Tài liệu Giá trị văn học của nam ông mộng lục

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 386 |
  • Lượt tải: 0
tructuyentailieu

Tham gia: 25/05/2016

Mô tả:

Trêng ®¹i häc vinh Khoa ng÷ v¨n --------------- Gi¸ trÞ v¨n häc cña Nam «ng méng lôc Chuyªn ngµnh: V¨n häc trung ®¹i Gi¶ng viªn híng dÉn: Sinh viªn thùc hiÖn: TS. Ph¹m TuÊn Vò NguyÔn ThÞ Hoµng Thu 46E – Líp: Ng÷ V¨n Vinh - 2010 1 MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài 1. Nam Ông mộng lục (Giấc mộng của Nam Ông) là tác phẩm của Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446). Nhà văn viết tác phẩm khi sống lưu vong ở Trung Quốc, làm quan dưới triều Minh. Do đặc điểm lịch sử của nước ta là luôn chống giặc ngoại xâm, nên những tác giả có hoàn cảnh xuất xứ, những tác phẩm có hoàn cảnh ra đời như vậy thường không nhận được thiện cảm từ các nhà nghiên cứu và độc giả. Vì thế trong một thời gian dài tác giả và tác phẩm đã phải chịu sự đánh giá khắt khe (Trần Nghĩa đã đánh một “dấu hỏi to tướng” đầy nghi hoặc trong bài viết của mình: Hồ Nguyên Trừng mà cũng quyến luyến quê hương không quên tổ quốc ư?, đăng trên Tạp chí Văn học số 4/ 1974. Ông cho rằng Hồ Nguyên Trừng chỉ là một đứa con hư của dân tộc, và về mặt văn học thì Hồ Nguyên Trừng không có giá trị gì cả. Khen hẳn là một sự lầm lạc). Đi vào nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đánh giá đúng giá trị của tác phẩm, và đóng góp của tác giả cho văn học dân tộc. 2. Nam Ông mộng lục là một tác phẩm hoàn chỉnh, quy mô và được sáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt. Nghiên cứu giá trị văn học của Nam Ông mộng lục, góp phần nhận thức đặc điểm của thể ký ở Việt Nam thời trung đại. 3. Năm 1438 Hồ Nguyên Trừng viết xong Nam Ông mộng lục, là tác phẩm văn xuôi nghệ thuật ra đời sớm trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại. Và có thể xem đó là tác phẩm văn xuôi tự sự “hải ngoại” đầu tiên của Việt Nam. Bởi vậy nghiên cứu tác phẩm này còn góp phần nhận thức lịch sử văn xuôi nghệ thuật Việt Nam trong những thế kỷ đầu. II. Lịch sử vấn đề Có rất ít công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về tác phẩm Nam Ông mộng lục. Có chăng các tư liệu tìm thấy, liên quan đến đề tài là các bài nghiên cứu và giới thiệu các tác phẩm văn học trung đại của các nhà nghiên 2 cứu Việt Nam, đây đó trong các chuyên luận, các bài báo, tạp chí, giáo trình đại học và trên mạng Internet. Do những điều kiện hạn chế nhất định, 31 thiên truyện chưa được các nhà nghiên cứu trước đây sưu tầm đủ, nên các bài nghiên cứu, soạn, dịch, chú giải của các tác giả trước đây vẫn còn những hạn chế, thiếu khuyết về phương diện tác giả, văn bản, bản dịch, các tài liệu đang còn nhỏ lẻ, tản mạn. Tư liệu chưa đầy đủ về tác giả tác phẩm là nguyên nhân làm cho người ta có cái nhìn chưa đầy đủ về tác giả Hồ Nguyên Trừng và tác phẩm Nam Ông mộng lục. Tác phẩm Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng lần đầu tiên được giới thiệu một cách cặn kẽ nhất ở Việt Nam là vào năm 1962 trên mục ‘‘Nam Ông mộng lục, tác giả Lê Trừng” Trong sách Lược truyện các tác giả Việt Nam do Trần Văn Giáp chủ biên (1962),Nxb KHXH, Hà Nội). Đó là tiền đề cho các nhà nghiên cứu tìm đến văn bản. Tài liệu nghiên cứu sát nhất, tập trung nhất, toàn vẹn nhất về tác giả Hồ Nguyên Trừng và tác phẩm Nam Ông mộng lục là của nhà nghiên cứu Trần Nghĩa, dịch, chú thích và giới thiệu, Nhà xuất bản Văn học,(2008). Tài liệu của nhà nghiên cứu này đã khắc phục được những vấn đề đã nói trên và có giá trị rất lớn đối với bạn đọc. Đóng góp của ông trên phương diện sưu tầm, dịch thuật, biên soạn, chú giải... giúp người đọc tìm hiểu, nghiên cứu tác giả, tác phẩm Nam Ông mộng lục một cách chính xác, hoàn thiện, khoa học hơn. Và những bài tựa, bạt, thuyết minh, phê bình về tác giả và tác phẩm Nam Ông mộng lục trong phần phụ lục của tài liệu, có giá trị rất hữu ích, thiết thực đối với người đọc, là nguồn tham khảo rất bổ ích cho những ai quan tâm đến tác giả, tác phẩm Nam Ông mộng lục. Nam Ông mộng lục được đề cập nhiều trên mạng Internet. Các nhà nghiên cứu khẳng định đó là tập hồi ký bằng chữ Hán đầu tiên của Việt Nam, là tập ký ghi chép về các sử thoại và chuyện về các nhân vật nổi tiếng nước Nam thời Lý- Trần. Họ khẳng định và ngợi ca Hồ Nguyên Trừng – Một nhà quân sự tài ba, một tài năng văn chương đặc sắc của nhà Hồ. Đó là nguồn tư liệu cần thiết giúp chúng ta có được những nhận định đúng về tác giả, tác phẩm. 3 Đã có hai ý kiến trái ngược khi bàn về tư tưởng tác phẩm Nam Ông mộng lục. Trần Nghĩa luận tội Hồ Nguyên Trừng- người đã đem tài năng trí tuệ phục vụ quân Minh, lũ xâm lược dã man đã “ăn gan uống máu” nhân dân ta. Ông cho rằng: Hồ Nguyên Trừng chỉ là một đứa con hư của dân tộc. Đời còn nhắc đến Hồ Nguyên Trừng dứt khoát không phải do Trừng là một người con tốt. Mà chẳng qua vì còn đấy một tập Nam Ông mộng lục, có chút tài liệu sử họa ít nhiều có thể bổ khuyết cho Việt sử. Nguyễn Đức Vân – Tuấn Nghi cũng có ý kiến không mấy ưu ái, thiện cảm như Trần Nghĩa. Còn Trần Văn Giáp, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Huệ Chi... thì không đồng tình với kết luận đó. Dù sao đi nữa, để hiểu một cách đầy đủ hơn, đúng hơn về tác giả Hồ Nguyên Trừng và tác phẩm Nam Ông mộng lục, thiết nghĩ chúng ta phải có cái nhìn toàn diện, sâu sắc và khách quan. Riêng về phần chúng tôi, sau khi được tiếp xúc với văn bản và các tài liệu nghiên cứu về Nam Ông mộng lục, chúng tôi thấy rằng đây là tác phẩm có giá trị lớn về mặt văn học. Vì thế chúng tôi xin được mạnh dạn đi vào trình bày về sự đa dạng thể loại của Nam Ông mộng lục, nghệ thuật thể hiện nhân vật và nghệ thuật tổ chức tác phẩm của Nam Ông mộng lục nhằm góp một phần nhỏ giúp bạn đọc thấy được giá trị văn học to lớn của Nam Ông mộng lục. Chúng tôi muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình trong chặng đường trường kỳ khám phá những giá trị của Nam Ông mộng lục qua những kết luận được trình bày trong khóa luận. III. Mục đích nghiên cứu 1. Nghiên cứu giá trị của Nam Ông mộng lục ở phương diện thể loại nhằm giúp chúng ta hình dung được một phần nào về sự phát triển của thể ký trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Nắm bắt được những đặc điểm của thể ký và thấy được tầm quan trọng của thể loại ký trong văn xuôi Việt Nam trung đại. 2. Nghiên cứu giá trị của Nam Ông mộng lục ở phương diện xây dựng nhân vật giúp chúng ta thấy được sự đa dạng, độc đáo, đặc sắc trong sáng tạo nghệ thuật của các tác giả trung đại. 4 3. Nghiên cứu giá trị văn học của Nam Ông mộng lục góp phần giúp chúng ta thấy được sự vận động, phát triển của lịch sử văn xuôi nghệ thuật Việt Nam trong những thế kỷ đầu. IV. Phạm vi nghiên cứu Chúng tôi xin nghiên cứu Nam Ông mộng lục trong tập sách in 3 tác phẩm: Việt điện u linh tập (Lý Tế Xuyên); Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng); Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ). Nhà xuất bản Văn học, 2008. Phần Nam Ông mộng lục từ trang 57 đến trang 110. V. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến như thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh... Trong đó chúng tôi đặc biệt chú trọng phương pháp lịch sử cụ thể, nghiên cứu tác phẩm trong điều kiện tác giả viết khi lưu vong ở nước ngoài. VI. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của khóa luận có ba chương: - Chương 1: Sự đa dạng thể loại của Nam Ông mộng lục - Chương 2: Nghệ thuật thể hiện nhân vật của Nam Ông mộng lục - Chương 3: Nghệ thuật tổ chức tác phẩm của Nam Ông mộng lục Cuối khóa luận có mục Tài liệu tham khảo 5 CHƯƠNG 1 SỰ ĐA DẠNG THỂ LOẠI CỦA NAM ÔNG MỘNG LỤC I. Tính chất ký của Nam Ông mộng lục 1. Đặc điểm của thể ký thời trung đại Văn học trung đại Việt Nam kéo dài gần 10 thế kỷ, bắt đầu từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX. Quá trình của văn học trung đại thực chất là quá trình hình thành, phát triển các thể loại cũng như các thể tài văn học. Ký là một bộ phận văn học cùng với truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi hợp thành văn xuôi tự sự trung đại. Cũng như truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, ký chủ yếu được viết bằng chữ Hán dưới hình thức các văn thể Trung Hoa. Đặc điểm và bước đi của ký sẽ giúp chúng ta hình dung phần nào sự trưởng thành của văn xuôi tự sự nói riêng và nền văn học trung đại Việt Nam nói chung. Thế kỷ X đến thế kỷ XIV là thời kỳ vừa đặt nền móng cho loại hình truyện ngắn, vừa đặt nền móng cho dòng tự sự viết dưới dạng ký. Nhìn chung kinh nghiệm viết ký ở giai đoạn này còn có phần khiêm nhường. Cuộc sống xã hội không đặt ra nhu cầu về ký, hơn nữa phương tiện in khắc bấy giờ khó khăn nên các loại ký viết thành tập, thành quyển hay viết tự do chưa có điều kiện ra đời. Đề tài của ký hạn chế trong khuôn khổ viết về những điều mắt thấy tai nghe, viết về hiện tại. Ký không được viết về quá khứ, nếu có chẳng qua chỉ là quá khứ gần xoay quanh nhân vật hiện tại. Hơn nữa thời trung đại ký không được dùng các thủ pháp nghệ thuật của thần thoại, truyền kỳ, sử thi, không được hư cấu. Về cơ bản ký giai đoạn thế kỷ X – XIV vẫn thuộc văn học chức năng, nằm trong khuôn khổ văn học chức năng gồm hai loại chính là văn khắc và tự bạt. Văn khắc là chỉ các tác phẩm ký được viết bằng dao hay đục trên chất liệu rắn như kim loại hoặc đá. Chúng gồm văn bia và văn chuông khánh. Văn bia là loại hình văn học khắc trên đá (vách đá, cột đá, trụ đá). Ngày xưa bia vốn là trụ đá, cột đá đặt trước nhà tông miếu để xem thời gian qua bóng mặt trời đổ xuống. Sau đó người ta khắc chữ, ghi việc và lâu dần thành văn bia – bi văn. Văn bia gồm hai phần: Phần thứ nhất viết bằng văn xuôi trình bày lý do dựng bia, kể lể công việc, con người, sự tích... gọi là phần kể; Phần thứ hai viết bằng 6 văn vần, tóm lược lại nội dung ở trên để người đọc người nghe ghi nhớ, vì thế phần này gọi là ghi nhớ. Văn chuông khánh ở thế kỷ này không nhiều, có nội dung cũng không phong phú như văn bia nhưng văn phong của văn khắc và văn chuông khánh lại khá đa dạng. Bên cạnh văn khắc, thế kỷ X – XIV còn có tư (Tựa); bạt. Tự thì đặt ở đầu tác phẩm còn bạt thì đặt ở cuối tác phẩm. Tự và bạt viết ra nhằm bình thuật, giới thiệu các trước tác của tác giả hay của người khác để bày tỏ quan điểm của mình với văn chương nghệ thuật. Sang thế kỷ XV – XVII ký có sự đột phá mạnh mẽ. Và điểm nổi bật của văn xuôi tự sự giai đoạn này là ký chưa thành một thể riêng, nó là một thành phần nhỏ trong tác phẩm tự sự nhiều thiên. Ký nghệ thuật bắt đầu nảy mầm và có mặt nhỏ lẻ trong một số tập truyện ngắn và chưa có một quyển sách nào đứng riêng lẻ với tư cách là một tập ký. Ranh giới giữa truyện và ký rất mờ mỏng, khó mà phân biệt giữa truyện, ký và lục. Đặc điểm này đeo đẳng lịch trình văn xuôi tự sự Việt Nam suốt thời trung đại. Việc tách truyện ra khỏi văn học chức năng ở giai đoạn thế kỷ X- XIV khó như thế nào thì tách ký ra khỏi truyện ở thế kỷ XV – XVII khó đến như vậy. Tính chất ký trong văn xuôi tự sự thế kỷ này rất yếu và chúng ta có thể phân biệt ký với truyện qua chức năng và kết cấu bản chất tác phẩm (chính là thái độ người cầm bút). Nếu người cầm bút tách mình khỏi các sự kiện, các nhân vật đang được miêu tả như người ngoài cuộc thì đấy là truyện, còn các tác giả hòa mình vào các sự kiện, vào nhân vật với tư cách là người trong cuộc thì đấy là ký. Và người mở đầu cho lối viết tự sự nhiều thiên thế kỷ XV – XVII là Hồ Nguyên Trừng tác giả Nam Ông mộng lục với nhiều thiên trong 31 thiên của tác phẩm đậm tính chất ký. Song thế kỷ này cái tôi cá nhân chưa được lột vỏ giữa cái ta cộng đồng. Bởi thế có thể nói ký chưa thực sự ra đời. Và ký chỉ thực sự ra đời khi người cầm bút trực diện trình bày đối tượng mình đang phản ánh bằng cảm quan của chính mình. Chỉ có đến thế kỷ XVIII – XIX mới có đủ điều kiện và độ chín muồi cho phép ký nở rộ và đạt đến độ viên mãn. Mở đầu cho thể ký giai đoạn này là Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề. Tác phẩm có quy mô lớn tới 43 thiên được tác giả hoàn thành vào năm 1755. Giá trị nổi bật của Công dư tiệp ký là mở ra 7 lối viết ký nhiều thiên. Tác phẩm còn nặng về tính truyện nhiều hơn ký, song ông xứng đáng là người có công lớn trong việc dấy lên trào lưu viết ký. Theo bước ông là hàng loạt tác phẩm ký sự, tùng ký, ngẫu lục, tùy bút... nối tiếp nhau xuất hiện. Trần Tiến với hai tác phẩm ký: Tiên tướng công niên phả lục và Trần Khiêm Đường niên phả lục thì ông đã đưa thể ký phát triển thêm một bước mới. Tác giả đã bám sát hiện thực, phản ánh trực tiếp những sự kiện, con người quanh ông hay của chính bản thân. Song hạn chế lớn nhất của Trần Tiến là chưa cắt đứt được mối dây ràng buộc của văn học chức năng. Hạn chế đó được Lê Hữu Trác khắc phục trong Thượng kinh ký sự. Thượng kinh ký sự (1783) là tác phẩm ký nghệ thuật đích thực đầu tiên của Việt Nam. Nó là đỉnh cao là sự hoàn thiện của ký Việt Nam thời trung đại và là mẫu mực cho lối viết ký sau này. Đến Lê Hữu Trác, thể ký văn học đích thực đã thực sự ra đời, làm đòn bẩy cho hàng loạt tác phẩm ký khác như Bắc hành tùng ký, Vũ trung tùy bút... viết Bắc hành tùng ký, Lê Quýnh một mặt đã tiếp nối thành tựu của các tác giả đi trước, một mặt làm tăng thêm dung lượng cho dòng văn học hải ngoại mà Hồ Nguyên Trừng đã đặt nền móng. Nếu như Trần Tiến, Lê Hữu Trác, Lê Quýnh... mở ra lối viết ký dài hơi, toàn tác phẩm là một thiên thì Phạm Đình Hổ mở ra lối ký đa dạng về bút pháp. Phạm Đình Hổ viết ít nhất ba tác phẩm liên quan đến ký với ba thể tài khác nhau: (Ngũ lục, tùy bút, tạp thảo) Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút, Châu phong tạp thảo. Tác phẩm của ông là sự minh chứng cho tính phong phú đa dạng của ký. Đến đây ký đã đạt tới độ viên mãn. Nhưng một biến cố lịch sử đã đẩy ký đi theo một hướng mới đó là viết bằng chữ quốc ngữ hiện đại. Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX ký có bước chuyển mới về nội dung. Nửa cuối thế kỷ XIX là điểm dừng chân cuối cùng của thể loại ký Việt Nam trung đại trong cuộc hành trình dài gần 10 thế kỷ của mình. Cũng như thể truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, ký sau khi đạt tới đỉnh cao thì đều rơi vào bế tắc. Nếu không có biến cố lịch sử - xâm lăng cướp nước của thực dân Pháp thì văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại hẳn sẽ tìm được cho mình con đường sáng, thoát khỏi bế tắc để chuyển sang một giai đoạn mới: Cận – hiện 8 đại. Ở giai đoạn này các tác phẩm của Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch là những cố gắng cuối cùng của tác giả ký thế kỷ XIX song vẫn không thể cứu vãn được sự bế tắc của ký trung đại. Như truyện ngắn và tiểu thuyết, đến đây ký kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình. Văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại nhường chỗ cho văn xuôi tự sự hiện đại Việt Nam. Suốt 10 thế kỷ trung đại, ký luôn bám sát hiện thực cuộc sống, phản ánh những vấn đề thẩm mỹ do thời đại đạt ra. Trong suốt quá trình phát triển, ký đã từng bước hoàn thiện và khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của mình trong văn xuôi Việt Nam trung đại. 2. Tính chất ký trong Nam Ông mộng lục Nam Ông mộng lục là tác phẩm văn xuôi tự sự “hải ngoại” đầu tiên của Việt Nam, giữ vị trí quan trọng trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung Đại. Tác giả là Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446), tự Mạnh Nguyên, là con cả của Hồ Quý Ly bị giặc Minh bắt làm tù binh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đầu thế kỷ XV, phải sống lưu vong ở nước ngoài. Nam Ông mộng lục gồm 31 thiên. Trong những nét đặc sắc của tác phẩm là tính chất thể loại của nó. Có thể xem Nam Ông mộng lục là một tập thiên văn xuôi đa thể loại. Người đọc có thể bắt gặp một thiên văn xuôi theo kết cấu của truyện ký, hay bắt gặp các thiên tự sự như truyện truyền kỳ, quái dị và cả những thi thoại văn học rất đặc sắc... Nguyễn Đăng Na đã đánh giá về tính chất thể loại của tác phẩm này: Nam Ông mộng lục mang ý nghĩa như một tác phẩm bản lề, với cánh bên này khép lại văn xuôi tự sự thế kỷ X – XIV và cánh bên kia mở ra phương thức sáng tác mới cho văn xuôi tự sự thế kỷ XV – XIX [9; 164]. Hồ Nguyên Trừng là người đặt nền móng cho thể ký Việt Nam thời trung đại, vừa là đại diện cho những tác giả ký thế kỷ XV – XVII. Với phương pháp “ghép” những đoạn suy tư và bình giá đối tượng mình đang phản ánh vào cuối mỗi thiên tự sự, Hồ Nguyên Trừng đã thực sự bước chân vào lãnh địa thể ký. Ông là người mở đầu cho lối viết tự sự nhiều thiên thế kỷ XV –XVII. Tính chất ký thể hiện khá rõ qua một số thiên trong Nam Ông mộng lục. “Trong lời nói việc làm, trong tài năng của người xưa có nhiều điều khả thủ, chỉ vì qua cơn 9 binh lửa, sách vở bị cháy sạch thành ra những điều đó đều bị mất mát cả, không còn ai được nghe, há chẳng đáng tiếc lắm sao? Nghĩ tới điều này, tôi thường tìm ghi những việc cũ, nhưng thấy mất mát gần hết, trong năm phần chỉ còn được một hai; bèn góp lại thành một tập sách, đặt tên là Nam Ông mộng lục, phòng khi có người đọc tới; một là để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa, hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử”...[6; 61-62]. Và người đọc dễ dàng nhận ra một đặc điểm nổi bật của Nam Ông mộng lục là tác giả hầu hết viết về những chuyện xưa, chuyện của người khác. Những câu chuyện đó có thật, sự việc có thật ông nhớ được và ghi chép lại. Tác phẩm được viết, in và lưu hành ở Trung Quốc. Song qua 31 thiên truyện chúng ta không hề thấy một dụng ý đen tối nào như chứng minh nước Nam là quận huyện của phương Bắc hay biểu dương công ơn “khai hóa” của “thiên triều” đối với người Nam. Trái lại, tác phẩm là bức tranh toàn cảnh về nước Nam, với những con người tốt đẹp, tiêu biểu cho đạo đức, phầm chất và tài năng, có thể đem ra làm gương cho độc giả phương Bắc cùng soi. Đó là những người thuộc tầng lớp khác nhau dưới triều đại nhà Lý, nhà Trần, và nhà Hồ, từ vua Trần Nghệ Tông hiếu thảo, cần kiệm hay Trần Minh Tông không tham tước vị, đến những nhà Nho cương trực như Chu Văn An, những thầy thuốc coi lương tâm hơn tính mạng như Phạm Công, cho đến những nhân vật tôn giáo đầy uy tín và tài năng như pháp sư Không Lộ hay đôi bạn cả sư lẫn đạo Giác Hải và Thông Huyền... Nam Ông mộng lục ca ngợi những ông vua hiền đức đời Trần như vua Trần Nhân Tông (làm vua những năm 1279 - 1293); Trần Minh Tông (làm vua những năm 1314 -1329); Trần Nghệ Tông (làm vua những năm 1370 – 1372)... Truyện Nghệ Vương kể về vua Nghệ Vương hiệu là Cung Định, tính tình thuần hậu, hiếu thảo, cung kính, cần kiệm, sáng suốt, học rộng kinh sử, không thích xa hoa ...“Cung Định Vương là người trung hậu, thành thực, thờ vua thờ cha chu đáo, từng chân tơ sợi tóc không ai chê trách điều gì. Giao thiệp với người thì không thân lắm, cũng không sơ lắm; Trước việc chính sự thì không có điều gì quá chê, cũng không quá khen. Hồi Minh vương qua đời, Cung Định Vương để tang ba năm, mắt không lúc nào rơi lệ. Đoạn tang, quần áo không sắm các 10 thứ tơ lụa màu mè; ăn không cần ngon; ; quả muỗn, cá hồng là những thức ăn quý ở phương Nam từ đấy tuyệt nhiên không tới miệng. Thờ Dụ vương hơn 10 năm”...[6; 64 - 65]; ...“Sau khi lên ngôi, Nghệ Vương đã nhặt hết những đứa trẻ côi cút trong đám con cháu của anh chị em mình đưa vào cung nuôi nấng, coi hệt như con cái mình đẻ ra. Người trong dòng họ xa gần đều được yêu thương đùm bọc. Sau cơn loạn lạc, người nào nghèo khổ không thể cưới xin được thì lấy vợ gả chồng cho họ; người nào chưa được chôn cất thì chôn cất cho họ; đến cả những điều vặt vãnh chi tiết, không có cái gì là không thu nhặt chép sao. Xóm giềng hòa hợp, đầm ấm như tiết mùa xuân. Người trong nhà được cảm hóa, phong tục dần dần trở nên thuần hậu. Vua ở đất này cũng có người tốt đến thế ư” [6; 70 – 71]. Nếu như trước đây người đọc tiếp nhận vẻ đẹp của các triều vua nhà Trần trên phương diện lịch sử với các chiến công lẫy lừng chống giặc ngoại xâm, những trận đánh làm nên hào khí Đông A, và qua các tác phẩm văn học bằng những lời nhận xét chung về tài, đức, tư tưởng tiến bộ của các ông vua hiền, thì đến Nam Ông mộng lục, người đọc mới thực sự chiêm ngưỡng, khám phá, phát hiện thêm những vẻ đẹp về chân dung của một con người như vua Trần Nghệ Tông. Con người ấy, vị vua ấy luôn lấy đức làm trọng, thay trời hành đạo, ban phát phúc đức cho muôn dân. Ông còn là người có tài trên lĩnh vực chính trị, tài văn chương, giỏi ngoại giao. Câu chuyện đã đem đến cho người đọc những nhận thức thật bổ ích đầy giá trị. Phụ đức minh trinh [6; 76], Văn tang khí tuyệt [6; 77], Phu thê tử tiết [6; 83], là những câu chuyện kể về những bà phi, những công chúa thật đẹp,sáng đức sáng tâm,họ hội tụ ở chử hiếu,chữ tình,chữ hạnh,chữ đức cao cả của con ngươi. Phụ đức minh trinh kể về Chính phi họ Lê của vua Trần Duệ Vương,mẹ của Linh Đức.Bà đã gọt tóc đi tu khi Duệ Vương tử trận trong một lần đem quân đi đánh Chiêm Thành năm 1377.Khi Nghệ Vương đem Linh Đức lên ngôi,bà đã từ chối thay cho con nhưng không được,bà than rằng: “Con ta phúc mỏng, khó đương nổi ngôi to, chỉ có mắc vạ thôi. Cố Chúa lìa đời,kẻ chưa mất này chỉ muốn chết cho chóng,không muốn thấy việc đời,huống chi là nhìn con ta sắp nguy khốn ư ?Bà đã dốc chí tu hành,ngày ngày tụng niệm để báo đền ơn 11 chúa.Người đời ai cũng phục phi là người sáng suốt...đến thế” [6;77]. Văn tang khí tuyệt lại kể về nàng công chúa Thiều Dương,con gái thứ của vua Trần Thái Tông. Khi nàng ở cữ thì Thái Vương ốm nặng, nhưng hầu cận đã dấu nàng rằng nhà vua đã bình phục và khỏe mạnh. Ngày Thái Vương mất, nàng không được báo tin nhưng nghe tiếng chuông đánh liên hồi thì nàng biết có chuyện chẳng lành đến với cha.Thương cha, nàng đã khóc lóc, kêu gào cho đến khi tắt thở.Phu thê tử tiết thì kể về Nguyễn Thị,một người phụ nữ coi trọng điều nghĩa, xem nhẹ cái sống, nhìn cái chết như sự trở về.Nàng là vợ Ngô Miễn, làm quan dưới triều Hồ. Khi chồng nhảy xuống nước tự tử vì Chúa, vì điều nghĩa thì nàng đã thỏa nguyện trong lòng bởi nàng cho đó là cái chết đáng chỗ, không phải oán hận gì. Chồng chết vì đạo vua tôi và nàng cũng đã chết vì nghĩa vợ chồng. “Trong số đàn bà ngu dại trên đời, những kẻ vì bực tức mà nhảy xuống nước chết nhiều lần.Đến như vì nghĩa bỏ mình, thì rất không dễ được!Hạnh như Nguyễn Thị thật đáng ca ngợi thay”. [6; 83 - 84]. Đọc Nam Ông mộng lục ta còn bắt gặp tài đức của những con người lừng danh một thời, để lại tiếng thơm muôn thuở. Với thiên thứ bảy Văn trinh ngạnh trực [6;78] chúng ta được chiêm ngưỡng sự thanh cao của một thầy giáo, một con người liêm khiết, cương trực, điềm đạm, ít ham muốn, ham sách vở, học vấn tinh thông. Chu Văn An thanh cao, nghiêm chính, nổi tiếng trong nghề dạy học, học trò theo học rất đông và ông đã đào tạo nên những người tài giỏi, đỗ đạt làm quan to. Nghệ Vương ban cho ông hiệu “Văn Trinh tiên sinh”.Thiên thứ tám Y thiện dụng tâm [6;79] cho chúng ta biết thêm một thông tin nữa về Hồ Nguyên Trừng.Tổ tiên của Hồ Nguyên Trừng vốn dòng dõi làm thuốc chữa bệnh. Nổi tiếng là Phạm Công, được vua cho giử chức thái y. Ông thường vét tiền của để tích trữ thuốc tốt và lúa gạo để giúp dân.Với những người côi cút thì cung cấp cơm gạo,với những người khổ sở bệnh tật thì chăm sóc chữa trị chu đáo. Những năm đói khát dịch bệnh lan tràn, ông đã dựng nhà cho kẻ nghèo khổ ở bởi thế mà hơn một nghìn người đói khát bệnh tật được cứu sống. Phạm Công vừa tài giỏi lại có lòng nhân đức cao cả vô bờ, đúng như danh hiệu mà người đời đã ban tặng cho ông: “lương y như từ mẫu”. Bên cạnh nhân cách 12 sống cao đẹp như Chu Văn An, Phạm Công thì còn có Lê Phụng Hiếu.Con người luôn vì nước vì dân mà đem sức mạnh thần kỳ của mình để trừ tàn bạo, giết giặc ngoại xâm đem yên bình hạnh phúc cho dân. Một con người chính trực, không màng chức tước, danh lợi, chỉ thích làm một thảo dân sống ở chốn thôn dã. Nam Ông mông lục còn ghi chép kể lại những con người thật đẹp như hai anh em họ Chúc có công lớn trong việc chỉnh đốn lại triều cương. Ngợi ca tài thơ của Trần Nguyên Đán. Ông ngoại của Nguyễn Trãi, đã làm bài thơ trung để can gián nhà vua. Ngợi ca Mạc Ký, một thi sĩ tài hoa quý khách.Rồi Hồ Tông Thốc người Diễn Châu, trẻ tuổi đã đỗ đạt cao, nổi tiếng là người có tài. Trong một đêm ông làm được một trăm bài thơ, uống trăm chén rượu, không ai địch nổi, tên ông chấn động khắp cả đô thành. Có người hỏi Hồ Nguyên Trừng rằng: “Những người ông ghi chép đều là người thiện, vậy thì trong các chuyện bình sinh ông nghe thấy lại chẳng có chuyện nào bất thiện ư?. Ông trả lời họ rằng: Chuyện thiện tôi rất mê nghe, nên có thể nhớ được; còn chuyện bất thiện thì không phải không có, chẳng qua tôi không nhớ đấy thô. Họ lại hỏi: Sách lấy tên là“mộng” ý nghĩa ở chỗ nào? Ông trả lời :Nhân vật trong sách, xưa kia rất phong phú, chỉ vì đời thay việc đổi, dấu tích hầu như không để lại, thành ra còn mỗi một mình tôi biết chuyện và kể lại mà thôi, thế không phải“mộng” là gì? Các bậc đạt nhân quân tử có thấu cho chăng? Còn“Nam Ông” là tiếng Trừng tôi gọi mình vậy!”[6;62]. Nội dung trong tác phẩm Nam Ông mộng lục thật phong phú. Tác giả kể về đạo quân thần để làm sáng tỏ cái đức đẹp của luân thường đạo lý, ghi lại lẽ hưng phế của quốc gia, dòng họ để ngợi ca tiết nghĩa tu dưỡng tâm tính, hun đúc phúc lành, khơi nguồn phong tục, những câu chuyện ấy đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như những bài học đạo đức quý báu và người đời soi vào để tự hoàn thiện mình hơn.Hồ Nguyên Trừng viết Nam Ông mộng lục nhằm một mục đích duy nhất là “ khuyến thiện”.Bởi thế con người Việt Nam trong Nam Ông mộng lục ngời lên phẩm chất cao đẹp mà thời gian hay bất cứ thứ gì cũng không thể làm vẩn đục hay bào mòn đi. II.Tính chất truyện của Nam Ông mộng lục 13 1. Đặc điểm của truyện thời trung đại Văn học trung đại Việt Nam phát triển liền mạch từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX với hàng ngàn tác giả và tác phẩm. Văn học trung đại gồm hai bộ phận: văn học chức năng và văn học nghệ thuật. Giai đoạn đầu văn học chức năng chiếm ưu thế, giữ vị trí trung tâm. Nhưng sau đó văn học nghệ thuật đã có sự chuyển biến mạnh mẽ vượt lên văn học chức năng để dành vị trí trung tâm. Dựa vào cấu trúc hình thức câu văn và cấu trúc giữa các câu văn với nhau thì văn học trung đại được chia thành hai loại lớn là văn xuôi và văn vần. Hai loại này tương ứng với hai phương thức phản ánh cuộc sống mà Arixtôle đã chỉ ra: tự sự và trữ tình. Và trong văn học Việt Nam thời trung đại thì có hai loại hình tự sự, đó là tự sự và bằng thơ và tự sự bằng văn xuôi. Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại là một bộ phận cấu thành văn học dân tộc, phản ánh trình độ tư duy nghệ thuật của người Việt Nam thời trung đại. Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam hầu hết được viết bằng chữ Hán nhưng chúng phản ánh khá chân thật, sinh động đời sống và những ước mơ, nguyện vọng, tâm tư tình cảm của người Việt. Có những trang thấm đẫm nước mắt với nững số phận bi thương, có những trang lại hoành tráng với khí thế vũ bão đánh tan mọi thế lực bạo tàn, xâm lược. Cùng với ký và tiểu thuyết chương hồi, truyện ngắn cũng nằm trong sự phát triển chung của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại nhưng mang những đặc thù riêng. Và riêng phần này chúng tôi trình bày phần khảo sát về đặc điểm của truyện ngắn trung đại qua bốn giai đoạn phát triển. Thế kỷ X- XIV là giai đoạn truyện ngắn lấy văn học dân gian và văn học chức năng làm cơ sở. Đặc điểm của giai đoạn này là truyện ngắn chưa tách khỏi văn học dân gian và văn học chức năng. Tác phẩm giai đoạn này gồm hai loại chính: loại thứ nhất là truyện dân gian (ghi chép, sưu tầm...truyện dân gian) và truyện lịch sử dân tộc, truyện lịch sử tôn giáo (gồm các phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng...) Tác phẩm tiêu biểu: Ngoại sử ký của Đỗ Thiên Thiện, Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu; truyện lịch sử tôn giáo (ghi chép truyện dân gian), gồm Báo cực 14 truyện (khuyết danh), Việt điện u linh tập (Lý Tế Xuyên)... Trên thực tế hai loại này có sự đan xen vào nhau, khó tách bạch rạch ròi, vì thế sự phân loại đó mang tính tương đối. Về nội dung nổi bật, truyện ngắn thế kỉ X- XIV chủ yếu tập trung vào việc khẳng định nước Việt là một quốc gia độc lập, có lịch sử lâu đời, có lãnh thổ và có tương lai trường tồn. Về nghệ thuật thì truyện ngắn giai đoạn này thường sử dụng các mô-típ dân gian như “thụ thai thần kỳ” ( có thai do ướm vết chân trong truyện Đổng Thiên Vương hay do mặt trời rọi vào bụng, hay hoa sen mọc từ bụng...); “chết kỳ lạ” (chết rồi hóa đá, hóa cây hay ngồi thành thần hoặc ngồi kiết già như trong truyện Tân lang, Man nương...); “lên trời” (Đổng Thiên Vương)... Mô-típ nghệ thuật đó là cơ sở cho sự ra đời loại hình truyện ngắn ở giai đoạn tiếp theo, nhất là loại truyện ngắn truyền kỳ. Thế kỉ X- XIV còn mở đầu cho hai dòng tự sự viết về nhân vật lịch sử và viết về chuyện “quái”, “dị”, “u linh”... Hai dòng tự sự đó đã xuyên suốt hành trình văn xuôi Việt Nam. Mặc dù chưa bứt ra khỏi văn học dân gian và văn học chức năng nhưng truyện ngắn thế kỉ X- XIV lại giữ vị trí rất quan trọng trong việc đặt nền móng về nội dung và phương thức tư duy nghệ thuật cho văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại nói riêng và cho truyện văn xuôi cận- hiện đại nói chung. Bước sang giai đoạn thứ hai, thế kỉ XV- XVII, truyện ngắn có những bước đột khởi mới mẻ. Đặc điểm của giai đoạn này là văn xuôi tự sự đã thoát li mối ràng buộc của văn học dân gian và văn học chức năng, tự sáng tạo ra loại hình truyện ngắn văn học. Loại truyện ngắn đó vừa mang sắc thái của dân tộc, vừa phản ánh rất sinh động cuộc sống đời thường. Tiêu biểu cho thành tựu truyện ngắn giai đoạn này là Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông) và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Ngoài hai tác phẩm kể trên, trong loại hình truyện ngắn giai đoạn này còn có Thiên Nam vân lục liệt truyện của Nguyễn Hãng, Nam Xửng tử quái truyện (Khuyết danh), Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng... Có thể nói thế kỉ XV- XVII là thế kỉ của truyện ngắn truyền kỳ. Với Thánh Tông di thảo, đặc biệt là Truyền kỳ mạn lục thì văn xuôi tự sự đã thực sự đi vào quỹ đạo nghệ thuật- văn học lấy con người làm đối tượng trung tâm phản ánh. Khi lấy con người làm đối tượng trung tâm phản ánh của nghệ thuật. 15 Lê Thánh Tông cũng như Nguyễn Dữ đã phát hiện ra sức mạnh của con người. Và không chỉ phát hiện ra con người có sức mạnh vô biên mà Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ còn dành nhiều tâm huyết viết về những kiếp lầm than, đặc biệt là những người phụ nữ sống trong xã hội bây giờ. Truyện ngắn thế kỉ XV- XVII là bức tranh muôn màu của cuộc sống, có khi là một màu bi thương, có khi là một gam màu huyền diệu của tình yêu với đủ mùi hương vị, ngọt ngào, dắng cay, nồng nàn... Và sẽ là thiếu khuyết nếu bỏ qua một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn ở giai đoạn này, đó là sự đan xen giữa văn xuôi và thơ... Hầu như truyện nào của Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ cũng đều có một vài bài thơ, từ, ca, hành... Đó là hình thức dung hòa giữa phương thức tự sự và trữ tình. Và đến giai đoạn thứ ba, từ thế kỉ XVIII- giữa thế kỉ XIX là giai đoạn mà truyện ngắn có nhiều cách tân. Giai đoạn này không chỉ truyện ngắn mà ký và tiểu thuyết chương hồi đều được hoàn thiện. Thế kỉ XVIII- giữa XIX là giai đoạn lịch sử đầy biến cố và bão táp. Cùng với văn học trung đại, văn xuôi tự sự có những biến đổi lớn để thục hiện sứ mệnh của mình là đáp ứng nhu cầu của thời đại, phục vụ thời đại. Văn xuôi tự sự giai đoạn này có bước chuyển mới, nó như ống kính vạn năng phản chiếu tất cả những điều xảy ra trong cuộc sống, phản ánh tức thời, trực tiếp, chân thực những gì chụp được. Quan điểm “văn dĩ tải đạo” hay “thi ngôn chí” bị đẩy lùi để nhường chỗ cho quan điểm viết về những “sở văn”, “sở kiến”. Đó là lí do vì sao các tác giả như Đoàn Thị Điểm, Phạm Quý Thích... muốn “cách tân” loại truyện ngắn truyền kỳ. Sự “cách tân” truyện ngắn truyền kỳ của các tác gia thế kỉ XVIII- giữa XIX là một tiến bộ song đối với nghệ thuật truyện kí lại là một “thảm họa”. Bởi đặc trưng của truyện kí là đưa người đọc bay vào thế giới huyền ảo trong khi đó sự “cách tân” lại đòi hỏi sự trung thành với người thực, việc thực, đời thực. Vì thế mà Vũ Trinh không gọi tác phẩm của mình bằng cái tên “truyền kỳ” nữa mà ông gọi thẳng là “kiến văn”: Lan Trì kiến văn lục (Truyện về những điều mắt thấy tai nghe của Lan Trì). Như vậy truyện truyền kỳ có nguy cơ rơi vào bế tắc, khủng hoảng và để khắc phục tình trạng đó, các tác giả Vũ Trinh, Phạm Quý Thích, Cao Bá Quát, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn... đã chuyển sang sáng tác các 16 truyện “người thật việc thật” hay truyện “truyền kỳ về người thật việc thật” và truyện ngụ ngôn để thay thế truyện ngắn truyền kỳ. Truyện ngắn thế kỉ XVIIIgiữa XIX vừa được các tác giả kéo ra khỏi ngõ cụt thì lịch sử dân tộc lại vấp phải một biến cố mới. Văn xuôi tự sự nói chung, truyện ngắn nói riêng vì thế cũng bị cuốn theo hướng khác. Nửa cuối thế kỉ XIX là giai đoạn chuyển giao giữa truyện ngắn trung đại với truyện ngắn cận- hiện đại. Thực dân Pháp đổ bộ vào xâm lược nước ta. Trong bối cảnh lịch sử đó thì chữ Nôm và chữ Hán không còn đáp ứng kịp thời cho sáng tác văn học mới. Trong khi đó văn học viết chữ Quốc ngữ xuất hiện trên văn đàn. Bốn chặng đường với 10 thế kỉ, truyện ngắn Việt Nam thời trung đại đã tiến gần đến chủ nghĩa hiện thực. Văn xuôi tự sự cũng như truyện ngắn nói riêng, văn học trung đại Việt Nam nói chung đến đây kết thúc vai trò lịch sử của mình. 2. Tính chất truyện trong Nam Ông mộng lục Nam Ông mộng lục gồm 31 thiên. Đó là tác phẩm có nhiều đoản thiên, có thiên có tính chất truyền kỳ, chí dị, chí quái, giai thoại; có thiên lại là những thi thoại. Đặc biệt có thiên mang dáng dấp của những truyện ngắn. Viết truyện ngắn đã là một thử thách lớn đối với các tác giả. Thực sự nó không dễ dàng gì, bởi truyện ngắn không cho phép có một hệ thống nhân vật đồ sộ, một không gian rộng lớn, thời gian dài như trong truyện vừa và tiểu thuyết. Vì vậy, viết truyện thật ngắn lại càng khó hơn. Cái khó của loại hình này không phải chỉ ở chỗ người viết phải biết “gò nén” ngôn từ, “ép chặt” sự kiện, “sàng lọc” hiện thực mà ở chỗ người cầm bút phải biết chọn khoảnh khắc đời người nhân vật sao cho vào thời điểm ấy, tính cách của họ hiện lên sinh động, rõ ràng và mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, nhưng đặc biệt người đọc không cảm thấy có một sự dàn dựng chủ ý nào của tác giả. Đúng như Bùi Hiển đã nói: Truyện ngắn có khi lấy một khoảnh khắc trong đời một con người mà dựng lên. Có khi nhân vật đặt trước một vấn đề phải băn khoăn, suy nghĩ, lựa chọn, quyết định. Có khi chỉ là một cảnh sống, làm việc bình thường trong đó 17 nhân vật biểu lộ ý chí tình cảm của mình. Có khi có những hành động mãnh liệt, những tình tiết éo le. Có khi chỉ là một tâm trạng, một nỗi vui buồn, một ý tình chớm nở. [9; 292]. Và cái đặc tài của những cây bút truyện ngắn, đặc biệt là truyện rất ngắn là họ luôn chớp lấy được những khoảnh khắc ấy- những giây phút điển hình nhất, những giây phút nhân vật thể hiện đầy đủ nhất tư tưởng, tính cách của mình. Song chỉ riêng chừng ấy thôi thì chưa đủ để làm nên giá trị trường tồn cho một tác phẩm. Một tác phẩm có giá trị phải là một tác phẩm mà trong lòng nó luôn đặt ra những vấn đề triết ký nhân sinh về cuộc sống con người. Hồ Nguyên Trừng đã làm được điều đó. Ông đã thành công khi thổi hồn vào tác phẩm của mình để tạo nên một giá trị bất hủ. Đó là lí do vì sao mà tác phẩm Nam Ông mộng lục- một tác phẩm ra đời cách chúng ta gần sáu thế kỉ (571 năm) trở về trước đến giờ vẫn được độc giả dành cho sự ưu ái đặc biệt. Tính chất truyện của Nam Ông mộng lục là viết về nhân vật có thật. Một trong những thiên tiêu biểu cho tính chất đó là: Văn tang khí tuyệt (Nghe tang tắt thở): Con gái Trần Thái Vương hiệu Thiều Dương. Khi bà đang ở cữ, Thái Vương không được khỏe đã một tháng. Nhiều lần bà sai người đến thăm hỏi nhưng những người hầu cận nói dối rằng: - Vua đã bình phục rồi, không việc gì nữa. Đến ngày Thái Vương lìa đời, bà bỗng nghe tiếng chuông đánh liên hối, bèn hỏi: - Có phải là việc chẳng lành chăng? Những người hầu cận lại nói dối nhưng bà không nghe, cứ khóc lóc kêu gào cho đến khi tắt thở, nhắm mắt mà mất.[ 6; 77]. Truyện có nội dung giản dị, tình tiết không phức tạp nhưng chân dung công chúa Thiều Dương (con thứ Trần Thái Tông) hiện ra rất rõ nét: một người con có hiếu, yêu thương cha hết lòng. Nàng là một điển hình mẫu mực cho tình yêu thương và lòng hiếu thảo. Tác giả chỉ chọn một khoảnh khắc cuộc đời nhân vật: cha ốm trong lúc con đang ở cữ. Lo lắng cho cha, nhiều lần con sai người đến hỏi thăm sức khỏe của cha nhưng họ đều nói dối rằng cha đã khỏe. Nghe tiếng chuông biết tin cha mất, con khóc gào đến tắt thở. Như vậy sự kiện chỉ là cái cớ để nhân vật tự bộc lộ lời nói, cử 18 chỉ, hành động. Đó chính là mục đích, là ý nghĩa nhân sinh trong truyện Văn tang khí tuyệt của Hồ Nguyên Trừng. Tuy nhiên so với truyện ngắn “mi-ni” ngày nay thì truyện của Hồ Nguyên Trừng có khác biệt. Truyện ngắn ngày nay viết theo phương thức hiện đại, còn truyện của Hồ Nguyên Trừng nằm trong phạm trù tư duy trung đại. Tác giả cũng đã ghi chép những sự việc có thật của những con người con người có thật trong lịch sử và những chân dung ấy lại được kí họa trong nhiều hình thức một truyện ngắn, rất ngắn. Những truyện ngắn ấy có khi lại được biểu hiện như là những giai thoại xoay quanh những nhân vật nổi tiếng như giai thoại thầy thuốc với nhân vật Phạm Công trong Y thiện dụng tâm ( thầy thuốc có lòng nhân từ); giai thoại về nhà giáo với nhân vật Chu Văn An trong Văn trinh ngạnh trực (Văn trinh cứng cỏi và ngay thẳng); giai thoại nhà sư với nhân vật Giác Hải, Thông Huyền trong Tăng đạo thần thông ( Phếp thần thông của tăng đạo), hay giai thoại văn học... Rõ ràng, ranh giới giữa ký và truyện trong sáng tác của Hồ Nguyên Trừng chưa rạch ròi. Biên giới mờ mỏng ấy không phải là một hiện tượng cá biệt trong sáng tác của Hồ Nguyên Trừng mà chính là sự hỗn dung phổ biến trong tất cả các tác phẩm văn học trung đại giai đoạn này. Đó cũng chính là điểm khác biệt của truyện ngắn Hồ Nguyên Trừng với truyện ngắn “mi-ni” hiện đại ngày nay. Nhưng dù khác nhau như vậy nhưng Hồ Nguyên Trừng vẫn là người mở đầu cho lối viết truyện rất ngắn ở Việt Nam. III. Tính chất thi thoại của Nam Ông mộng lục 1. Khái niệm thi thoại Thể loại thi thoại xuất hiện sớm ở Trung Quốc. Người ta bắt đầu biết đến thể loại này khi Lục Nhất thi thoại của Âu Dương Tu (1007- 1072) ra đời. Thể loại đó phát triển cho đến thời cận đại Trung Quốc, với Ẩm Băng Thất thi thoại của Lương Khải Siêu (1873- 1929). Thể loại thi thoại đã thực sự nở rộ ở đất nước này, tạo thành một truyền thống thẩm bình thi ca hùng hậu. Chỉ riêng ở đời Tống thôi mà đã có trên 142 tập thi thoại khác nhau. Điều đó cho thấy Trung Quốc là một đất nước có bề dày lịch sử về văn hóa văn học, thể loại văn học đa dạng phong phú. Ở Việt Nam cũng có một số người viết theo thể loại 19 này, song nhìn chung không nhiều, chỉ là con số khiêm tốn. Chúng ta có thể bắt gặp thể loại này ở Thương Sơn thi thoại của Tùng Thiện Vương, Chương Dân thi thoại của Phan Khôi, Úc Viên thi thoại của Đông Hồ, Trường Xuyên thi thoại của Quách Tấn hay Chuyện thơ của Hoài Thanh... Mục Sổ tay người yêu thơ trên báo thực chất cũng là một thứ thi thoại. Nói đến thể loại này thì không thể không nhắc đến Hồ Nguyên Trừng, một nhà quân sự tài ba, một tài năng văn chương đặc sắc của nhà Hồ, tác giả của Nam Ông mộng lục . Có thể nói, người đầu tiên viết thi thoại ở Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng. Và cũng có thể thấy rằng thể loại thi thoại của nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống thi thoại Trung Hoa. Thi thoại là thể loại phê bình thơ mang tính chất tùy bút, “nhàn đàm” về thơ. Chu Ngạn thi thoại (Nam Tống) viết: “ Thi thoại là thể loại chuyên phân định cách viết câu thơ, tập hợp tài liệu cổ kim, ghi nhận đức độ, chép lại chuyện lạ, đính chính những chỗ sai lầm”. Thể loại này cho phép nhà bình thơ có thể bình luận tự do, không gò bó vào một khuôn khổ nào, từ thẩm bình một câu, một chữ, đến bàn luận một vấn đề hệ trọng của văn học, dài ngắn tùy ý. 2. Những thi thoại trong Nam Ông mộng lục Trong Nam Ông mộng lục, người đọc không chỉ bắt gặp những thiên văn xuôi theo kết cấu của truyện kí, những thiên tự sự như là những truyện truyền kỳ, quái, dị, những giai thoại về cuộc sống, về nhà vua, nhà sư, thầy thuốc, đạo sĩ... mà chúng ta còn bắt gặp những thiên mang tính chất như là những thi thoại văn học. Thể loại thi thoại trước Hồ Nguyên Trừng chưa hề xuất hiện và sau ông cũng không có nhiều người quan tâm. Có thể nói người mở đầu cho thể tài thi thoại Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng. Trong Nam Ông mộng lục, ông đã dành cho thể này 13/31 thiên, chiếm tỉ lệ gần 42%, một con số không nhỏ chút nào. Nhân vật của các thi thoại của Hồ Nguyên Trừng đủ mọi tầng lớp, có người làm vua (như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông), có người làm quan (như Trần Nguyên Đán), có người thuần túy là Nho sĩ (như Ái Sơn, Sầm Lâu). Và đặc biệt trong số đó có người xuất thân trong quân ngũ (như Phạm Ngũ Lão, 20
- Xem thêm -