Tài liệu Giải pháp hoàn thiện hệ thống kênh phân phối của công ty cổ phần xăng dầu dầu khí vũng tàu

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 216 |
  • Lượt tải: 2
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

Lời mở đầu Lý do chọn đề tài Trong xã hội hiện đại ngày nay, nguồn nhiên liệu cho phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia khá phong phú. Những nguồn năng lượng, nhiên liệu kể ra ở đây bao gồm: gỗ, than đá, điện năng, các sản phẩm xăng dầu, năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời và các loại năng lượng nhiên liệu khác …trong đó các sản phẩm xăng dầu là loại nhiên liệu đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mọi quốc gia. Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm xăng dầu luôn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng nhu cầu nhiên liệu của các quốc gia. Do đó ngành công nghiệp dầu khí là ngành công nghiệp có vị trí quan trọng quyết định nhất trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Trong ngành công nghiệp dầu khí. Đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế xã hội của một quốc gia, xăng dầu còn là nguồn nhiên liệu quan trọng phục vụ đời sống sinh hoạt văn hoá xã hội. Khi nhu cầu xăng dầu của xã hội không được đáp ứng thì cuộc sống sẽ trở nên bế tắc, đời sống xã hội sẽ gặp rất nhiều khó khăn không thể thoát ra được. Xăng dầu là một thứ yếu tố không thể thiếu được để nền kinh tế - xã hội vận hành một cách trơn tru, như là huyết mạch của nền kinh tế xã hội. Thực tế cho thấy kinh doanh trong giai đoạn hiện nay các chiến lược như: quảng cáo, khuyến mãi, cắt giảm giá bán chỉ có lợi thế trong ngắn hạn, bởi các doanh nghiệp khác cũng nhanh chóng làm theo khiến cho các chiến lược này mất tác dụng. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối là xu thế của kinh tế thị trường. Nghiên cứu, phát triển hệ thống phân phối rộng khắp và tiếp cận được thị trường mục tiêu không những tạo được lợi thế cạnh tranh lớn trên thương trường mà còn đạt được lợi thế dài hạn trong cạnh tranh. Tuy nhiên trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt cũng như những biến đổi và tác động từ các yếu tố của môi trường kinh doanh, hệ thống phân phối của công ty đă có những bất cập, ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh. Hệ thống kênh phân phối hoàn thiện, một chính sách phân phối đúng đắn sẽ giúp cho các doanh nghiệp thành công trong kinh doanh hơn. Chính vì vậy, trên cơ sở những kiến thức đã được học tại trường đại học Bà Rịa Vũng Tàu và trong thời gian tìm hiểu hoạt động kinh doanh tại công ty, cùng với mục tiêu tìm hiểu những ưu nhược điểm từ hệ thống phân phối để từ đó có thể đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả phân phối và khắc phục những nhược điểm còn tồn tại. Và qua quá trình thực tập tại công ty cùng với sự giúp đỡ của ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo, tôi đã thực hiện bài luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Giải pháp hoàn thiện hệ thống kênh Trang 1 phân phối của Công ty cổ phần Xăng Dầu Dầu Khí Vũng Tàu”. Tôi hi vọng rằng những nghiên cứu của mình về kênh phân phối và những giải pháp hoàn thiện kênh phân phối tại Công ty sẽ giúp được phần nào cho Công ty trong việc hoàn thiện và phát triển kênh phân phối. Mục tiêu nghiên cứu Tập vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, nhằm củng cố, bổ sung và nâng cao kiến thức đã học. Phân tích tình hình kênh phân phối của công ty để thấy rõ thực trạng cũng như hiệu quả hoạt động kênh phân phối. Từ việc trên đưa ra một số giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống kênh phân phối xăng dầu của Công ty. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiện cứu là tổ chức và hoạt động của hệ thống kênh phân phối tại Công ty PV OIL Vũng Tàu. Phạm vi nghiên cứu Hệ thống kênh phân phối của công ty bao gồm các cây xăng dầu tại Vũng Tàu và chi nhánh của Công ty. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp so sánh, thống kê, thu thập và phân tích số liệu để đạt được mục tiêu nghiên cứu. Kết cấu đề tài gồm 4 chƣơng Chương 1: Tổng quan về công ty PV OIL Vũng Tàu Chương 2 : Cơ sở lý luận về kênh phân phối Chương 3: Thực trạng kênh phân phối của Công ty PV OIL Vũng Tàu Chương 4: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kênh phân phối của Công ty Với tư cách là một sinh viên sắp tốt nghiệp, do điều kiện tiếp xúc thực tế chưa nhiều và kiến thức còn hạn chế nên quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này chắc chắn còn nhiều thiếu sót và khiếm khuyết. Tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô để tôi hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn Ths Nguyễn Thị Phương Thảo đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp tôi hoàn thành bài chuyên đề thực tập này. Tôi cũng xin cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên Ban Điều hành Sản xuất - Kế hoạch - Thị trường - Đầu tư và Ban Hành chính - Nhân sự đã tạo điều kiện cho việc thực tập của tôi tại Công ty và cung cấp các số liệu cần thiết cho đề án của tôi. Trang 2 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG DẦU DẦU KHÍ VŨNG TÀU Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Vũng Tàu là một trong những Công ty đang rất phát triển trong hoạt động phân phối xăng dầu cho Vũng Tàu nói riêng và Việt Nam nói chung. Dưới đây là phần tóm tắt về lịch sử hình thành và phát triển của Công ty. 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Hình 1.1: Quang cảnh của Công ty • TÊN CÔNG TY: CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG DẦU DẦU KHÍ VŨNG TÀU • Tên viết tắt: PV OIL VŨNG TÀU • Địa chỉ : 54A, đường 30/4 Phường Thắng Nhất, TP. Vũng Tàu • Biểu tượng của Công ty : • Vốn điều lệ: 120.000.000.000 đồng • Điện thoại: (84) 064 3839390 • Email: pvoilvungtau@vungtau.pvoil.vn • Website: www.pvoil.com.vn Fax: (84) 064 3838997 Trang 3 Ra đời vào năm 1997 với tên là xí nghiệp dịch vụ vật tƣ thiết bị và nhiên liệu và là đơn vị trực thuộc Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí (PSTC). Đến năm 2001 thì xí nghiệp được chuyển đổi thành Công ty chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ - Chi nhánh Vũng Tàu – Là đơn vị trực thuộc Công ty chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ (PDC) của Petrovietnam. Theo đà phát triển của ngành dầu khí, năm 2008 đơn vị tiếp tục phát triển lên thành Công ty Xăng dầu Dầu khí Miền Đông – là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV OIL) Năm 2010, công ty chuyển đổi thành Công ty cổ phần Xăng dầu Dầu khí Vũng Tàu (tên Tiếng Anh: PV Oil Vung Tau) và công ty tiếp tục là một thành viên của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV OIL). 1.2 Quy mô hoạt động của công ty Hiện tại, công ty là một trong những nguồn cung cấp chính xăng dầu cho thành phố Vũng Tàu và nhiều tỉnh thành khác thuộc khu vực Đông Nam bộ (Vũng Tàu, Bình Phước, Đồng Nai) và Nam Tây Nguyên (Đắc Lắk, Đắc Nông, Lâm Đồng). Việc phân phối trải rộng trên các địa bàn cùng với sản lượng tiệu thụ lớn trong năm đã cho thấy quy mô hoạt động khá lớn của công ty. Đến nay, công ty đã có gần 250 CBNV, hệ thống 5 chi nhánh, hơn 5 phòng chuyên môn và 1 kho xăng dầu tại TP. Biên Hoà. Trang 4 + Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty: Hội đồng quản trị Ban kiểm soát Giám đốc Phó giám đốc Phòng Kinh doanh Xăng dầu Phòng Kinh doanh Tổng hợp Phó giám đốc Phó giám đốc Phòng Kế hoạch Đầu tư Phòng Tài chính Kế toán HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Phòng Tổ chức Hành chính Kho xăng dầu Biên Hòa Hệ thống các chi nhánh BAN GIÁM ĐỐC Ông Đặng Minh Sơn - Chủ tịch HĐQT Ông Hoàng Đình Tùng - Giám đốc Ông Hoàng Đình Tùng - Thành viên HĐQT Ông Phùng Văn Kế - Phó Giám đốc Bà Nguyễn Thị Kiều Liên-Thành viên HĐQT Ông Trịnh Xuân Bình - Phó Giám đốc Ông Nguyễn Mạnh Nghĩa - Phó Giám đốc Hình 1.2: Thành viên trong Hội Đồng Quản Trị và Ban Giám Đốc của Công ty Trang 5 1.3. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban 1.3.1. Chức năng, nhiệm vụ của phòng Kinh doanh Xăng dầu Phòng Kinh doanh Xăng dầu của Công ty có chức năng, nhiệm vụ sau: - Tham mưu, giúp việc cho Ban lãnh đạo và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và Nhà nước trong công tác quản lý và điều hành kinh doanh xăng dầu và tổ chức chỉ đạo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của phòng. - Xây dựng kế hoạch kinh doanh xăng dầu: bao gồm các mục tiêu về doanh số và kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh được giao tại khu vực thị trường của Công ty. Tìm kiếm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, phát triển thị trường dựa trên kế hoạch Tổng công ty giao, chính sách và chiến lược của Tổng Công ty. - Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chiến lược có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của phòng và giao nhiệm vụ, kế hoạch công việc, giám sát kết quả thực hiện công việc của các thành viên trong phòng. - Tổ chức quản lý công tác phát triển thị trường, chỉ đạo công tác thu thập cơ sở dữ liệu khách hàng, thường xuyên cập nhật, phân tích điều tra nhu cầu của khách hàng và các biến động của thị trường xăng dầu về giá cả, khuynh hướng và đối thủ cạnh tranh trong khu vực được phân công, đề xuất Ban lãnh đạo công ty những chính sách phù hợp; những giải pháp nhằm thúc đẩy và duy trì hoạt động kinh doanh. - Phối hợp với các phòng ban chức năng xây dựng những cơ chế, chính sách, chiến lược kinh doanh của Công ty. Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất các hoạt động trong công tác kinh doanh của Công ty. - Tổ chức chỉ đạo các bộ phận nghiệp vụ của phòng phối hợp tìm kiếm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, phát triển thị trường, đặc biệt chú trọng tìm kiếm và phát triển quan hệ với các khách hàng và đối tác tiềm năng; Quản lý và giám sát việc lên kế hoạch phân phối hàng cho khách hàng, quản lý và kết hợp kế toán thu đòi công nợ. - Chịu trách nhiệm chính về các đề xuất, các công việc của phòng khi trình Giám đốc phê duyệt. 1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của phòng Kinh doanh Tổng hợp Chức năng, nhiệm vụ của phòng Kinh doanh Tổng hợp bao gồm: Trang 6 - Tham mưu, giúp việc cho Ban Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc và Nhà nước trong công tác quản lý và điều hành kinh doanh xăng dầu tại hệ thống các CHXD và tổ chức chỉ đạo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của phòng: - Xây dựng kế hoạch kinh doanh xăng dầu: bao gồm các mục tiêu về doanh số và kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh được giao cho hệ thống CHXD. Tìm kiếm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, phát triển thị trường khách hàng tiêu thụ trực tiếp thông qua cửa hàng hoặc khu vực trên địa bàn được phân công. Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chiến lược có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của phòng và giao nhiệm vụ, kế hoạch công việc, giám sát kết quả thực hiện công việc của các thành viên trong phòng. - Chỉ đạo thực hiện công tác duy tu, bảo trì bảo dưỡng và an toàn phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường tại hệ thống CHXD; Xây dựng các biện pháp thực hiện nhằm giảm thiểu hao hụt hàng hóa. Tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của hệ thống CHXD, theo dõi tài sản, vật tư, trang thiết bị, công cụ, dụng cụ tại hệ thống các CHXD trực thuộc. - Xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh của hệ thống CHXD trực thuộc góp phần đẩy mạnh vị thế, uy tín, thương hiệu của Công ty. Hướng dẫn áp dụng và triển khai thực hiện các hệ thống quản lý chất lượng, quản lý năng suất chất lượng nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. - Quản lý, hướng dẫn và tổ chức triển khai áp dụng các quy định về quản lý và giao nhận hàng hóa nhiên liệu lỏng; Quản lý công tác vận hành, khai thác và bảo trì hợp lý, hiệu quả, an toàn các hệ thống thiết bị công nghệ tại hệ thống CHXD trực thuộc. Quản lý, hướng dẫn và triển khai thực hiện công tác ATLĐ, VSMT & PCCN trong toàn Công ty. Tổ chức tập huấn, tuyên truyền, các quy định, quy chế, hướng dẫn đối với công tác An toàn - PCCN cho CBCNV Công ty. - Chỉ đạo thực hiện lập các báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của các cấp lãnh đạo và chịu trách nhiệm chính về công tác đảm bảo hệ thống CHXD hoạt động ổn định cũng như các đề xuất, các công việc của phòng khi trình Giám đốc công ty phê duyệt. Trang 7 1.3.3. Chức năng, nhiệm vụ của phòng Kế hoạch Đầu tƣ  Chức năng: - Tư vấn, tham mưu cho Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và Nhà nước trong công tác kế hoạch, đầu tư xây dựng cơ bản, các công tác khác theo sự phân công của lãnh đạo Công ty và tổ chức chỉ đạo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của phòng.  Nhiệm vụ: - Xây dựng kế hoạch, chiến lược ngắn, trung và dài hạn có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của phòng và giao nhiệm vụ, kế hoạch công việc, giám sát kết quả thực hiện công việc của các thành viên trong phòng. - Chỉ đạo thực hiện các vấn đề về công tác chiến lược, kế hoạch, phát triển đầu tư, đầu tư xây dựng, quản lý đầu tư, Chủ trì xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, quy chế, quy trình hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với chức năng nhiệm vụ của phòng. - Xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện các chương trình kế hoạch đầu tư, dự án đầu tư xây dựng, nâng cấp và hiện đại hóa các trang thiết bị, cửa hàng xăng dầu, công tác phát triển hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu và làm đầu mối phối hợp với các phòng chức năng xây dựng và triển khai nhận dạng thương hiệu của Công ty. - Theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện chiến lược, kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác thống kê, phân tích số liệu và báo cáo tổng hợp của Công ty theo quy định. Đề xuất điều chỉnh chiến lược phát triển và kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty phù hợp với từng thời kỳ; đề xuất các giải pháp mang tính đồng bộ và khả thi. - Đầu mối tổ chức triển khai các chương trình hợp tác và kiểm tra, giám sát đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của Công ty, các đơn vị có vốn góp của Công ty và đề xuất các giải phát đầu tư. Phối hợp với các phòng liên quan tham gia góp ý, thẩm định các thủ tục đầu tư liên quan đến các dự án đầu tư xây dựng của Công ty tham gia góp vốn. - Chịu trách nhiệm chính về các đề xuất, các công việc của phòng khi trình Giám đốc phê duyệt. 1.3.4. Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tài chính Kế toán  Chức năng: Tư vấn, tham mưu cho Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty và Nhà nước về công tác tài chính kế toán, hạch toán kế toán, thống kê kế toán.  Nhiệm vụ: Trang 8 - Tổ chức hệ thống kế toán của công ty để tiến hành ghi chép, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trên cơ sở không ngừng cải tiến tổ chức bộ máy và tuân thủ Pháp lệnh kế toán thống kê; Thực hiện các công tác khác theo sự phân công của lãnh đạo Công ty và tổ chức chỉ đạo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của kế toán trưởng theo quy định. - Xây dựng kế hoạch, chiến lược ngắn, trung và dài hạn có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của phòng và giao nhiệm vụ, kế hoạch công việc, giám sát kết quả thực hiện công việc của các thành viên trong phòng. - Tổ chức thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán theo luật, chuẩn mực và chế độ kế toán. - Tổ chức phân tích thông tin, số liệu kế toán, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị. - Thiết lập đầy đủ và gửi đúng hạn các báo cáo kế toán, thống kê và quyết toán theo quy định của nhà nước và Điều lệ công ty. - Kiểm tra, giám sát việc ghi chép sổ kế toán các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về kế toán. - Chịu trách nhiệm cân đối và huy động vốn, nguồn vốn hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của Công ty. - Phối hợp xây dựng kế hoạch và chính sách sản xuất kinh doanh ngắn hạn và dài hạn của công ty. - Xây dựng, hướng dẫn và áp dụng các quy định, thể lệ tài chính, quy trình thanh toán, hạch toán kế toán phù hợp với quy định, quy chế của Nhà nước và Công ty. - Tổ chức thực hiện việc xây dựng kế hoạch đào tạo và đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhân viên kế toán của đơn vị, phối hợp với các phòng ban xây dựng các quy trình, quy chế của Công ty. - Chịu trách nhiệm chính về các lĩnh vực được giao trước Ban lãnh đạo Công ty và theo quy định hiện hành của Nhà nước. Trang 9 1.3.5. Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tổ chức Hành chính  Chức năng: - Xây dựng kế hoạch, chiến lược ngắn, trung và dài hạn có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của phòng và giao nhiệm vụ, kế hoạch công việc, giám sát kết quả thực hiện công việc của các thành viên trong phòng. Điều hành và phân công công việc cho người lao động của phòng đảm bảo công việc thông suốt, liên tục. Tư vấn, tham mưu cho các phòng nghiệp vụ trong Công ty về các vấn đề tổ chức, quản lý nhân sự.  Nhiệm vụ: - Chỉ đạo thực hiện các vấn đề về tổ chức, quản lý nhân sự, đào tạo và lao động tiền lương; chế độ chính sách, thi đua khen thưởng. Chỉ đạo thực hiện công tác hành chính quản trị, thư ký tổng hợp, văn thư lưu trữ, truyền thông, xây dựng văn hóa doanh nghiệp và thương hiệu; - Quản lý công tác pháp lý, công tác bảo mật, thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực hoạt động; công tác an ninh trật tự, an toàn vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ, dân quân tự vệ, giải quyết đơn thư khiếu nại và tố cáo trong Công ty. - Nhận nhiệm vụ, kế hoạch công việc từ Ban Lãnh đạo và tổ chức triển khai, phổ biến tới các thành viên có liên quan trong phòng. Hướng dẫn, chỉ đạo, khuyến khích nhân viên làm việc có hiệu quả, kích thích và tạo điều kiện cho nhân viên phát triển. - Xử lý các thông tin đầu ra hàng ngày trước khi trình Ban Lãnh đạo và tổ chức, tham gia các hội đồng phỏng vấn tuyển dụng lao động; xét lương hàng năm cho người lao động; xét khen thưởng; xét kỷ luật lao động đối với người lao động trong Công ty. - Thực hiện các công việc khác do Lãnh đạo phân công và chịu trách nhiệm chính về các đề xuất, các công việc của phòng. 1.3.6. Chức năng, nhiệm vụ của kho xăng dầu Biên Hòa Mỗi một thành viên của kho sẽ có chức năng, nhiệm vụ sau: - Chủ nhiệm kho: Chỉ đạo chung công tác giao nhận hàng hóa, công tác xuất nhập, tồn chứa hàng hóa, công tác bảo vệ an ninh, An toàn phòng cháy chữa cháy, An toàn lao động, sức khoẻ và bảo vệ môi trường. Tham mưu, đề xuất các ý kiến vận hành kho an toàn, hiệu quả đáp ứng kịp thời các yêu cầu sản xuất kinh doanh. - Đội trưởng giao nhận: Giúp việc cho chủ nhiệm kho trong công tác giao nhận hàng hóa theo đúng quy định, tổ chức phân ca sản xuất và giám sát quá trình thực hiện. Trang 10 Điều hành, giám sát công tác xuất nhập hàng hóa, công tác pha chế, chuyển bể xăng dầu, súc rửa bồn bể. Quản lý, theo dõi dụng cụ và trang thiết bị phục vụ sản xuất. - Đội trưởng an toàn: Giúp việc cho chủ nhiệm kho trong công tác an toàn. Giám sát công tác xuất, nhập và tồn chứa hàng hoá, nghiên cứu, áp dụng những biện pháp lao động an toàn, tạo môi trường. Tổ chức xây dựng các quy trình, hướng dẫn thực hiện công tác bảo vệ tài sản, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, môi trường. - Chuyên viên theo dõi hàng hóa và xử lý số liệu: Lập và theo dõi thẻ bể hàng ngày, tháng và thống kê theo dõi xuất nhập tồn hàng hóa, đối chiếu nguồn hàng phân bổ, nguồn vay mượn giữa các đơn vị gửi kho. Thống kê, theo dõi công tơ xuất hàng, hao hụt xuất hàng, hao hụt chuyển bể, quản lý số liệu đối chiếu và các công tác khác phát sinh. - Nhân viên nghiệp vụ: Theo dõi, tiếp nhận hồ sơ, chứng từ và làm các thủ tục liên quan đến công tác xuất nhập đúng quy định. Kiểm tra tính chính xác về số liệu xuất nhập hàng, thực hiện nhập số liệu trên hệ thống, làm xuất nhập tồn vật tư, hàng hóa sau khi các bộ phận nghiệp vụ chuyển sang. - Đốc công: Tổ chức bố trí lực lượng và giám sát quá trình thực hiện để phù hợp với tính chất hoạt động của công việc trong ca trực. Đảm bảo tốt công tác bảo vệ tài sản, an ninh, an toàn, phòng chống cháy nổ, môi trường trong ca được phân công và chịu trách nhiệm về số lượng, chất lượng hàng hoá trong ca trực sản xuất. - Công nhân vận hành: Đảm bảo tốt công tác bảo vệ tài sản, an ninh, an toàn, phòng chống cháy nổ, môi trường trong khu vực được phân công, sẵn sàng ứng phó khi có sự cố xảy ra. Thực hiện công việc được phân công theo yêu cầu kỹ thuật và quy trình vận hành kho. - Công nhân vệ sinh công nghiệp: Thực hiện công tác vệ sinh công nghiệp, cắt cỏ, chăm sóc cây xanh và làm các công việc khác đội trưởng đội an toàn phân công. 1.4. Chức năng và nhiệm vụ của công ty 1.4.1. Chức năng Là một thành viên của Tổng công ty dầu Việt Nam, Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Vũng Tàu có chức năng sau: - Cung cấp xăng dầu cho các Đại lý/Tổng Đại lý, các Nhà thầu dầu khí, các đơn vị công nghiệp cũng như các Chi nhánh của công ty tại các thành phố và các tỉnh lân cận. - Đầu tư, phát triển hệ thống bán lẻ (các cửa hàng xăng dầu) trực thuộc công ty và kênh phân phối qua hệ thống Tổng đại lý/Đại lý. Trang 11 - Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và tiên phong trong việc phát triển, phân phối xăng sinh học E5 là loại nhiên liệu sạch, thay thế dần các loại xăng truyền thống (RON 92, RON 95) để bảo vệ môi trường. 1.4.2. Nhiệm vụ Bên cạnh việc thực hiện tốt chức năng thì Công ty còn có nhiệm vụ: - Xây dựng và phát triển công ty trở thành một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực xăng dầu không những ở trong nước mà còn mang tầm cỡ khu vực và trên trường quốc tế. - Tiếp nhận toàn bộ lượng xăng, dầu được phân phối theo kế hoạch của nhà máy lọc dầu Dung Quất và lượng xăng dầu nhập khẩu của Tổng công ty với khối lượng trung bình khoảng 50.000,00 M3/năm. - Tổ chức bảo quản và tiêu thụ tối đa theo kế hoạch lượng xăng dầu dự trữ của công ty tại các kho hàng và bảo đảm đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu về xăng dầu trong mọi tình huống. - Thực hiện các nhiệm vụ có liên quan chủ yếu đến lĩnh vực xăng dầu. - Cung cấp kịp thời và đầy đủ với chất lượng cao các loại hình dịch vụ liên quan đến cung ứng tàu biển. 1.4.3. Lĩnh vực kinh doanh và mạng lƣới hoạt động của Công ty  Lĩnh vực kinh doanh: - Tồn chứa, vận chuyển, phân phối, kinh doanh xăng dầu và các sản dầu mỏ, bao gồm: - Xăng Mogas 95, Xăng Mogas 92 - Dầu Diesel 0.05%S, Dầu Diesel 0.25%S, - Dầu hỏa (kerosen), Dầu mazut (FO) - Xăng dầu tạm nhập tái xuât, dầu mỡ, nhớt, xăng sinh học E5… - Dịch vụ đại lý hàng hải và cung ứng tàu biển: Trang 12 Hình 1.3: Dịch vụ cung ứng tàu biển  Mạng lƣới kinh doanh: Hiện tại PV OIL Vũng Tàu có 32 cửa hàng xăng dầu trực thuộc. Theo chiến lược phát triển của Công ty, đến năm 2015 PV OIL Vũng Tàu sẽ sở hữu dự kiến khoảng 60 cửa hàng xăng dầu phân bố khắp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Hình 1.4: Hệ thống cửa hàng xăng dầu của Công ty Bên cạnh đó, xăng dầu được phân phối đến người tiêu dùng thông qua 664 cửa hàng xăng dầu thuộc hệ thống Đại lý/ Tổng Đại lý của PV OIL Vũng Tàu. Trang 13 Hình 1.5: Hệ thống cửa hàng xăng dầu chi nhánh của Công ty 1.5. Thuận lợi, thách thức và phƣơng hƣớng phát triển của Công ty 1.5.1. Thuận lợi của Công ty Hơn 15 năm hoạt động thì hiện nay, tính đến thời điểm năm 2012 thì Công ty từ 7 chi nhánh trực thuộc xuống còn 5 chi nhánh, 5 phòng chuyên môn và 1 kho xăng dầu tại tỉnh Đồng Nai. Với sự chỉ đạo của một giám đốc và ba phó giám đốc đã giúp công ty tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống kênh phân phối cũng như cơ cấu tổ chức của mình. Hiện tại với nghành nghề kinh doanh chính là các mặt hàng xăng dầu, sản phẩm về dầu thô và nhiên liệu sinh học thì công ty đã tiếp tục đầu tư trang thiết bị, xây dựng các kế hoạch kinh doanh cho hiện tại và tương lai. Nắm vững mức giá trên thị trường về các mặt hàng xăng dầu.Với lượng dầu nhập về công ty bình quân là khoảng 50.000m3/năm thì công ty đang đẩy mạnh tiến độ tăng sản lượng nhập về để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Và với hơn 200 cán bộ nhân viên trong Công ty là những người lao động với năng lực chuyên môn, tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm rèn luyện qua môi trường hoạt động kinh doanh quốc tế, được đào tạo kỹ lưỡng và được các công ty đăng kiểm hàng đầu thế giới cấp các chứng chỉ về an toàn, chất lượng… Đây là đội ngũ lao động đầy nhiệt huyết, mang đậm phong cách, bản sắc văn hóa Công ty. Họ đã và đang là tài sản, nguồn lực quí báu, mang tính quyết định đến sự phát triển của Công ty. Từ người lao động trực tiếp đến các cán bộ quản lý, tất cả đều đồng tâm hiệp lực, năng động sáng tạo, chuyên nghiệp và Trang 14 đầy nhiệt huyết với công việc. Chính họ, với đặc thù của công tác dịch vụ, đã từng ngày làm nên thương hiệu PV Oil Vũng Tàu như hiện nay. 1.5.2. Thách thức Bên cạnh những điểm mạnh mà Công ty có được thì còn những khó khăn mà Công ty gặp phải quan trọng như: - Vì sản phẩm của Công ty mang tính đặc thù là giá cả do nhà nước quy định nên Công ty bị thụ động về giá cả và tình hình phát triển của thị trường dẫn đến làm ăn bị thiệt hại nhiều. - Ra đời sau các đối thủ lớn nên hệ thống phân phối của Công ty chưa cao, chưa bao phủ hết được các thị trường tiềm năng .Ví dụ như ở Vũng Tàu mới chỉ có 5 cửa hàng xăng dầu chủ yếu tập trung gần Công ty…. - Xăng dầu là những mặt hàng khó bảo quản và dễ gặp sự cố, mặc dù vậy nhưng hệ thống bảo quản cũng như nhà kho chưa được trang bị trang thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất còn hạn chế…… - Trình độ công nhân viên còn thấp nhất là các chi nhánh ở vùng xa xôi như Tây Nguyên… - Năm 2012 tiếp tục là một năm khó khăn đối với các Công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu. Bên cạnh nhu cầu tiêu dùng trong nước giảm, công tác điều hành giá xăng dầu bán lẻ của Nhà nước vẫn chưa theo kịp với biến động giá thị trường xăng dầu thế giới đã gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp đầu mối và hầu hết kinh doanh trong trạng thái lỗ. Nhiều doanh nghiệp đầu mối nhỏ lo ngại lỗ nên hạn chế nhập hàng cộng với khó khăn về nguồn cung nội địa do Nhà máy Lọc dầu Dung Quất nhiều lần tạm dừng hoạt động đã gây áp lực cho các đầu mối lớn như PV OIL, Petrolimex trong việc đảm bảo nguồn cung tham gia bình ổn thị trường. - So với năm 2011, địa bàn kinh doanh của PV OIL Vũng Tàu trong năm 2012 đã bị thu hẹp ở 2 tỉnh: Bình Định, Phú Yên, số lượng khách hàng cũng giảm do thực hiện bàn giao các khách hàng tại các địa bàn này cho PV OIL Phú Yên theo đúng chính sách bán hàng mới của Tổng công ty Dầu Việt Nam. - Nhiều thời điểm khi nguồn hàng của Tổng Công ty gặp khó khăn, PV OIL Vũng Tàu đã chủ động bán hàng theo tiến độ, thậm chí có những mặt hàng vào một số thời điểm buộc phải bán bằng 80% sản lượng tiêu thụ bình quân của khách hàng mới có đủ nguồn hàng cung cấp cho hệ thống. Trang 15 1.5.3. Phƣơng hƣớng giải quyết của Công ty Nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ, gia tăng sức cạnh tranh, phát triển ổn định, bền vững, chiến lược kinh doanh trong giai đoạn từ nay đến năm 2015, định hướng phát triển cho đến năm 2025 của Công ty là phấn đấu trở thành Nhà cung cấp Xăng dầu cho toàn bộ khu vực miền Nam và các tỉnh miền Bắc và nâng cao thương hiệu của mình. Theo đó, Công ty PV Oil Vũng Tàu sẽ tập trung đầu tư nguồn lực cơ sở vật chất, phát triển nguồn nhân lực để thực hiện thành công chiến lược tăng tốc phát triển hệ thống kênh phân phối rộng khắp đất nước. Với phương châm “luôn đồng hành cùng khách hàng” Công ty cam kết: - Liên tục cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ/sản phẩm. - Hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và đảm bảo lợi ích chính đáng của khách hàng hơn nữa. - Thường xuyên nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty .. 1.6. Những thành tựu mà công ty đã đạt đƣợc trong quá trình xây dựng và phát triển Trải qua 15 năm hoạt động, Công ty đã đạt được nhiều thành tựu như nhiều năm liền được tặng bằng khen của Tổng công ty, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Bộ Công thương. Trong những năm 2003 và năm 2009, Công ty được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen về thành tích hoạt động, nhiều tập thể và cá nhân được tặng bằng khen của Bộ Công thương và Thủ tuớng Chính phủ. Mới đây nhất là trong những năm 2010, 2011, 2012 , Công ty đều đạt danh hiệu tập thể Lao động xuất sắc của Tổng Công ty Dầu Việt Nam khen tặng. Năm 2011, Công ty được nhận cờ thi đua của Bộ Công Thương. Tổng kết chƣơng 1: Chương 1 giới thiệu một cách tổng quát về Công ty PV OIL Vũng Tàu với lĩnh vực kinh doanh và cơ cấu tổ chức cũng như lịch sử hình thành của công ty.Trong gần 15 năm hoạt động Công ty đã không ngừng cố gắng vươn lên để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt. Ngày nay Công ty đang là một trong những Công ty phát triển nhanh và mạnh trong ngành dầu khí Vũng Tàu nói riêng và Việt Nam nói chung. Với tình hình kinh tế đất nước ta còn khó khăn đòi hỏi Công ty phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong tương lai nhưng Công ty vẫn không ngừng cố gắng cải thiện và phát triển hơn nữa. Trang 16 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI Để có thể hoàn thành hay nghiên cứu các vấn đề về kênh phân phối một cách cụ thể và chính xác được thì cần phải có cơ sở hay nền tảng kiến thức cơ bản về kênh phân phối và từ đó có những định hướng đúng đắn cho vấn đề cần nghiên cứu. Như vậy thì dưới đây là phần trình bày cơ sở lý luận về kênh phân phối và các vấn đề liên quan đến phân phối để có thể hoàn thành nghiên cứu đề tài này. 2.1. Định nghĩa về Marketing Có rất nhiều định nghĩa về marketing và dưới đây là một số quan điểm và khái niệm về Marketing phổ biến như: - Theo CIM ( UK’s Chartered Institute of Marketing ): “ Marketing là quá trình quản trị nhận biết, dự đoán và đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả và có lợi”. - Theo AMA ( American Marketing Association, 1985): “ Marketing là tiến trình hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định giá, xúc tiến và phân phối những ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những mục tiêu của cá nhân và tổ chức”. - Theo Groroos (1990): “ Marketing là những hoạt động thiết lập, duy trì và củng cố lâu dài những mối quan hệ với khách hàng một cách có lợi để đáp ứng mục tiêu của các bên. Điều này được thực hiện bằng sự trao đổi giữa các bên và thỏa mãn những đều hứa hẹn”...(Nguồn: “Principle of marketing”, Frances Brassington và Stephen Pettit, 1997). Từ những khái niệm trên có thể rút ra một vài nhận xét sau: - Marketing là tiến trình quản trị. Marketing cần được xem là một bộ phận chức năng trong một tổ chức và cần có nhiều kỹ năng quản trị. Marketing cần hoạch định, phân tích, sắp xếp, kiểm soát và đầu tư các nguồn lực vận chất và con người. Marketing giống như những hoạt động quản trị khác, có thể tiến hành hiệu quả và thành công nhưng cũng có thể kém cỏi và thất bại [2, trang 14 – 15] . 2.2. Định nghĩa về quản trị Marketing Quản trị marketing là quá trình lập kế hoạch, và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thỏa mãn những mục tiêu khách hàng và tổ chức. Trang 17 Định nghĩa này viết lại quản trị marketing là một quá trình bao gồm việc phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát. Nó liên quan đến hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng, và dựa trên ý niệm về trao đổi, mục đích của nó là tạo ra sự thỏa mãn cho các bên hữu quan. Đó là quá trình tìm cách ảnh hưởng đến mức độ và đặc tính của nhu cầu theo hướng giúp cho tổ chức thành đạt các mục tiêu của nó. Nói một cách đơn giản, quản trị marketing là quản trị sức cầu (demand) [ 1, trang 11] . 2.3. Chiến lƣợc về phân phối 2.3.1. Định nghĩa Phân phối là tiến trình chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, thể hiện qua nhiều phương thức và hoạt động khác nhau. Phân phối trong Marketing làm thay đổi sở hữu sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng thông qua các thành viên trung gian. Phân phối làm cho cung cầu ăn khớp với nhau. Theo ý nghĩa đó, phân phối là sáng tạo ra dịch vụ. Những người tiêu dùng thì thường phân tán theo địa lý, lại có những yêu cầu đa dạng về chất lượng cũng như số lượng sản phẩm, trong khi đó các nhà sản xuất thì lại tập trung và chuyên môn hóa nên cần có vai trò của người phân phối để đưa sản phẩm và dịch vụ tới người tiêu dùng đúng với yêu cầu [ 2, trang 160] . 2.3.2. Tầm quan trọng của phân phối trong Marketing. Vai trò của phân phối trong Marketing là đưa sản phẩm đến thị trường mục tiêu. Những quyết định phân phối có ảnh hưởng lớn đến các nỗ lực Marketing. Do các trung gian thực hiện một số chức năng phân phối nên kế hoạch Marketing của công ty cũng sẽ khác nhau khi lựa chọn những trung gian phân phối khác nhau. Sự lựa chọn hệ thống phân phối là một trong những quyết định quan trọng nhất của công ty. Những mối quan hệ chặt chẽ giữa các trung gian cần có thời gian để phát triển. Nếu giữa các thành viên phân phối có những ràng buộc chặt chẽ, doanh nghiệp mới sẽ gặp nhiều khó khăn khi thâm nhập. Khi đã xây dựng được những mối quan hệ trong phân phối, sản phẩm mới sẽ dễ dàng tung ra thị trường hơn. Những thành viên trong kênh phân phối cần hoạt động trong sự hợp tác. Những nhà phân phối mạnh sẽ tăng cường khả năng Marketing của công ty. Như vậy, chiến lược phân phối hợp lý, thuận tiện cho người mua sẽ góp làm cho sản phẩm lưu thông thông suốt, nhanh chóng dễ xâm nhập thị trường. Chi phí và lợi nhuận cũng bị ảnh hưởng bởi quyết định lựa chọn kênh phân phối. Một công ty thực hiện các chức năng phân phối phải tự trang trải hết các khoản chi phí và Trang 18 đổi lại sẽ thu hết phần lợi nhuận. Một công ty sử dụng trung gian để giảm chi phí phân phối thì lợi nhuận cũng giảm vì trung gian phải hưởng phần đóng góp của họ. Mặt khác, khi sử dụng trung gian, tổng lợi nhuận công ty có thể tăng nếu mức bán của trung gianvượt cao hơn mức bán do công ty tự phân phối. Mức độ chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm thường chịu ảnh hưởng bởi số lượng, vị trí, khả năng thâm nhập thị trường, hình ảnh, dịch vụ và các kế hoạch Marketing của các nhà buôn sỉ, buôn lẻ. Tuy nhiên, sử dụng quá nhiều trung gian sẽ dẫn đến những mối liên hệ với người tiêu dùng ít đi và mức độ kiểm soát Marketing cũng thấp hơn [ 2, trang 161 – 162] . 2.4. Chiến lƣợc về kênh phân phối 2.4.1. Định nghĩa Có rất nhiều khái niệm về hệ thống kênh phân phối. Tùy theo những góc độ nghiên cứu khác nhau mà có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về kênh phân phối: - Kênh phân phối sản phẩm là tập hợp các tổ chức và cá nhân làm nhiệm vụ chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Kênh phân phối kết hợp tất cả các thành viên tham gia vào tiến trình phân phối gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, nhà buôn sỉ, nhà buôn lẻ, đại lý và người tiêu dùng[2, trang 162] - Kênh phân phối sản phẩm là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra và chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. [ 3, trang 229] Từ các khái niệm trên ta có thể rút ra khái niệm tổng quát sau: Kênh phân phối là một tập hợp các doang nghiệp và cá nhân độc lập hoặc phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa sản phẩm, dịch vụ hay một giải pháp tới tay người tiêu dùng tại một thời điểm và một địa điểm nhất định và thực hiện các mục tiêu của doang nghiệp trên thị trường [ 3, trang 230] . 2.4.2. Cấu trúc của kênh phân phối Một kênh phân phối có thể đơn giản hoặc phức tạp. Kênh phân phối có nhiều kiểu cấu trúc khác nhau nhưng nhìn chung có thể đưa về hai dạng sau đây: 2.4.2.1. Kênh phân phối hàng tiêu dùng Kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng thường phức tạp và phong phú. Tùy theo từng loại sản phẩm, từng thị trường và từng doanh nghiệp mà số lượng kênh và cấu trúc kênh khác nhau. Trang 19 Kênh 0 cấp Người bán lẻ Kênh một cấp Nhà Kênh hai sản cấp xuất Kênh ba ( tổ chức cấp đầu nguồn) Người bán sỉ Người bán lẻ Người tiêu dùng Người bán sỉ Người bán sỉ nhỏ Người bán lẻ Hình 2.1: Kênh phân phối hàng tiêu dùng  Kênh phân phối trên bao gồm bốn kênh: [3, trang 236-239] . - Kênh không cấp (còn được gọi là kênh phân phối trực tiếp): gồm người sản xuất bán hàng trực tiếp cho khách hàng cuối cùng. Những hình thức của marketing trực tiếp chính là bán hàng lưu động, bán hàng dây chuyền, đặt hàng qua bưu điện,marketing qua điện thoại…Do không có trung gian phân phối trong kênh trực tiếp nên người sản xuất phải trực tiếp thực hiện tất cả các chức năng của kênh. Kênh trực tiếp thích hợp cho những sản phẩm dễ hư hỏng, giá trị lớn, cồng kềnh, kỹ thuật phức tạp, khách hàng tập trung ở một khu vực địa lý.  Ƣu điểm: Ưu điểm cơ bản của việc sử dụng kênh này là doanh nghiệp có thể thông qua tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để hiểu rõ và đáp ứng tốt nhu cầu của họ. Đồng thời với kênh trực tiếp doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn quá trình bán hàng, kiểm soát và điều chỉnh tốt hơn các mục tiêu và công cụ Marketing của mình. Trang 20
- Xem thêm -