Tài liệu Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại nhno&ptnt chi nhánh hồng hà

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 89 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng LỜI MỞ ĐẦU Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong những năm gần đây ngày càng được mở rộng. Sự giao lưu buôn bán hàng hóa giữa các quốc gia ngày một lớn đòi hỏi hoạt động thanh toán quốc tế ra đời như một tất yếu khách quan. Song để hoạt động thanh toán quốc tế được tiến hành thuận lợi, đem lại hiệu quả kinh tế cao phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của hệ thống các NHTM Việt Nam. Thực tế cho thấy rằng, các NHTM nói chung đã có những bước phát triển, hoàn thiện không ngừng hoạt động thanh toán quốc tế để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta trong những năm đổi mới. Cùng với quá trình phát triển lâu dài, thanh toán quốc tế đã được biết đến với rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Song phải kể đến nghiệp vụ thanh toán bằng tín dụng chứng từ - một phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến, an toàn nhất hiện nay và được các NHTM Việt Nam coi như một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của mình. Trong quá trình hội nhập kinh tế, thanh toán bằng L/C tuy đạt được nhiều kết quả nhưng vẫn không tránh khỏi những rủi ro từ nhiều yếu tố khác nhau, gây thiệt hại không nhỏ cho các doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam nói riêng và nền kinh tế trong nước nói chung. Vậy làm thế nào để hạn chế và phòng ngừa rủi ro nhằm hoàn thiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ là vấn đề mà các NHTM Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT Chi nhánh Hồng Hà nói riêng. Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề, em đã chọn đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hồng Hà” làm chuyên đề tốt nghệp Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 2 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHTM 1.1. KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1.1. Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ Theo điều 2, UCP600, phương thức tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau: “Tín dụng là một thỏa thuận, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp.” Phương thức này được sử dụng trong hoạt động kinh doanh XNK trong đó công cụ được sử dụng chủ yếu là thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) – yếu tố cốt lõi trong các giao dịch quốc tế. Được hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán quốc tế, song sau khi được thiết lập, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán quốc tế. Tính chất độc lập của thư tín dụng được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi L/C (nhà xuất khẩu), không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu. Ngân hàng phát hành L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu trình và nội dung của L/C đã được mở để trả tiền cho người xuất khẩu. Việc thanh toán của Ngân hàng không phụ thuộc vào thực trạng của hàng hóa. Nếu thực trạng của hàng hóa không đúng với chứng từ thì hai bên sẽ giải quyết với nhau. 1.1.2. Các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ - Người yêu cầu phát hành thư tín dụng (Applicant): là bên mà theo yêu cầu của họ, một tín dụng được phát hành. Trong thương mại quốc tế, người yêu cầu thường là người nhập khẩu hàng hóa hoặc là người khác do người nhập khẩu ủy thác. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 3 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng - Người thụ hưởng thư tín dụng (Beneficiary): là bên được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C. Tùy hoàn cảnh cụ thể mà Người thụ hưởng có thể có những tên gọi khác nhau như: người bán, nhà xuất khẩu, ngưởi ký phát hối phiếu, người thắng thầu. - Ngân hàng phát hành (Issuing bank): là ngân hàng thực hiện phát hành tín dụng theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc cho chính mình. Ngân hàng phát hành thường được hai bên thỏa thuận và quy định trong hợp đồng mua bán. Nếu không có sự thỏa thuận trước, nhà nhập khẩu được phép chọn Ngân hàng phát hành. - Ngân hàng thông báo (Advising bank): là ngân hàng thực hiện thông báo L/C cho Người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Ngân hàng thông báo thường là Ngân hàng đại lý hay chi nhánh của một Ngân hàng phát hành ở nước nhà xuất khẩu. - Ngân hàng xác nhận (Comfirming bank): là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo ủy quyền của Ngân hàng phát hành. - Ngân hàng được chỉ định (Negotiating bank): là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu. Đối với L/C có giá trị tự do, thì bất kỳ ngân hàng nào đều có thể trở thành Ngân hàng được chỉ định. Bên cạnh các Ngân hàng chủ yếu còn có hai Ngân hàng: Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank) và Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering Bank) nhưng trên thực thế ít khi có sự xuất hiện của hai Ngân hàng này. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 4 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng 1.1.3. Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ (7) Ngân hàng thông báo (6) Ngân hàng phát hành (Advising bank) (Issuing bank) (2) (3) (5) (1) (8) )) (4) Người thụ hưởng (Beneficiary) (9) Người yêu cầu (Applicant) HĐTM Trước hết người nhập khẩu và người xuất khẩu ký hợp đồng thương mại, trong đó thống nhất điều khoản thanh toán bằng tín dụng chứng từ. (1) Nhà nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại, viết đơn đề nghị phát hành tín dụng thư cho nhà xuất khẩu hưởng, gửi tới Ngân hàng phục vụ mình. (2) Căn cứ vào đơn xin phát hành L/C, Ngân hàng phát hành sẽ phát hành một L/C và gửi cho Ngân hàng thông báo bằng thư hoặc bằng điện. (3) Ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thực bề ngoài của L/C và thông báo L/C cho người thụ hưởng. (4) Trên cơ sở chấp nhận nội dung của L/C sau khi kiểm tra kỹ, nhà xuất khẩu tiến hành giao hàng theo hợp đồng. (5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập và xuất trình bộ chứng từ để yêu cầu thanh toán. (6) Ngân hàng thông báo gửi bộ chứng từ nhận được từ người xuất khẩu tới Ngân hàng phát hành. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 5 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng (7) Ngân hàng phát hành kiểm tra bề mặt chứng từ, đối chiếu với những điều khoản quy định trên L/C đã mở trước đây. Nếu thấy phù hợp Ngân hàng phát hành L/C sẽ thanh toán cho bên xuất khẩu (nếu trả ngay) hoặc chấp nhận thanh toán (nếu trả chậm). (8) Nhận được điện báo có về khoản thanh toán bộ chứng từ hàng xuất khẩu, Ngân hàng báo có cho người xuất khẩu hoặc thông báo hối phiếu có kỳ hạn đã được chấp nhận thanh toán hoặc thông báo về việc bộ chứng từ xuất trình bị Ngân hàng phát hành L/C từ chối thanh toán hoặc từ chối chấp nhận thanh toán. (9) Ngân hàng phát hành yêu cầu người nhập khẩu thanh toán. Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp thì tiến hành trả tiền (hoặc chấp nhận). Ngân hàng sẽ chuyển bộ chứng từ để người nhập khẩu đi nhận hàng. Nếu người nhập khẩu từ chối thanh toán thì tùy từng trường hợp mà Ngân hàng sẽ có hướng giải quyết khác nhau dựa trên đơn xin phát hành thư tín dụng. 1.1.4. Cơ sở pháp lý của phương thức tín dụng chứng từ Hiện nay hoạt động thanh toán quốc tế đang được điều chỉnh bởi một hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch bao gồm luật quốc gia của các nước tham gia giao dịch và các thông lệ, tập quán quốc tế. 1.1.4.1 .Các nguồn luật quốc gia Nguồn luật quốc gia trong TTQT bao gồm văn bản luật và dưới luật điều chỉnh các vấn đề liên quan tới thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế như: Luật các tổ chức tín dụng 2010, Luật các công cụ chuyển nhượng 2005, Pháp lệnh ngoại hối 2005, Luật Thương mại Việt Nam 2005… 1.1.4.2. Thông lệ và tập quán quốc tế - Quy tắc và thực hiện thống nhất về tín dụng chứng từ UCP600 2007 (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits, ICC Publication No.600). - Bản quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ lần đầu tiên được áp dụng vào năm 1933 do Phòng Thương mại Quốc tế ban hành nhằm thống nhất những nội dung và sự hiểu biết chung trong giao dịch thương mại Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 6 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng quốc tế giữa các khu vực. Trải qua quá trình phát triển của thương mại quốc tế và thực tiễn giao dịch hàng ngày, UCP đã được sửa đổi sáu lần vào các năm 1951, 1962, 1974, 1993 và 2007. Tên gọi bản UCP mới nhất hiện nay là UCP600 2007 ICC. Về hình thức, UCP600 đã được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49 điều khoản của UCP500) bao gồm những vấn đề như: nguyên tắc chung và định nghĩa về tín dụng chứng từ, hình thức và thông báo thư tín dụng, nghĩa vụ và trách nhiệm của Ngân hàng và các quy định về các loại chứng từ kèm theo… - Bản quy tắc này mang tính pháp lý tùy ý, khi áp dụng nó các bên phải thỏa thuận ghi vào L/C, đồng thời có thể thỏa thuận khác miễn là có ghi rõ trong L/C. - Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng – số 681, của ICC tuân thủ UCP 600 2007 ICC (International Standard Banking Practice, ICC publication No.681, 2007 edition) là văn bản cụ thể hóa các quy định về kiểm tra bề mặt chừng từ, áp dụng kèm với UCP 600. Bản sửa đổi mới nhất - ISBP 681 đã được bố cục lại gọn hơn với 185 điều khoản (so với 200 điều khoản của ISBP 645). - Bản phụ trương UCP 600 về việc xuất trình chứng từ điện tử- bản diễn giải số 1.1 năm 2007 (Supplement to UCP 600 for Electronic Presentation version 1.1 – eUCP 1.1 2007 ICC) nhằm điều chỉnh việc chỉ xuất trình chứng từ điện tử, hoặc kết hợp với việc xuất trình chứng từ bằng văn bản. eUCP 1.1 gồm 12 điều, được áp dụng như là bản phụ trương của UCP 600 nếu thư tín dụng nêu rõ là tham chiếu eUCP. Ba bộ tập quán UCP600, ISBP 681, eUCP 1.1 tạo thành một bộ tập quán quốc tế thống nhất dùng để điều chỉnh phương thức TTQT bằng thư tín dụng. - Quy tắc thực hành về tín dụng dự phòng quốc tế ISP 590 1998 (International Standby Practices, ICC Publication No.590, 1998 Edition) quy định các quy tắc thực hành về tín dụng dự phòng quốc tế, điều chỉnh các vấn đề liên quan tới thư tín dụng dự phòng. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 7 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng 1.1.5. Các loại thư tín dụng phổ biến 1.1.5.1. Căn cứ theo loại hình a. L/C không thể hủy ngang (Irrevocable letter of credit): Là loại L/C sau khi mở muốn sửa đổi hoặc hủy bỏ phải được sự đồng ý của các bên có liên qua và có sự xác nhận cuối cùng của Ngân hàng phát hành. Theo quy định của UCP 600, một khi L/C được phát hành, nó trở thành không thể hủy ngang. b. L/C xác nhận (Confirming L/C): Là loại L/C được một Ngân hàng khác xác nhận, ngoài cam kết thanh toán của Ngân hàng phát hành còn có thêm sự cam kết của Ngân hàng xác nhận. Trong thực tế việc yêu cầu xác nhận L/C không xuất phát từ mong muốn của người phát hành L/C mà xuất phát từ yêu cầu của người hưởng lợi, khi họ nghi ngờ khả năng thanh toán của Ngân hàng phát hành, hoặc lo lắng về tình hình chính trị, kinh tế ở nước người nhập khẩu. 1.1.5.2. Căn cứ vào thời hạn thanh toán a) L/C trả ngay (L/C at sight): Là loại L/C không thể hủy ngang và phải thanh toán ngay khi hối phiếu được xuất trình. Rủi ro trong loại thư tín dụng này là thường phải thanh toán trước khi nhận hàng, vì hối phiếu và bộ chứng từ thường đến trước khi hàng cập cảng. b) L/C trả chậm (Deffered L/C): Là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng, một số ngày sau khi bộ chứng từ được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng. 1.1.5.3. Căn cứ theo phương thức sử dụng a) L/C điều khoản đỏ (Red clause L/C): Là loại L/C đặc biệt, trong đó có một điều khoản ghi rõ Ngân hàng phát hành sẽ chuyển tiền hoặc ủy quyền cho Ngân hàng thông báo (hay Ngân hàng xác nhận, Ngân hàng thương lượng thanh toán), để thực hiện ứng trước cho người hưởng lợi một số tiền nhất định, thông thường tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị L/C và phải xuất trình chứng từ tại Ngân hàng mà họ nhận tiền ứng trước và phải bồi hoàn lại số tiền này nếu không xuất trình đủ chứng từ hợp lệ trong thời gian quy định. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 8 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng b) L/C chuyển nhượng (Transferable L/C): Là thư tín dụng không hủy ngang, trong đó người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho người hưởng lợi thứ hai. L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần, nghĩa là người được chuyển nhượng không được quyền chuyển nhượng tiếp cho người khác. Loại này thường áp dụng trong mua bán qua trung gian, chỉ chuyển nhượng quyền thực hiện L/C chứ không phải chuyển nhượng L/C. c) L/C giáp lưng (Back to back L/C): Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang được hình thành trên cơ sở một thư tín dụng gốc. Nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình hưởng, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dụng L/C và dùng chính L/C này để thế chấp mở một L/C cho người khác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu. Loại này dùng trong mua bán thông qua trung gian khi mà người trung gian không muốn sử dụng L/C chuyển nhượng, bởi họ không muốn lộ bí mật khách hàng của họ. d) L/C tuần hoàn (Revolving L/C): Là loại L/C không thể hủy ngang mà sau khi sử dụng xong hoặc sau khi hết hạn hiệu lực L/C thì sẽ tự khôi phục lại giá trị như cũ mà không cần mở L/C mới. Loại này thường sử dụng thanh toán với các bạn hàng quen biết, với số lượng hàng hóa, chủng loại hàng mua bán ổn định trong thời gian tới. e) L/C đối ứng (Reciprocal L/C): Là loại thư tín dụng không hủy ngang, nó chỉ có hiệu lực khi một L/C khác đối ứng với nó được mở. L/C đối ứng thưởng được sử dụng trong phương thức mua bán đổi hàng (barter) và phương thức gia công xuất khẩu. 1.1.6. Ưu – nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ 1.1.6.1. Ưu điểm Trong số các phương thức thanh toán nêu trên, TDCT được đánh giá là phương thức hoàn thiện, có nhiều ưu điểm hơn cả, đảm bảo được tính ràng buộc trong nghĩa vụ và quyền lợi của các bên tham gia. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 9 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng Đối với nhà xuất khẩu: Phương thức thanh toán này đảm bảo thanh toán cho người xuất khẩu do có ngân hàng phát hành L/C hoặc Ngân hàng xác nhận đứng ra cam kết thanh toán. Nhờ đó họ không còn phải lo phụ thuộc vào khả năng tín dụng của phía nhà nhập khẩu cũng như các rủi ro có thể xảy ra. Nhà xuất khẩu cũng có thể giảm thiểu các rủi ro về việc thanh toán bị chậm trễ hoặc không thực hiện được liên quan tới vấn đề chính trị hoặc trao đổi thương mại quốc tế tại nước nhà nhập khẩu. Hơn nữa, nhờ vào dịch vụ như chiết khấu bộ chứng từ, nhà xuất khẩu có thể tìm được nguồn tài chính để tài trợ cho việc nhập khẩu hoặc sản xuất hàng hóa của mình trước hạn thanh toán. Đối với nhà nhập khẩu: Sau khi Ngân hàng phát hành thư tín dụng cam kết trả tiền hàng cho người xuất khẩu với các điều kiện ghi rõ trong L/C, sẽ giúp cho nhà nhập khẩu nhập khẩu hàng hóa thuận lợi hơn do nhà xuất khẩu có thể yên tâm giao hàng mà không phải lo lắng về việc thanh toán. Do Ngân hàng cũng tham gia vào quá trình kiểm tra bộ chứng từ và chỉ đồng ý thanh toán khi bộ chứng từ được xuất trình phù hợp, nhà nhập khẩu có thể giảm bớt khả năng phát sinh rủi ro liên quan tới bộ chứng từ. Đối với Ngân hàng: Thông qua việc thực hiện nghiệp vụ, Ngân hàng có thể thu phí dịch vụ từ các khoản giao dịch đó, phát triển một mảng dịch vụ, góp phần đem lại lợi nhuận không nhỏ cho hoạt động ngoại bảng của Ngân hàng, bên cạnh đó thúc đẩy các hoạt động khác phát triển hơn như kinh doanh ngoại tệ… 1.1.6.2. Nhược điểm Bất cứ một nghiệp vụ thanh toán nào cũng có những hạn chế của nó, bởi vậy dù được đánh giá là phương thức hoàn thiện hơn cả, TDCT vẫn tồn tại một số nhược điểm sau: Bởi tính chất ràng buộc rất cao trong phương thức này nên dẫn đến khoản chi phí phải bỏ ra để tiến hành phương thức này là khá cao. Nhà nhập khẩu khi yêu cầu phát hành L/C sẽ phải trả cho Ngân hàng phí phát hành L/C, phí tu chỉnh L/C, phí xác nhận nếu L/C được đề nghị tu chỉnh hoặc xác nhận…Hầu hết các Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 10 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng trường hợp khi phát hành L/C, nhà nhập khẩu đều phải ký quỹ theo tỷ lệ do Ngân hàng quy định (có thể lên đến 100% giá trị hợp đồng). Do vậy phương thức này sẽ không hiệu quả đối với các hợp đồng có kim ngạch nhỏ. Bên cạnh đó, quy trình thanh toán bằng L/C tương đối phức tạp, đòi hỏi các bên tham gia và thanh toán viên phải nắm vững nghiệp vụ để tránh việc sai sót. Song khi cần điểu chỉnh, sửa đổi lại L/C cần phải có sự đồng ý của cả hai bên và phía Ngân hàng phát hành, gây mất thời gian và tốm kém chi phí. Những nhược điểm nêu trên một phần là những rủi ro tiềm ẩn trong thanh toán TDCT. Hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro và chịu tác động của các yếu tố khác nhau từ môi trường kinh doanh đến con người…Vậy những rủi ro tiềm ẩn trong phương thức thanh toán bằng TDCT là những rủi ro nào sẽ được đề cập chi tiết ở phần tiếp theo. 1.2. NỘI DUNG CỦA VIỆC HẠN CHẾ TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.2.1. Khái niệm rủi ro Khi đề cập đến rủi ro, mọi người hay quan niệm đó là những điều không tốt lành, tổn thất hay thậm chí thiệt hại về vật chất xảy ra ngoài dự kiến do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan. Trong cuộc sống hàng ngày, trong hoạt động kinh tế của con người thường có những tai họa, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra gây thiệt hại về người và tài sản. Những tai nạn, tai họa, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên như vậy được gọi là rủi ro. Để đối phó với các loại rủi ro không lường trước được đó, con người đã cố gắng tìm kiếm mọi phương cách để phòng ngừa và hạn chế rủi ro, từ biện pháp không thực hiện những việc làm quá mạo hiểm, chú ý đến những quy tắc về an toàn lao động, các chuẩn mực trong kinh tế... thậm chí lập ra những quỹ dự phòng để dự trữ một khoản tiền nào đó nhằm bù đắp những rủi ro có thể gặp phải. Tất cả những hành động đó nhằm một mục đích duy nhất là cố gắng hạn Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 11 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng chế đến mức tối đa và phòng tránh các loại rủi ro để mọi quá trình sản xuất, kinh doanh được diễn ra tốt đẹp. Trong thanh toán quốc tế cũng vậy, tuy là hoạt động mang đến cho ngân hàng thương mại nhiều lợi ích, nhưng có thể nói lợi ích đó đồng hành với rủi ro. Rủi ro trong thanh toán quốc tế là những bất trắc có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế. Nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia thanh toán quốc tế (nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, Ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian...) hoặc do các nhân tố khách quan khác gây nên như môi trường kinh doanh, tỷ giá biến động hay thiên tai, hỏa hoạn trong quá trình vận chuyển hàng hóa… Rủi ro trong hoạt động thanh toán bằng TDCT chia thành nhiều dạng, tùy từng phương diện và căn cứ mà rủi ro có những tên gọi và đặc điểm khác nhau. Dưới đây là hai căn cứ được sử dụng phổ biến nhất để phân chia rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT. 1.2.2. Sự cần thiết phải hạn chế rủi ro trong thanh toán TDCT tại NHTM Với xu thế quốc tế hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay thì mỗi quốc gia luôn phải thực hiện các mối quan hệ quốc tế trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, hợp tác khoa học kĩ thuật, trong đó quan hệ về kinh tế chiếm tỉ lệ cao nhất và là cơ sở cho các quan hệ khác. Để phục vụ cho các giao dịch kinh tế xuất nhập khẩu, các giao dịnh thương mại và phi thương mại thì hoạt động TTQT nói chung và thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, bởi nếu rủi ro xảy ra thì không chỉ cần bản thân ngân hàng thiệt hại về uy tín và lợi nhuận, mà còn tác động tới cả nên kinh tế. 1.2.2.1. Với hoạt động của nền kinh tế Thanh toán TDCT phản ánh sự vận động có tính chất độc lập tương đối của giá trị trong chu chuyển hàng hóa và tư bản giữa các quốc gia. Như vậy, nếu các khâu trong thanh toán TDCT được thực hiện nhanh chóng, an toàn và chính xác thì nó đã trực tiếp tác động vào việc rút ngắn thời gian cho quá trình chu chuyển Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 12 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng vốn, giảm bớt và khắc phục những rủi ro liên quan đến sự biến động của tiền tệ, tạo điều kiện đa dạng và mở rộng hoạt động TTQT của mỗi quốc gia. Thanh toán TDCT là phương thức thanh toán quốc tế quan trọng và được sử dụng phổ biến trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có hoạt động TTQT đặc biệt là thanh toán TDCT thì hoạt động đối ngoại cũng khó có thể tồn tại và phát triển. Do đó, vấn đề đặt ra là phải làm sao thúc đẩy các hoạt động TTQT đạt hiệu quả ngày càng cao hơn. Trong thanh toán TDCT, nếu quy trình thanh toán được thực hiện cẩn thận, có sự tham gia thiện chí của các bên trong môi trường thanh toán ổn định thì quá trình thanh toán sẽ diễn ra nhanh chóng, hiệu quả, có thể giảm thiểu thời gian và các chi phí thanh toán không cần thiết. Từ đó thúc đẩy nền kinh tế trong nước ngày càng phát triển. Ngày nay, khi nền kinh tế có nhiều biến động thì rủi ro trong thanh toán TDCT ngày càng tăng. Do đó để đảm bảo hạn chế rủi ro và thu được tiền hàng cho nhà XK thì cần phải nghiên cứu, xem xét kĩ lưỡng phương thức thanh toán L/C nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế tổn thất cho nền kinh tế. 1.2.2.2. Với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đối với hoạt động ngân hàng thì thanh toán L/C không chỉ là một dịch vụ thanh toán đơn thuần mà còn được coi là một mặt không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bởi hoạt động TTQT này có sự bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác, đồng thời tạo nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngân hàng. Một khi ngân hàng đáp ứng được đồi hỏi của khách hàng trong hoạt động thanh toán TDCT sẽ tạo điều kiện để thu hút thêm khách hàng, nhờ đó mà có thể tăng quy mô vốn hoạt động. Nhờ đẩy mạnh hoạt động thanh toán L/C, ngân hàng cso thể mở rộng các hoạt động xuất nhập khẩu. Hoạt động thanh toán tốt sẽ giúp ngân hàng phát triển được các dịch vụ khác như bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ...từ đó nâng cao được uy tín và hình ảnh của ngân hàng, tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 13 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng cơ chế thị trường, giúp hoạt động của ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hòa nhập với hệ thống ngân hàng thế giới. Do đó, việc quản trị rủi ro trong thanh toán TDCT là vô cùng quan trọng. Một khi rủi ro xảy ra, không chỉ tốn kém về mặt thời gian, chi phí...gây thiệt hại cho khách hàng mà còn trực tiếp ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và hình ảnh của ngân hàng. Với sự cạnh tranh gay gắt đang diễn ra trong hệ thống các NHTM thì việc giảm uy tín, hình ảnh của ngân hàng cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng đang tự thu hẹo thị phần của mình trong hoạt động TTQT nói riêng và hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung. 1.2.3. Phân loại rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ 1.2.3.1. Căn cứ vào đối tượng bị thiệt hại - Rủi ro đối với nhà nhập khẩu Trong nghiệp vụ TDCT, việc thanh toán của Ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ dựa trên sự phù hợp của bộ chứng từ mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa. Ngân hàng chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất bên trong của chứng từ đó. Điều đó tạo nên kẽ hở giúp cho nhà xuất khẩu có chủ tâm gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo, nhưng bề ngoài phù hợp với L/C để được thanh toán. Như vậy không có sự đảm bảo nào cho nhà nhập khẩu về việc sẽ nhận được hàng hóa theo đúng hợp đồng. Bởi vậy, nhà nhập khẩu sẽ chịu thiệt hại nếu không nhận được hàng mà vẫn phải thanh toán tiền hàng cho Ngân hàng phát hành. Nhà nhập khẩu muốn nhận được hàng cần có bộ chứng từ thương mại. Nếu nhà nhập khẩu cần gấp ngay hàng hóa trong khi bộ chứng từ gửi hàng đến muộn hơn so với hàng hóa, thì cần thu xếp để ngân hàng phát hành một thư bảo lãnh nhận hàng không có vận đơn gốc, gửi hãng tàu để được nhận hàng và nhà nhập khẩu phải trả một khoản phí bão lãnh cho ngân hàng. Hơn nữa nếu không nhận được hàng, thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh. Tuy nhiên hiện nay các điều khoản của L/C đã quy định thời gian hợp lý hơn để nhà nhập khẩu có thể nhận được bộ chứng từ.Thường nhà nhập khẩu sẽ đưa ra điều khoản quy định Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 14 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng cụ thể trong L/C về số ngày tối đa sau khi hàng đã được bốc lên tàu thì người xuất khẩu phải xuất trình bộ chứng từ tại Ngân hàng chỉ định. - Rủi ro đối với nhà xuất khẩu Nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán có thể bị từ chối và nhà xuất khẩu phải tự xử lý hàng như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết. Như vậy, nhà xuất khẩu phải chịu các loại chi phí như chi phí lưu tàu quá hạn hay chi phí lưu kho và mua bảo hiểm cho hàng hóa…trong đó không biết rõ ý kiến của nhà nhập khẩu là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót. Ngoài ra nếu Ngân hàng phát hành hay Ngân hàng xác nhận mất khả năng thanh toán thì dù bộ chứng từ xuất trình là phù hợp theo L/C thì cũng không được thanh toán. Đồng thời nhà xuất khẩu cũng chịu rủi ro về chính trị hay cơ chế chính sách của nước bên nhập khẩu. - Rủi ro đối với Ngân hàng thương mại Với tính chất thay mặt nhà nhập khẩu trả tiền cho nhà xuất khẩu, Ngân hàng phải đánh giá thật chính xác về chất lượng của chứng từ trên bề mặt. Nhưng thực tế cho thấy trong thời gian qua một số Ngân hàng đã phải chịu rủi ro nghiêm trọng do các sai sót trong kiểm tra chứng từ, hay tranh chấp trong các điều khoản L/C. - Đối với Ngân hàng phát hành: Nếu không phát hiện ra sai sót trên bề mặt bộ chứng từ thì Ngân hàng sẽ trả tiền cho bên nước ngoài. Nếu sau đó nhà nhập khẩu phát hiện ra sai sót, họ có quyền từ chối trả ngân hàng phát hành toàn bộ giá trị của L/C đó. Tiến hành kiểm tra chứng từ vượt quá ngày giới hạn quy định giới hạn cho phép 5 ngày làm việc của Ngân hàng. Để xảy ra trường hợp này, nếu chứng từ có sai sót, Ngân hàng mất quyền từ chối trả tiền, trong khi đó nhà nhập khẩu được khước quyền từ chối thanh toán cho Ngân hàng đối với những lỗi đó. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 15 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng Ngoài rủi ro trong khâu kiểm tra chứng từ thì ngân hàng phát hành có thể bị lừa phát hành thư tín dụng. Đây được xem là phương thức lừa đảo chủ yếu mà Ngân hàng cần thận trọng và nâng cao công tác nghiệp vụ phòng tránh rủi ro. - Đối với Ngân hàng thông báo: Ngân hàng thông báo chịu trách nhiệm phải có sự quan tâm hợp lý để đảm bảo rằng thư tín dụng là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khóa mã, mẫu điện trước khi gửi thông báo cho nhà xuất khẩu. Như vậy, nếu không hoàn thành tốt và để xảy ra sai sót thì Ngân hàng thông báo cũng phải gánh chịu rủi ro như không nhận được phí dịch vụ thậm chí nghiêm trọng hơn là bị khởi kiện và bồi thường thiệt hại. - Đối với Ngân hàng xác nhận: Nếu bộ chứng từ phù hợp với L/C thì Ngân hàng xác nhận phải trả tiền cho người xuất khẩu bất luận là có truy đòi được từ phía ngân hàng phát hành hay không. Như vậy, Ngân hàng xác nhận phải chịu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành. Bên cạnh đó Ngân hàng xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra thích đáng bộ chứng từ trong khi bộ chứng từ có lỗi, Ngân hàng phát hành không chấp nhận thì không thể đòi tiền Ngân hàng phát hành. 1.2.3.2. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro - Rủi ro tín dụng Đây là rủi ro liên quan đến khả năng thanh toán của một trong các bên tham gia vào thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Cụ thể như sau:  Rủi ro tín dụng từ phía nhà nhập khẩu: Như đã biết, L/C cùng với bộ chứng từ xuất trình là nền tảng cho thanh toán TDCT. Cần lưu ý rằng L/C là một cam kết trả tiền chắc chắn của Ngân hàng phát hành với người bán, thực chất ngân hàng phát hành đã dùng uy tín của mình để thay mặt nhà nhập khẩu cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ. Nếu L/C được ký quỹ 100% thì sẽ không xảy ra rủi ro cho Ngân hàng phát hành song phần lớn các ngân hàng phát hành L/C đều thực hiện Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 16 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng tài trợ cho nhà nhập khẩu dưới hai hình thức: cho mượn uy tín (tức chỉ yêu cầu khách hàng ký quỹ một phần giá trị của L/C) và cho vay để nhập khẩu. Khi thị trường hàng hóa biến động khiến tình hình kinh doanh của nhà nhập khẩu gặp khó khăn, dẫn đến thua lỗ, không có khả năng thanh toán đúng hạn hoặc thậm chí doanh nghiệp bị phá sản, mất hẳn khả năng thanh toán thì sẽ gây rủi ro cho Ngân hàng phát hành trong việc thu hồi vốn. Như vậy, trong trường hợp này, rủi ro tín dụng không chỉ là những mất mát, thiệt hại xảy ra cho các Ngân hàng do không thu hồi được vốn đã thanh toán cho nước ngoài, nhiều khi còn là việc không thu hồi được vốn đúng hạn, hoặc phát sinh những khoản chi phí vô ích. Để giảm thiếu rủi ro cho mình các Ngân hàng phát hành thường yêu cầu vận đơn phải được kí hậu theo lệnh của Ngân hàng và thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp ký quỹ, thế chấp tài sản…  Rủi ro tín dụng từ phía nhà xuất khẩu: Rủi ro này thường xảy ra trong trường hợp Ngân hàng thực hiện chiết khấu chứng từ đối với hàng xuất khẩu, sự thiếu sót trong khâu kiểm tra chứng từ, gây tình trạng sai sót trong hồ sơ thanh toán bị từ chối thanh toán. Trường hợp này Ngân hàng thương lượng thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã thanh toán cho người xuất khẩu, song nếu người xuất khẩu không còn khả năng thanh toán sẽ gây hậu quả rủi ro cho Ngân hàng thương lượng thanh toán.  Rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng: Nếu Ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán vì một lý do nào đó hoặc phải đóng cửa, hoặc vỡ nợ thì cũng dẫn tới rủi ro cho nhà xuất khẩu và Ngân hàng thương lượng thanh toán. Điều này phụ thuộc nhiều vào mức độ tín nhiệm của Ngân hàng phát hành, tuy rất hiếm xảy ra nhưng cũng đã có ngân hàng bị sụp đổ. Vì thế để tránh xảy ra tình huống như trên tốt nhất người xuất khẩu nên yêu cầu nhà nhập khẩu chọn những NHTM có uy tín để phát hành L/C. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 17 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng - Rủi ro đạo đức Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia phương thức thanh toán TDCT cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo L/C, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia. + Rủi ro đạo đức của Nhà nhập khẩu: Nếu khách hàng nhập khẩu không phải là bạn hàng lâu năm, có tín nhiệm thì rất dễ có những hành vi lừa người xuất khẩu xếp hàng lên tàu, rồi trì hoãn, từ chối thanh toán bằng những thủ đoạn nghiệp vụ bắt lỗi sai sót chứng từ, ép giá người xuất khẩu để thu lợi cho mình. Trong nhiều trường hợp nhà xuất khẩu đành chịu bán lỗ còn hơn thuê tàu chở hàng về. Khi giá cả hàng hóa nhập khẩu giảm người nhập khẩu sợ thua lỗ trong kinh doanh cố tình không nhận bộ chứng từ để lấy hàng, hoặc trì hoãn không thanh toán nên đẩy Ngân hàng vào tình thế khó khăn trong xử lý vốn, đặc biệt trong nghiệp vụ trả chậm. Ngoài ra cũng có khả năng thư tín dụng giả mạo được phát hành bởi một Ngân hàng “Ma”. Nếu không có biện pháp kiểm tra tính chân thực của L/C thì người bán sẽ gánh chịu rủi ro nặng nề vừa mất tiền lại không nhận được hàng.  Rủi ro đạo đức của Nhà xuất khẩu: Khi nhà xuất khẩu cố ý giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, nhưng lại xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của L/C, hoặc Nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ khống giả mạo (không giao hàng), Ngân hàng theo bộ hồ sơ vẫn buộc phải thực hiện thanh toán cho người hưởng lợi nếu bộ chứng từ xuất trình phù hợp, khi đó nhà nhập khẩu phải gánh chịu mọi rủi ro. Song nếu ngân hàng phát hành là người tài trợ vốn cho nhà nhập khẩu thì rủi ro của nhà nhập khẩu lại chuyển thành rủi ro cho cả ngân hàng phát hành. Trong trường hợp giá cả hàng hóa quốc tế tăng, người xuất khẩu sợ thiệt không muốn giao hàng cho người mua nữa. Điều này gây thiệt hại cho người nhập khẩu vì kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ không đảm bảo. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 18 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng  Rủi ro đạo đức của người chuyên chở: Trong hoạt động XNK hai bên thường ở cách xa về mặt địa lý và việc vận chuyển hàng hóa từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu thường dài ngày và cần sự có mặt của người chuyên chở. Đã có trường hợp người chuyên chở nhận hàng từ người bán, lấy tiền cước rồi biến mất, hoặc có tìm thấy tàu nhưng hàng không còn. Khi đó ngân hàng vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho nhà xuất khẩu còn việc kiện hãng tàu, chủ tàu đòi bồi thường của bảo hiểm tách rời với L/C. Thời gian kiện tùng thường bị kéo dài, khó khăn, tốn kém và gây thiệt hại cho cả người mua và người bán.  Rủi ro đạo đức của Ngân hàng: Trong nhiều trường hợp Ngân hàng phát hành cũng vi phạm cam kết của mình, như trì hoãn, hoặc từ chối thanh toán bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu. Hoặc ngược lại, đối với sự thiếu trung thực của Ngân hàng thương lượng thanh toán khi bộ hồ sơ không phù hợp với L/C vẫn gửi điện cam kết hồ sơ chuẩn đòi tiền Ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành tin tưởng thanh toán sẽ gặp rủi ro, việc đòi lại tiền rất khó khăn. - Rủi ro nghiệp vụ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro hình thành do những sai sót mang tính kĩ thuật nghiệp vụ trong quá trình thanh toán. Rủi ro này được thể hiện trong việc lập các hồ sơ chứng từ có sai sót, không đáp ứng các điều khoản và điều kiện của L/C và hành động không đúng theo UCP 600 và các thông lệ, tập quán quốc tế khác. Rủi ro này thường xảy ra nhiều nhất trong phương thức TDCT. Bởi, đặc thù của phương thức này là các Ngân hàng chỉ thực hiện nghiệp vụ thanh toán trên bề mặt các chứng từ, vì vậy nó đòi hỏi một cách khắt khe về sự phù hợp tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán và L/C. Đây có thể là trở ngại lớn đối với người bán vì họ khó khăn trong việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khắt khe đó. Các sai sót liên quan đến các chứng từ hồ sơ trực tiếp do người bán lập, người bán có thể sửa sai, song có những chứng từ do bên thứ ba lập mà có sai sót như trong vận Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 19 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng đơn, xuất xứ hàng hóa, phiếu kiểm định…thì người bán không thể khắc phục được, hoặc khắc phục rất khó khăn và tốn thời gian, chi phí. Hơn nữa, phương thức TDCT có sự tham gia đặc biệt của nhiều Ngân hàng nên rủi ro của các Ngân hàng chiếm tỷ lệ rất cao và rủi ro xảy ra với nhiều Ngân hàng. Chẳng hạn như: Rủi ro do Ngân hàng phát hành không làm đúng theo UCP mà L/C đã dẫn chiếu. Cụ thể, Ngân hàng phát hành được miễn trách nhiệm thanh toán nếu chứng từ xuất trình có khác biệt với các điều kiện và điều khoản của L/C. Tuy nhiên, nếu Ngân hàng phát hành không thực hiện đúng theo những quy định của UCP thì Ngân hàng đó sẽ gặp rủi ro bởi chính bộ chứng từ có lỗi đó: thông báo từ chối nhưng không nói rõ sự bất hợp lệ của chứng từ, hoặc thông báo những bất hợp lệ làm nhiều lần, hoặc từ chối chứng từ sau thời hạn cho phép theo quy định trong UCP, hoặc không giao chứng từ đó cho bên thứ ba do người xuất trình chỉ định. Thậm chí rủi ro có thể xảy ra khi Ngân hàng phát hành thiếu thận trọng khi lựa chọn Ngân hàng xác nhận L/C. Rủi ro từ phía Ngân hàng thông báo: Ngân hàng thông báo là ngân hàng được ngân hàng phát hành L/C yêu cầu thông báo L/C đó cho người bán. Ngân hàng này có trách nhiệm xác minh tính chân thực bề ngoài của thư tín dụng trước khi thông báo L/C. Rủi ro xảy đến khi Ngân hàng thông báo nhầm một L/C giả, một sửa đổi giả mà không ghi chú về tình trạng của L/C theo thông lệ quốc tế phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với các bên liên quan. Rủi ro từ phía Ngân hàng xác nhận: Các Ngân hàng được yêu cầu nghiệp vụ xác nhận thường là các Ngân hàng lớn, có uy tín hoặc Ngân hàng có quan hệ tiền gửi, vay tiền với Ngân hàng phát hành, được Ngân hàng này yêu cầu xác nhận và cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Việc xác nhận chủ yếu có tính chất ràng buộc trách nhiệm của Ngân hàng xác nhận vào nghĩa vụ thanh toán L/C khi có tranh chấp phát sinh. Rủi ro này thường xảy ra khi Ngân hàng xác nhận không nắm được năng lực tài chính và uy tín của Ngân hàng phát hành mà Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8 20 Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng xác nhận theo yêu cầu của họ không yêu cầu ký quỹ dẫn đến việc Ngân hàng xác nhận phải chịu trách nhiệm thanh toán cuối cùng. - Rủi ro pháp lý Trong thương mại quốc tế, các chủ thể tham gia giao dịch chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật và tập quán kinh doanh khác nhau. Vì vậy, việc am hiểu và vận dụng đúng đắn các luật lệ liên quan cũng như đánh giá và dự đoán các rủi ro giúp các bên tham gia tránh gặp những vướng mắc trong giao dịch thanh toán quốc tế. Rủi ro pháp lý thường gặp trong TDCT bao gồm rủi ro về chính sách (liên quan đến thông lệ quốc tế, chính sách tỷ giá, lãi suất, các rào cản thương mại…) và rủi ro trong quá trình thực thi các giao dịch không đúng theo quy định trong luật gây tổn thất, kiện cáo của các bên tham gia. - Rủi ro thị trường Cũng như các nghiệp vụ kinh doanh khác của Ngân hàng, TTQT nói chung và TDCT nói riêng luôn chịu sự tác động của yếu tố thị trường trong và ngoài nước. Nhóm rủi ro này thường phát sinh do sự biến động về giá trên thị trường tài chính. Nó bao gồm hai rủi ro chính là rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất. +Rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá là rủi ro có thể xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng ngoại tệ nào đó. Khi tỷ giá biến động theo hướng bất lợi sẽ gây tổn thất cho một trong hai phía đối tác tham gia thanh toán. Nếu ngoại tệ được lựa chọn trong thanh toán lên giá sẽ gây tổn thất cho người nhập khẩu, ngược lại ngoại tệ đó mất giá gây thiệt hại cho bên xuất khẩu. Thậm chí Ngân hàng tham gia thanh toán cũng có thể gặp phải rủi ro khi tỷ giá diễn biến bất lợi, ảnh hưởng đến nguồn cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Tỷ giá biến động trên 2 phương diện: thứ nhất là ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài như tình hình kinh tế, thị trường tài chính quốc tế và chính sách can thiệp của các nước. Thứ hai là sự tương tác nhiều chiều của chính sách kinh tế tài chính - tiền tệ ở mỗi nước và quan hệ cung - cầu ngoại hối trên thị trường. Nhữ Ngọc Anh Lớp: NHG – LTĐH8
- Xem thêm -