nên thường xảy ra xung đột kênh. Xung đột chiều ngang: Là xung đột giữa các trung gian ở cùng mức độ phân phối trong kênh. Xung đột chiều dọc: Là xung đột giữa các thành viên ở mức độ phân phối khác nhau trong kênh Các kênh phân phối theo chiều dọc: Là các kênh phân phối chương trình có trọng tâm và quản lý chuyên nghiệp được thiết kế để đạt hiệu quả phân phối và ảnh hưởng marketing tối đa. Các thành viên trong kênh có liên kết chặt chẽ với nhau và hoạt động như một thể thống nhất vì mục tiêu thỏa mãn nhu cầu thị trường của cả hệ thống. Đối với chiến lược mở rộng thị trường và chiến lược phát triển đa dạng hóa: Việc thâm nhập vào một thị trường mới là một việc không hề dễ dàng gì đối với các doanh nghiệp và việc thiết lập được một hệ thống kênh phân phối hiệu quả lại càng khó khăn hơn. Vì vậy để thiết lập được một hệ thống kênh phân phối trên thị trường mới công ty cần phải tiến hành nghiên cứu kỹ thị trường từ đó đưa ra các quyết định kênh phù hợp với thị trường của mình. * Chính sách xúc tiến hỗn hợp. Hoạt động xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn công cụ chủ yếu của marketing mix mà doanh nghiệp sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, làm gia tăng khối lượng hàng hóa tiêu thụ. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 12 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Chính sách xúc tiến hỗn hợp: Bao gồm mọi hoạt động và giải pháp nhằm đề ra và thực hiện các chiến lược, chiến thuật xúc tiến hỗn hợp nhằm thúc đẩy bán hàng và nâng cao uy tín của nhà kinh doanh trên thị trường. Các công cụ xúc tiến có thể sử dụng như: Quảng cáo: Bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và đề cao những ý tưởng, hàng hóa hoặc dịch vụ, được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và chủ thể phải thanh toán các chi phí.Việc thông qua quyết định quảng cáo là một quá trình 5 bước xác định mục tiêu, quyết định ngân sách, quyết định thông điệp, quyết định phương tiện truyền thông và đánh giá hiệu quả quảng cáo. Khuyến mại, khuyến mãi: Là những biện pháp tác động tức thời ngắn hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm hay dịch vụ. Để xây dựng một chương trình khuyến mại, doanh nghiệp phải xác định khách hàng mục tiêu và đặc điểm của họ, xác định mục tiêu khuyến mãi, lựa chọn kênh truyền thông, xác định ngân sách khuyến mãi, đánh giá kết quả của chương trình khuyến mãi. Quan hệ công chúng: Là việc kích thích một cách gián tiếp nhằm tăng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ hay tăng uy tín của một đơn vị kinh doanh bằng cách đưa ra những tin tức có ý nghĩa thương mại về chúng trên các ấn phẩm, các phương tiện thông tin đại chúng và miễn phí. Bán hàng trực tiếp( bán hàng cá nhân): Là sự giới thiệu bằng miệng hàng hóa, dịch vụ của người bán thông qua các cuộc đối thoại với một hoặc nhiều khách hàng tiềm năng nhằm mục đích bán hàng. Bán hàng cá nhân đòi hỏi phải có các kỹ năng và nghệ thuật và phải được tiến hành theo những quy trình nhất định. Đối với chiến lược mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm và đa dạng hóa sản phẩm: Với mỗi một sản phẩm sẽ có các biện pháp xúc tiến khác nhau với mức độ khác nhau. Nếu sản phẩm là hàng tiêu dùng doanh nghiệp sẽ sử dụng chủ yếu là công cụ quảng cáo, khuyến mại. Với các sản phẩm công nghiệp thì công ty sử dụng công cụ chủ yếu là bán hàng trưc tiếp và khuếch trương bán. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 13 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài 1.5.2 Nội dung cơ bản giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới 1.5.2.1 Thực trạng thị trường tiêu thụ. Đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, nền kinh tế nói chung đang phát triển với tốc độ rất cao, đặc biệt là ngành xây dựng. Điều này đã mở ra cho công ty một hướng phát triển mới đó là sản xuất sản phẩm gạch xây dựng phục vụ các công trình xây dựng. Do dặc thù thị trường của công ty là thị trường xây dựng nên có một số điểm khác so với thị trường của hàng hóa tiêu dùng như: Khách hàng của công ty chủ yếu là các chủ thầu xây dựng ( nhận thầu các công trình xây dựng), các doanh nghiệp xây dựng…Có ít người mua nhưng mua với tầm cỡ và quy mô lớn. Phần lớn khách hàng này tập trung theo vùng địa lý, góp phần làm giảm bớt chi phí và ít có sự co giãn về giá. Khách hàng của công ty thường là những người chuyên nghiệp, có sự am hiểu nhất định về các sản phẩm xây dựng, và chịu ảnh hưởng nhất định của những lợi ích kinh tế mà họ có thể nhận được khi mua gạch của công ty. Doanh nghiệp phân đoạn thị trường theo khu vực địa lý và cặp sản phẩm thị trường đó là khu vực thành thị_ nông thôn và các sản phẩm dành cho các công trình xây dựng công cộng nhà nước, các sản phẩm dành cho các công trình xây dựng dân dụng nhà dân. 1.5.2.2 Hướng phát triển thị trường của công ty. Chiến lược mở rộng thị trường: Hiện nay doanh nghiệp đang hướng tới khu vực thị trường mới. Doanh nghiệp đang tìm kiếm khách hàng mục tiêu mới ngay tại các phân đoạn thị trường hiện tai của công ty. Ngày nay, khi mà nhu cầu xây dựng của người dân đang ngày càng tăng lên, họ không chỉ quan tâm đến giá cả mà ngày càng quan tâm đến chất lượng của gạch xây dựng. Các loại gạch A1,2 trước đây thường chỉ dành cung cấp cho các công trình xây dựng công cộng thường là của nhà nước và ở các khu vực thành thị (do giá gạh tương đối cao) bây giờ công ty dàn hướng sản phẩm này sang các công trình dân dụng tại các địa phương. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 14 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Chiến lược đa dạng hóa sản phẩm: Công ty hiện nay đang phát triển một loại sản phẩm mới đó là gạch 2 lỗ dùng cho các công trình tường xây dựng không chịu lực. Vì vậy công ty đang có dự định đưa loại gạch này vào chính thị trường hiên tại của mình và mở rộng thêm vào thị trường mới. Đặc biệt công ty đang hướng tới phân đoạn thị trường mới là các khu vực công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đây là một thị trường mới có nhiều cơ hội cho công ty phát triển mở rộng thêm quy mô sản xuất nhưng đồng thời thị trường này có sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh và các nguy cơ tiềm ẩn khác. 1.5.2.3 Giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới. Do đặc điểm là thị trường xây dựng nên trước khi triển khai các kế hoạch marketing công ty cần tiến hành một số hoạt động nghiên cứu thị trường. Khách hàng của công ty mua sản phẩm về để xây dựng các công trình vì vậy công ty cần nghiên cứu các nhu cầu và mục đích sử dụng của khách hàng. * Sản phẩm. Số lượng sản phẩm là bao nhiêu cho một công trình xây dựng có thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, có thể tính theo số lượng bao nhiêu viên trên 1 mét vuông, hoặc mét khối. Công dụng, kết cấu, hình dáng, chất lượng …của sản phẩm phù hợp với yêu cầu riêng của các công trình xây dựng. Chu kỳ sống của sản phẩm: khả năng tiêu thụ sản phẩm của khách hàng từ đó cho công ty cần phải sử dụng chiến lược marketing nào thích hợp như cải biến sản phẩm, mở rộng thị trường phát triển sản phẩm mới. * Giá sản phẩm. Do các đơn đặt hàng thường có số lượng lớn vì vậy công ty cần có các chính sách giá phù hợp cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt. Doanh nghiệp sử dụng chính sách định giá theo nguyên tắc địa lý áp dụng giá bán cho từng khu vực, với mỗi một khu vực sẽ có một giá bán khác nhau bao gồm cả cước vận chuyển. Ngoài ra doanh nghiệp còn sử chính sách chiết giá cho những khách hàng mua với số lượng hàng hóa lớn và chiết giá cho các khách hàng thanh toán trước để khuyến khích khách hàng thanh toán nhanh. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 15 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài * Kênh phân phối. Do công ty thường ký kết các hợp đồng mua bán trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng. Nên công ty sử dụng kênh phân phối trực tiếp từ công ty đến thẳng các công trình xây dựng mà không sử dụng các kênh trung gian. * Các hoạt động chương trình xúc tiến bán hàng. Sản phẩm gạch xây dựng có những đặc điểm khác so với các loại hàng hàng hóa tiêu dùng khác vì vậy công ty sử dụng những công cụ xúc tiến có những tính chất đặc thù riêng của ngành xây dựng. Các hoạt động quảng cáo chào hàng trực tiếp cho khách hàng, công ty cần nêu được những đặc điểm nổi bật của sản phẩm, uy tín của các công trình xây dựng đã sử dụng sản phẩm gạch xây dựng của công ty và chất lượng của các công trình đó. Mục tiêu của chính sách xúc tiến của công ty chủ yếu là gia tăng uy tín và vị thế của công ty vì vậy ngân sách giành cho hoạt động xúc tiến thường thấp hơn so với hoạt động xúc tiến của hàng hóa tiêu dùng. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 16 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỚI GẠCH XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG THANH NHÀN 2.1 Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề. 2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu * Dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp là dạng thông tin thu thập được thông qua nghiên cứu, báo cáo, công bố từ những mục tiêu khác nhau. Thông tin cần tìm kiếm : Những thông tin cần tìm kiếm liên quan đến đề tài là các thông tin về giải pháp marketing phát triển thị trường mới của doanh nghiệp đặc biệt là giải pháp marketing hỗn hợp phát triển thị trường và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Nguồn thông tin tìm kiếm: Bên trong công ty: Các thông tin trên website của công ty : để lấy các thông tin khái quát về doanh nghiệp, tin tức về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ phòng kinh doanh: Các tài liệu về khách hàng, về doanh số bán hàng. Từ phòng kế toán : Tài liệu về bảng kết quả hoạt động kinh doanh. Bên ngoài công ty:Các tạp chí kinh tế trên internet, các thông tin trên báo kinh tế Việt Nam. Các trang web như: Marketingchienluoc.com, google.com, nghiencuumarketing.com … Các lí luận về marketing trong các giáo trình : Quản trị Marketing, Philip Kotler, nhà xuất bản lao động xã hội, 2008. Marketing căn bản, Philip Kotler, Nhà xuất bản Thống Kê, 1996… * Dữ liệu liệu sơ cấp Dữ liệu sơ cấp là các dữ liệu mới được thu thập lần đầu tiên chưa từng qua xử lý và để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu đang được tiến hành. Theo kiến thức đã học trong học phần nghiên cứu marketing thì sẽ có 5 phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, với điều kiện thực tế và khách quan trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu này em đã thu thập dữ liệu sơ cấp phương pháp: khảo sát bằng bảng câu hỏi với khách hàng và phỏng vấn chuyên sâu (ở đây em thực hiện phỏng vấn các chuyên gia) với các cấp quản lý của công ty. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 17 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Mục tiêu của cuộc nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động marketing nhằm phát triển thị trường mới tại công ty Cổ Phần Tư Vấn Và Xây Dựng Thanh Nhàn. Phương pháp tiến hành thu thập: là phương pháp điều tra qua bảng câu hỏi và phỏng vấn các chuyên gia. Đối tượng điều tra: khách hàng của công ty và chuyên viên trong công ty Số lượng điều tra, phỏng vấn: 15 khách hàng và 4 chuyên viên của công ty. Phỏng vấn trong khoảng thời gian từ ngày 11/04/2011 đến ngày 15/04/2011 Các đối tượng được chọn mẫu là các khách hàng tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua và sử dụng gạch. Bảng câu hỏi điều tra ( phụ lục 1) 2.1.2 Phương pháp xử lý thông tin thu thập được. Với câu hỏi phỏng vấn khách hàng thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS theo tỷ lệ phần trăm và bảng biểu. Với các câu hỏi phỏng vấn chuyên gia sẽ được xử lý theo các phương pháp: Phương pháp thống kê: Sau khi thu thập dữ liệu của Công ty, em tiến hành thống kê các dữ liệu. Thực trạng tình hình hoạt động marketing phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty. Phương pháp so sánh: Qua các dữ liệu thu thập được từ công ty về kế hoạch bán hàng và kết quả bán hàng đã được thực hiện, em đã tiến hành so sánh kết quả bán hàng qua các năm. Trên cơ sở so sánh các dữ liệu đó em có thể biết được hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty có được thực hiện theo đúng kế hoạch đã đề ra không. So sánh kết quả bán hàng thu được với kế hoạch đã đề ra phản ánh phần nào hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty. 2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường mới cho sản phẩm gạch xây dựng của công ty Cổ Phần Tư Vấn Và Xây Dựng Thanh Nhà trên thị trường Bắc Ninh. 2.2.1 Giới thiệu sơ lược tình hình và sự phát triển của công ty. * Quá trình hình thành và phát triển công ty. Công ty cổ phần Tư Vấn Và Xây Dựng Thanh Nhàn được thành lập từ năm 2002 được chuyển đổi từ công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thanh Nhàn. Hoạt SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 18 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài động kinh doanh của công ty được không ngừng mở rộng theo thời gian cả về quy mô và các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh. Tên doanh nghiệp : CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG THANH NHÀN - Địa chỉ của doanh nghiệp : Đ.219 Nghiêm Thôn _ Thị Trấn Phố Mới _ Bắc Ninh - Số điện thoại : 02413 627 444 - Mail : Thanhnhanbacninh@gmail.com - Giám đốc : Nguyễn Văn Trương - Loại hình công ty :Cổ phần Đăng ký kinh doanh số : 21.03.000.360 ngày 13/03/2008 do phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp. (Chuyển đổi từ Công ty TNHH THANH NHÀN giấy đăng ký kinh doanh số 21.02.000.25 được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 25/3/2002 cấp lần đầu. Đăng ký thay đổi lần thứ 02 ngày 24/07/2006 ) Tài khoản số : 4321 00000 18180 * Quy mô của doanh nghiệp. Vốn điều lệ khi mới thành lập: 670 triệu năm 2002 Tổng số cán bộ công nhân viên của công ty lên tới 278 (năm 2007) người bao gồm các cán bộ công nhân viên có kỹ thật và trình độ tay nghề cao. Với số nhân lực có trình độ đại học là 14 người, cao đẳng trung cấp là 36 người còn lại là công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 19 Khoa Marketing Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hoài * Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức : ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG BAN KIỂM SOÁT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ GIÁM ĐỐC CÔNG TY PGĐ TÀI CHÍNH_ KẾ TOÁN PGĐ DỰ ÁN_ KINH DOANH PGĐ SẢN XUẤT_ THI CÔNG BH 2: Sơ đồ bộ máy tổ chức công ty * Chức năng và nhiệm vụ. Công ty chuyên thi công các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, san lấp mặt đường, tư vấn giám sát thiết kế thi công các công trình công nghiệp, giao thông thủy lợi… Đến năm 2007 nhận thấy sự thay đổi và đòi hỏi của thị trường xây dựng công ty bắt đầu kinh doanh thêm một lĩnh vực mới là sản xuất gạch xây dựng, không chỉ đáp ứng được trược tiếp nhu cầu gạch xây dựng của chính công ty mà còn có thể cung cấp ra thị trường một khối lượng lớn làm giảm bớt sức nóng của thị trường gạch xây dựng, khi mà các lò làm gạch thủ công đang bị nhà nước cấm sản xuất do ô nhiễm môi trường làm mức cầu vượt cung. Công ty sản xuất gạch trên dây truyền sản xuất gạch hiện với khối lượng lớn, không chỉ giúp giải quyết một số lượng lớn lao động có công ăn việc làm mà còn giúp giảm bớt sự ô nhiễm môi trường so với các lò gạch thủ công sản xuất trước đây. SV: Nghiêm Thị Nhàn - K43C1 20 Khoa Marketing
- Xem thêm -