Tài liệu Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN NGÂN HÀNG ____________________________ Họ và tên tác giả luận văn: Phan Đăng Lưu Lớp: Cao học 13.01 A ĐTDĐ: 0913 010 504 Cơ quan công tác: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam LUẬN VĂN THẠC SỸ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Tô Ngọc Hưng Học viện Ngân hàng – Hà Nội HÀ NỘI – 2013 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam ATM Máy rút tiền tự động BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam CBTD Cán bộ tín dụng CIC Trung tâm thông tin tín dụng Cty CP Công ty cổ phần DPRR Dự phòng rủi ro GDP Tổng sản phẩm quốc dân HĐQT Hội đồng quản trị HĐTV Hội đồng thành viên HTX Hợp tác xã HTXHTDNB Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ NHTM Ngân hàng Thương Mại NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTW Ngân hàng trung ương PN&XLRR Phòng ngừa và xử lý rủi ro QTRRTD Quản trị rủi ro tín dụng RRTD Rủi ro tín dụng SPDV Sản phẩm dịch vụ TCKT Tổ chức kinh tế TCTD Tổ chức tín dụng TNHH Trách nhiệm hữu hạn USD Đô la Mỹ Vietcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam VNĐ Việt Nam đồng Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 2 A. MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài. Trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam ổn định và từng bước phát triển, tạo được niềm tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Cùng với những thành tựu đổi mới của đất nước, hoạt động Ngân hàng đã có những chuyển biến, góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá để từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, hoạt động của ngành ngân hàng vẫn còn nhiều bất cập cả về cơ chế chính sách và tổ chức hoạt động. Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập, hạn chế, một trong những tồn tại chủ yếu thể hiện ở năng lực quản lý hoạt động tín dụng còn yếu, nợ xấu tăng làm suy giảm năng lực tài chính và vị thế của hệ thống ngân hàng. Từ đó, việc đánh giá đúng mức thực trạng quản trị rủi ro trong lĩnh vực tín dụng và nghiên cứu để tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong hoạt động của mọi ngân hàng. Quản lý rủi ro tín dụng là một trong những mục tiêu cơ bản trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại một cách toàn diện và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam trước yêu cầu mở cửa thị trường tài chính dịch vụ theo các cam kết quốc tế của Việt Nam. Từ thực tiễn trên, là một nhân viên đang làm việc tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tôi chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh kế tài chính ngân hàng. Hy vọng luận văn sẽ đóng góp những giải pháp thiết thực, từng bước hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng để đầu tư cho vay ngày một tốt hơn, hoạt động ngân hàng luôn an toàn, hiệu quả tương xứng với vị thế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 3 2. Mục đích nghiên cứu: - Góp phần hệ thống hoá để từng bước hoàn thiện lý luận cơ bản về quản trị rủi to tín dụng của ngân hàng thương mại. - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) thời gian qua. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, củng cố, hoàn thiện nâng cao hiệu quả hệ thống quản trị rủi ro tín dụng của Agribank. - Nâng cao kỹ năng, phương pháp nghiên cứu. 3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng trong hệ thống Agribank. Sử dụng các Báo cáo thường niên, báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề… của Agribank, kỷ yếu hội thảo khoa học và các tài liệu có liên quan đến đề tài. Phạm vi nghiên cứu từ thực tiễn của công tác tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống Agribank từ năm 2009 đến năm 2012. 4. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, suy luận logic kết hợp với lịch sử, phương pháp thống kê, so sánh, lý thuyết hệ thống, diễn giải và quy nạp để phân tích, chứng minh và đánh giá các vấn đề. Bên cạnh đó, luận văn cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, các báo cáo, các tài liệu trên báo chí và internet có liên quan để làm sâu sắc hơn các cơ sở khoa học và tính thực tiễn của đề tài. 5. Bố cục luận văn: * Tên đề tài: " Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam". Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 4 * Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 5 B. NỘI DUNG Chương 1 RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương Mại 1.1.1 Khái niệm Tín dụng là nghiệp vụ truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất và đem lại nguồn thu nhập chủ yếu trong hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên lĩnh vực này luôn chứa đựng nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho khách hàng. Bất kỳ một khoản tín dụng nào được cấp ra đều phải tuân thủ theo nguyên tắc sau đây: - Khoản tín dụng đó phải được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. - Khoản tín dụng đó phải được hoàn trả cả vốn và lãi đúng kỳ hạn đã cam kết. Trên thực tế, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vì một lý do nào đó có thể là chủ quan hoặc là khách quan khiến cho nguyên tắc thứ hai bị vi phạm tức là khoản tín dụng đó không được hoàn trả đúng kỳ hạn đã cam kết. Điều này sẽ làm cho ngân hàng chịu mọi khoản tổn thất như thiếu vốn khả dụng, mất khả năng thanh toán. Những tổn thất này người ta gọi là rủi ro tín dụng. Vậy từ đây ta có thể rút ra một khái niệm đầy đủ về rủi ro tín dụng: “Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với bất kỳ lý do nào”. 1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng 1.1.2.1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng (RRTD) được phân chia thành hai loại: Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 6 - Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh từ những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: xảy ra trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. 1.1.2.2. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, RRTD được phân chia thành hai loại: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trường hợp này được gọi là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn. Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 7 - Rủi ro do không có khả năng trả nợ: xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả. Do vậy ngân hàng phải xử lý tài sản của khách hàng để thu nợ. 1.1.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng 1.1.3.1. Phát sinh từ phía khách hàng: a. Dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng: - Trì hoãn hoặc gây trở ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình sử dụng vốn vay, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính của khách hàng. - Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm phát luật trong quá trình quan hệ tín dụng. - Chậm hoặc trì hoãn các báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục. - Đề nghị gia hạn, điều chỉnh các khoản nợ nhiều lần không rõ lý do. - Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng. - Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn thanh toán. - Xuất hiện nợ quá hạn vì : tiêu thụ hàng chậm, thu hồi công nợ chậm.... - Mức độ vay thường xuyên gia tăng, vượt quá nhu cầu dự kiến. - Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo giảm sút so với định giá cho vay, có các dấu hiệu cho người khác thuê, bán hoặc trao đổi.. - Dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ vào các nguồn thu nhập ngoài sản xuất kinh doanh hoăc tìm kiếm sự tài trợ từ nhiều nguồn. - Dấu hiệu đầu tư các khoản tiền ngắn hạn cho hoạt động đầu tư dài hạn. - Chấp nhận nguồn sử dụng lãi suất cao với mọi điều kiện. b. Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng: Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 8 - Có sự chênh lệch lớn giữa doanh thu thực tế so với mức dự kiến. - Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản. - Xuất hiện phí bất hợp lý: quảng cáo, tiếp khách quá mức, phô trương… - Thay đổi thường xuyên tổ chức hoặc ban điều hành - Bỏ hợp đồng nhỏ và vừa có tỷ suất lợi nhuận cao, để tìm hợp đồng lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận lại thấp. - Quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn đến đầu tư không hiệu quả. - Khó khăn khi phát triển sản phẩm dịch vụ mới. - Tung sản phẩm ra thị trường quá sớm hoặc đặt áp lực thời gian sinh lời. - Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, dẫn đến mất mùa, thất thu, mất tài sản. - Đối với khách hàng là tư nhân, có dấu hiệu của bệnh kéo dài hoặc chết. 1.1.3.2. Phát sinh từ phía ngân hàng - Chính sách tín dụng không hợp lý. - Đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng. - Cấp tín dụng cho cam kết không chắc chắn và thiếu đảm bảo của khách. - Tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá năng lực kiểm soát. - Soạn các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng không rõ ràng. - Hồ sơ tín dụng không đầy đủ thiếu sự hoàn chỉnh - Cạnh tranh thái quá: giảm thấp lãi suất, tăng hạn mức. 1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có bốn nguyên nhân cơ bản gây nên rủi ro tín dụng: nguyên nhân khách qua từ môi trường bên ngoài, nguyên nhân từ phía khách hàng, nguyên nhân từ chính ngân hàng và nguyên nhân từ các bảo đảm tín dụng. 1.1.4.1. Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài - Rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng thuộc về thiên nhiên như Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 9 thiên tai động đất, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh.... Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nông nghiệp, lệ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may mặc... vốn rất nhạy cảm với rủi ro từ môi trường tự nhiên, mỗi biến động của tự nhiên đều gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn, làm suy giảm khả năng trả nợ vay ngân hàng dẫn tới rủi ro tín dụng. - Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định: Bao gồm các yếu tố: các giai đoạn của chu kỳ kinh tế (phát triển, hưng thịnh hay suy thoái), sự thay đổi cơ chế chính sách kinh tế, lãi suất, tỷ giá, chỉ số giá cả.... Khi nền kinh tế phát triển mạnh, hoạt động kinh doanh thuận lợi, khả năng rủi ro từ việc không trả được nợ hoặc vỡ nợ rất thấp, hoạt động tín dụng tương đối an toàn. Khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị đình trệ, hàng hóa tồn kho ứ đọng không tiêu thụ được làm suy giảm khả năng tài chính của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng kém đồng nghĩa với tăng RRTD. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển quá nóng, ngân hàng nhà nước sẽ áp dụng chính sách tiền tệ thăt chặt, lãi suất thị trường tăng, doanh nghiệp sẽ phải đi vay với lãi suất cao hơn dẫn đến chi phí tài chính tăng. Trong khi đó thì doanh thu của doanh nghiệp giảm một cách rõ rệt, vì vậy RRTD sẽ gia tăng. - Môi trường chính trị, pháp luật: Khi một quốc gia có nền chính trị không ổn định, có chiến tranh, hay xảy ra các cuộc bạo loạn, đình công, tranh chấp giữa các đảng phái... thì việc triển khai dự án đầu tư của các doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng. - Do môi trường pháp lý: Cơ chế chính sách của nhà nước tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh và môi trường đầu tư vốn của các ngân hàng. Khi có sự thay đổi, điều Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 10 chỉnh luật pháp, chính sách, chế độ của Nhà nước hoặc thay đổi địa giới hành chính của các địa phương, sự sát nhập hay chia tách của các cơ quan, bộ ngành... mặc dù những thay đổi và điều chỉnh đó là tất yếu trong quá trình phát triển của một đất nước nhưng sẽ tác động trực tiếp tới mọi cá nhân, tổ chức kinh tế - các khách hàng của ngân hàng, đó cũng là nguyên nhân có thể mang đến rủi ro. Hiện nay ở Việt Nam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) bước đầu đã cung cấp thông tin khá kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng. Tuy nhiên thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật. Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng với những thông tin không đầy đủ thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng. - Môi trường quốc tế: Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tín dụng trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng quốc tế, các dòng vốn luôn vận hành theo quy luật thị trường. Khủng hoảng tài chính làm cho mối quan hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước bị thay đổi, tạm ngưng trệ hoặc cắt đứt, làm giảm sút sức mua, hàng hóa bị ứ đọng khó tiêu thụ sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn ngân hàng, tất yếu phát sinh RRTD. Ngoài ra, quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng bởi sự cạnh tranh gay gắt và quy luật chọn lọc, đào thải khắc nghiệt của thị trường, khiến cho các khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản. Bên cạnh đó, bản thân các ngân hàng thương mại trong nước với hệ thống quản lý yếu kém bị các ngân hàng nước ngoài có nền tảng quản trị và công nghệ vượt trội cạnh tranh lôi kéo những khách hàng tốt, có tiềm lực tài chính lớn để lại khách hàng ốm yếu cho ngân hàng nội địa, dẫn tới nguy cơ rủi ro, nợ xấu tăng lên. 1.1.4.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 11 - Khách hàng cố ý vi phạm nguyên tắc, chế độ; làm giả hồ sơ, tài liệu để lừa đảo, biển thủ, sử dụng trái phép, chiếm đoạt tài sản của người khác. - Đối với khách hàng là cá nhân: Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập của cá nhân. Các khách hàng là cá nhân thường có những rủi ro vì nguyên nhân sau: + Không có nơi cứ trú ổn định. Thu nhập thất thường, do công việc bị thay đổi hoặc bị mất việc làm. + Rủi ro đạo đức như: sử dụng vốn sai mục đích, không muốn hoàn trả nợ vay, thậm chí kinh doanh trên lưng ngân hàng, sử dụng tiền vay ngân hàng để cho vay với lãi suất cao hơn. - Đối với khách hàng là doanh nghiệp, nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng bao gồm: + Từ thị trường: Thị trường cung cấp đầu vào bị thu hẹp, giá cả nguyên vật liệu tăng, chi phí sản xuất tăng lên, sản phẩm giảm sức cạnh tranh; Sản phẩm kém phẩm chất, không phù hợp với thị trường, khó tiêu thụ; hoặc do: cạnh tranh trên thị trường, thị hiếu thay đổi,… Tất cả các nguyên nhân này làm doanh thu của doanh nghiệp giảm sút. + Khách hàng sử dụng sai mục đích, do đó mất vốn hoặc hiệu quả đầu tư thấp không trả đươc nợ dẫn đến nợ quá hạn. + Khả năng quản lý điều hành: Trình độ, năng lực quản lý hạn chế, thiếu trình độ, kinh nghiệm chuyên môn dẫn tới việc tổ chức và việc điều hành sản xuất kinh doanh yếu kém, tài chính không rõ ràng minh bạch, hiệu quả sử dụng vốn giảm, khả năng trả nợ giảm. + Do sự thay đổi nhân sự hoặc thay đổi sở hữu doanh nghiệp: có sự thay đổi về đội ngũ chủ chốt trong doanh nghiệp, bộ máy quản lý không đồng bộ, điều hành kém, hiệu quả sản xuất không cao, giảm số lượng và chất lượng sản phẩm. Lúc đó doanh nghiệp sẽ không thu được lợi nhuận sự kiến hoặc bị thua lỗ. + Do tình trạng tham nhũng diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp. 1.1.4.3. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 12 Nguyên nhân rủi ro từ phía ngân hàng hết sức quan trọng do ngân hàng là chủ thể của các hoạt động tín dụng. Theo đánh giá của quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì 50% ngân hàng phá sản trên thế giới là do năng lực quản lý yếu kém. Nguyên nhân cụ thể như sau: - Ngân hàng thiếu một chính sách cho vay rõ ràng, chính sách cho vay không phù hợp với thực trạng nền kinh tế. Thực tế chứng minh sự hoạt động của một ngân hàng dựa trên cơ sở chính sách thống nhất hiệu quả nhiều hơn là dựa trên cơ sở kinh nghiệm và trao quyền quyết định cho giám đốc. Chính sách cho vay ở đây phải được hiểu theo nghĩa đầy đủ, bao gồm: định hướng chung cho việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay, về loại khách hàng mà ngân hàng cho vay quan tâm, ngành nghề được ưu tiên, quy trình xét duyệt cho vay cụ thể... Chính sách cho vay có thể ví như kim chỉ nam cho hoạt động kinh doanh của một ngân hàng. - Ngân hàng chưa chú trọng vào mục tiêu của khoản vay, tính toán sai hiệu quả đầu tư của dự án xin vay dẫn đến các quyết định sai lầm trong cho vay. - Ngân hàng đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về người đi vay hoặc do chủ quan, tin tưởng vào khách hàng mà coi nhẹ khâu kiểm tra, thẩm định các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ… - Cán bộ tín dụng: thiếu thông tin tín dụng hoặc có thông tin nhưng không đầy đủ chính xác nên không phân tích đánh giá khách quan, chính xác về khách hàng. Không am hiểu ngành nghề, lĩnh vực, thị trường mà mình đang tài trợ, dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án xin vay. Do trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ ngân hàng chưa bắt kịp với cơ chế thị trường luôn biến động, dẫn đến hạn chế trong quản lý các món vay. - Công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ còn bất cập: Các ngân hàng thường tập trung chủ yếu cho việc thẩm định trước khi cho vay mà nơi lỏng, xem nhẹ quá trình kiểm tra, giám sát đồng vốn sau khi cho vay; hầu hết các sai phạm phát Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 13 hiện sau khi vụ việc đã xảy ra, chưa cảnh báo được rủi ro mà chỉ xử lý những vụ việc đã phát sinh RRTD. - Ngân hàng thiếu một cơ chế theo dõi, quản lý rủi ro, thiếu hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc các ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, chưa đủ các tiêu thức đo lường rủi ro, độ RRTD tối đa cho phép chấp nhận đối với từng khách hàng thuộc các ngành khác nhau. - Cán bộ, nhân viên suy thoái đạo đức nghề nghiệp: Do một số cán bộ, nhân viên ngân hàng trong đó có cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cố tình làm sai nguyên tắc, thông đồng hoặc tiếp tay với khách hàng để chiếm đoạt tài sản tiền vốn của người khác. Thời gian vừa qua xảy ra nhiều vụ án kinh tế lớn có liên quan đến NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng với khách hàng (làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế...) để rút tiền ngân hàng. - Thiếu sự hợp tác, phối hợp giữa các ngân hàng: Hoạt động ngân hàng là một nghề kinh doanh đặc biệt, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Do thiếu trao đổi thông tin, nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng dẫn đến mức vượt quá giới hạn tối đa, khi có rủi ro mọi ngân hàng đều phải gánh chịu. 1.1.4.4. Nguyên nhân từ các bảo đảm tín dụng - Trường hợp bảo đảm bằng tài sản: + Do sự biến động của giá trị tài sản đảm bảo theo chiều hướng bất lợi. Tài sản đảm bảo khó định giá, khó phát mại.... + Do doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nắm giữ các tài sản đảm bảo để xử lý chúng. Có những tranh chấp tài sản về mặt pháp lý. - Trường hợp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh): Người bảo lãnh không thực Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 14 hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho người vay ngân hàng khi người này không có khả năng trả nợ. Tóm lại, RRTD có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Trong phạm vi quản lý của các ngân hàng, RRTD phụ thuộc vào năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ khâu xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay. Khả năng cấp tín dụng phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của cán bộ tín dụng và các bộ phận có liên quan đồng thời phụ thuộc vào nguồn vốn của ngân hàng. 1.1.5. Ảnh hưởng của RRTD đến nền kinh tế và ngân hàng 1.1.5.1. Đối với nền kinh tế - RRTD có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính của cả một quốc gia. Do sự ràng buộc chặt chẽ giữa các trung gian tài chính trong hệ thống tài chính, rủi ro tín dụng có thể châm ngòi cho hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền khiến hệ thống trung gian tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng. - RRTD có thể gây ra hậu quả tiêu cực tới mọi đối tượng trong xã hội, làm giảm lòng tin của công chúng vào hệ thống tài chính, ngân hàng cũng như hiệu lực các chính sách tài chính - tiền tệ của Chính phủ. 1.1.5.2. Đối với ngân hàng - Chi phí gia tăng: do phải trích lập quỹ bù đắp tổn thất khiến hiệu quả hoạt động giảm, tình trạng thua lỗ kéo dài, uy tín bị giảm sút... - RRTD kéo dài làm thất thoát lượng vốn lớn, ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất thanh khoản, không có khả năng chi trả, thậm chí có thể rơi vào tình trạng phá sản. Rủi ro tín dụng gây ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng không chỉ với ngân hàng mà còn tác động sâu rộng đối với kinh tế, xã hội; vì vậy đòi hỏi các NHTM phải đặc biệt chú trọng đến công tác xác định, đo lường, quản trị và kiểm RRTD, phải có chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả nhằm giảm thiểu tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 15 1.2. Những nội dung cơ bản về công tác quản trị RRTD của NHTM 1.2.1. Khái niệm về quản trị RRTD ngân hàng Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, và tối thiểu hóa những tác động bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng thông qua hệ thống các công cụ nhằm hạn chế và giảm thiểu các tổn thất từ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng 1.2.2. Sự cần thiết của quản trị RRTD ngân hàng 1.2.2.1. Đối với các tổ chức tín dụng Trong hoạt động ngân hàng, cấp tín dụng là nghiệp vụ kinh tế cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn. Đối với các NHTM, dư nợ cho vay thường chiếm tới 1/2 tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm khoảng trên 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập.Vì vậy, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng tập trung chủ yếu ở danh mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào tình trạng khó khăn, nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, trong hoạt động, các ngân hàng chỉ chấp nhận RRTD mà mức độ thiệt hại tối đa không cao hơn mức lợi nhuận mong đợi. Thực tế, mọi trường hợp các ngân hàng đều có thể tính toán khả năng chấp nhận rủi ro qua mô hình dưới đây: Sơ đồ 1.1: Mô hình khả năng rủi ro của ngân hàng Khả năng thiệt hại của ngân hàng Lợi nhuận Chi phí Vốn tự có Vùng rủi ro cho phép Vùng rủi ro nguy hiểm Vùng rủi ro thảm khốc Điểm mất vốn tự có và phá sản Điểm không có doanh thu Điểm bắt đầu thua lỗ Điểm bắt đầu giảm lợi nhuận Nguồn: Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 16 Trong một môi trường hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, nếu một ngân hàng quản trị rủi ro yếu kém, RRTD có thể xảy ra vượt ngoài tầm kiểm soát dẫn tới giảm lợi nhuận mong đợi; tác động tiêu cực đến sự ổn định và phát triển của ngân hàng trong tương lai. 1.2.2.2. Đối với hệ thống ngân hàng và với nền kinh tế RRTD không chỉ thiệt hại cho ngân hàng mà còn làm giảm niềm tin của những người gửi tiền - nguồn vốn huy động chủ yếu từ xã hội của ngân hàng. Tới mức độ nghiêm trọng, hiện tượng rút tiền hàng loạt có thể xảy ra. Nếu không có đủ ngồn dự phòng và được xử lý kịp thời, ngân hàng có thể sụp đổ và gây ra hiệu ứng lan truyền đặc trưng của hệ thống ngân hàng, ảnh hưỏng một cách sâu rộng đến nền kinh tế và toàn xã hội. Khi năng lực QTRRTD chưa tốt, mở rộng tín dụng cũng đồng nghĩa với gia tăng thua lỗ. Năng lực quản trị rủi ro yếu kém dẫn đến hạn chế tăng trưởng tín dụng, hậu quả ngân hàng mất dần những khách hàng tốt, giảm thị phần và đến một thời điểm nào đó ngân hàng có thể thua lỗ thậm chí phá sản. Do đó hoàn thiện và nâng cao năng lực quản trị tín dụng là tiền đề của việc mở rộng tín dụng có hiệu quả, tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Theo đó cũng cũng cần xét sâu hơn khi cấp tín dụng, về nguyên tắc, mức lãi suất phải đủ trang trải chi phí bao gồm cả phần bù đắp rủi ro và cộng thêm phần lợi nhuận mong đợi. Với sự cạnh tranh của các tổ chức tín dụng, nếu ngân hàng cấp những khoản tín dụng ít rủi ro thì lợi thế trong kinh doanh của ngân hàng sẽ tăng. Thể hiện ở chỗ ngân hàng có thể thu hút khách hàng bằng cách giảm mức lãi suất cho khách hàng so với đối thủ cạnh tranh. Thêm nữa thông qua mở rộng tín dụng ngân hàng có cơ hội mở rộng cung cấp những sản phẩm dịch vụ khác của mình. Do vậy QTRRTD giúp ngân hàng xử lý tốt mối quan hệ giữa RRTD và lợi nhuận, qua đó đánh giá được thiệt hại và đem lại lợi ích cho bản thân và các đối tác trong quan hệ tín dụng. 1.2.3. Đo lường rủi ro tín dụng Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài mong đợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tuy không thể loại bỏ được hoàn toàn nhưng người ta có thể Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 17 nghiên cứu để nhận biết nó, từ đó có thể đưa ra các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro, giảm thiểu mức độ thiệt hại đến mức thấp nhất. Muốn dự đoán được rủi ro chính xác thì ngân hàng phải đo lường được rủi ro một cách cụ thể. Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu mà ngân hàng nào cũng áp dụng vì nó có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý kinh doanh. Đo lường RRTD là cơ sở để ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, chính sách lãi suất phù hợp với từng thời kỳ, xây dựng hệ thống quản trị RRTD cho từng loại tài sản có và cho từng loại hình cho vay. Chỉ tiêu dùng để đo lường RRTD được chia thành các nhóm sau: 1.2.3.1. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao thì rủi ro càng lớn vì với những khoản nợ không thu hồi được sẽ ảnh hưởng đến quá trình khai thác và sử dụng vốn của ngân hàng, phá vỡ kế hoạch kinh doanh và hơn thế nữa làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các tổ chức tín dụng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao làm tăng chi phí của ngân hàng. Với một khoản tín dụng gặp rủi ro, ngân hàng phải thêm chi phí giám sát khoản vay, chi phí xử lý tài sản đảm bảo, chi phí pháp lý… do đó làm tăng chi phí thực tế của ngân hàng. Trong khi không có nguồn thu từ khoản tín dụng này thì ngân hàng vẫn phải trả lãi cho nguồn vốn vay từ khách hàng. Nợ quá hạn xuất hiện làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của các tổ chức tín dụng, làm giảm lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh. Đồng thời hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, làm giảm uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng. 1.2.3.2. Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo Quyết định số 493/2005/QĐNHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 18 rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (Quyết định 493) và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (Quyết định 18), việc phân loại nợ có thể được sử dụng một trong hai phương pháp: phương pháp định lượng (Điều 6 Quyết định 18) và phương pháp định tính (Điều 7 Quyết định 493); theo đó TCTD phân loại nợ thành 5 nhóm, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ nợ xấu là một trong các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng TCTD, tỷ lệ này cao đồng nghĩa với rủi ro tín dụng cao. Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu/Tổng dư nợ Nợ xấu gây khó khăn lớn trong việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng. Nếu nợ xấu không giải quyết kịp thời đến một thời điểm nào đó khả năng trích lập sự phòng rủi ro sẽ không đủ để bù đắp phần tổn thất và việc nâng cao tiềm lực tài chính đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn lại càng là vấn đề khó thực hiện cho ngân hàng. 1.2.3.3. Tỷ lệ mất vốn Tỷ lệ mất vốn = Dư nợ mất vốn/Tổng dư nợ Dư nợ mất vốn là các khoản nợ thuộc nhóm 5 bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.... Tỷ lệ mất vốn càng cao thì thiệt hại của ngân hàng càng lớn, nó phản ánh những khoản tín dụng không thu hồi được, phải dùng quỹ dự phòng để bù đắp. 1.2.3.4. Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD so với tổng dư nợ kỳ báo cáo Dự phòng RRTD là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 19 Tỷ lệ trích lập = Dự phòng RRTD/ Tổng dư nợ kỳ báo cáo dự phòng RRTD được trích lập Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD, dự phòng rủi ro bao gồm: dự phòng cụ thể và dự phòng chung: - Dự phòng cụ thể: Theo quy định tại Quyết định 493của NHNN, dự phòng cụ thể được trích lập trên rủi ro tín dụng thuần của các khoản cho vay theo các tỷ lệ tương ứng với các nhóm nợ như sau: Bảng 1.1: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ Nhóm Loại Tỷ lệ trích lập dự phòng 1 Nợ đủ tiêu chuẩn 0% 2 Nợ cần chú ý 5% 3 Nợ dưới tiêu chuẩn 20% 4 Nợ nghi ngờ 50% 5 Nợ có khả năng mất vốn 100% Nguồn: Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý thì được trích lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng. Số tiền dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ được tính theo công thức: R = max {0, (A – C)} x r Trong đó: + R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích + A: Số dư nợ gốc của khoản vay + C: Giá trị khấu trừ của tài sản (Giá trị tài sản x Tỷ lệ khấu trừ). + r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể Đến nay, hầu hết các NHTM Việt Nam đã áp dụng phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD theo phương pháp định tính, việc phân loại nợ theo phương Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013 20
- Xem thêm -