Tài liệu Giá trị liên kết của từ nối theo phạm trù tương phản - nhượng bộ (qua truyện ngắn của nam cao, nguyễn minh châu, nguyễn ngọc tư)

  • Số trang: 141 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 69 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ THU GIÁ TRỊ LIÊN KẾT CỦA TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƢƠNG PHẢN - NHƢỢNG BỘ (QUA TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO, NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN NGỌC TƢ) LUẬN VĂ THÁI NGUYÊN - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ THU GIÁ TRỊ LIÊN KẾT CỦA TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƢƠNG PHẢN - NHƢỢNG BỘ (QUA TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO, NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN NGỌC TƢ) Mã số: 60.22.01.02 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Tình THÁI NGUYÊN - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào ./. Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i http://www.lrc-tnu.edu.vn/ LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập khóa học đào tạo Thạc sĩ tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các thày, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thày, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS Phạm Văn Tình – người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này ./. Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ii http://www.lrc-tnu.edu.vn/ MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan .......................................................................................................... i Lời cảm ơn .............................................................................................................ii Mục lục .................................................................................................................iii Danh mục các bảng............................................................................................... iv PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1. Lí do chọn đề tài ................................................................................ 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................... 3. Lịch sử vấn đề ................................................................................... 3.1. Ngoài nước ................................................................................... 3.2. Trong nước................................................................................... 4. Mục đích, và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................... 4.1. Mục đích nghiên cứu................................................................... 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................... 6. Đóng góp của luận văn ................................................................... 7. Cấu trúc luận văn ........................................................................... Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT ................................................................. 1.1. Khái quát về ngữ pháp văn bản ................................................. 1.1.1. Văn bản ............................................................................... 1.1.2. Diễn ngôn ........................................................................... 1.2. Liên kết văn bản ......................................................................... 1.2.1. Liên kết................................................................................ 1.2.2. Lịch sử nghiên cứu ngoài nước ........................................ 1.2.3. Lịch sử nghiên cứu trong nước ......................................... 1.2.4. Phương tiện liên kết và phương thức liên kết................... 1.2.5. Liên kết logic và liên kết ngữ nghĩa .................................. 1.2.5.1. Liên kết logic ........................................................... 1.2.5.2. Liên kết ngữ nghĩa................................................... 1.3. Phép nối trong hệ thống các phép liên kết văn bản ................. 1.3.1. Khái quát về một số phép liên kết văn bản ...................... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iii http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1 1 3 3 3 4 5 5 5 6 7 7 8 8 8 9 9 9 10 13 14 15 15 19 19 20 1.3.1.1. Phép quy chiếu ........................................................ 1.3.1.2. Phép thế................................................................... 1.3.1.3. Phép tỉnh lược ......................................................... 1.3.1.4. Phép liên kết từ vựng .............................................. 1.3.2. Phép nối ............................................................................. 1.4. Các từ nối thuộc phạm trù Tƣơng phản - Nhƣợng bộ ............ 1.5. Vài nét về tác giả Nam Cao, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Ngọc Tƣ ........................................................................................ 1.5.1. Nam Cao .......................................................................... 1.5.2. Nguyễn Minh Châu ......................................................... 1.5.3. Nguyễn Ngọc Tư............................................................. 1.6. Tiểu kết ......................................................................................... Chƣơng 2: KHẢO SÁT VỀ TÍNH LIÊN KẾT CỦA NHÓM TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƢƠNG PHẢN - NHƢỢNG BỘ ............................. 2.1. Mở đầu.......................................................................................... 2.2. Tổng quát về số lƣợt các từ nối theo phạm trù Tƣơng phản Nhƣợng bộ đƣợc các tác giả sử dụng ........................................ 2.3. Các từ nối và hình thức liên kết ................................................. 2.3.1. Vị trí của từ nối trong các phát ngôn ................................ 2.3.2. Số lượng phát ngôn có từ nối chi phối .............................. 2.4. Liên kết ngữ nghĩa của từ nối theo phạm trù Tƣơng phản Nhƣợng bộ ................................................................................... 2.4.1. Từ nối “Nhưng” ................................................................. 2.4.2. Từ nối “Thế nhưng” .......................................................... 2.4.3. Từ nối “Tuy” ...................................................................... 2.4.4. Từ nối “Tuy vậy” ................................................................ 2.4.5. Từ nối “Mặc dầu vậy”........................................................ 2.4.6. Từ nối “Thế mà” ................................................................ 2.4.7. Từ nối “Vậy mà” ............................................................... 2.5. Tiểu kết ......................................................................................... Chƣơng 3: GIÁ TRỊ LIÊN KẾT CỦA TỪ NỐI THEO PHẠM TRÙ TƢƠNG PHẢN - NHƢỢNG BỘ (QUA TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO, NGUYỄN MINH CHÂU VÀ NGUYỄN NGỌC TƢ) .................... 3.1. Mở đầu.......................................................................................... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iv http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 20 22 23 23 25 28 28 28 29 31 32 33 33 34 35 35 35 53 55 56 57 59 61 62 63 64 66 66 3.2. Giá trị liên kết của từ nối theo phạm trù Tƣơng phản - Nhƣợng bộ qua các truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tƣ......................................................................................... 3.2.1. Giá trị liên kết cấu trúc ...................................................... 3.2.1.1. Tạo giá trị lập luận cho văn bản ............................. 3.2.1.2. Mở rộng phạm vi liên kết ........................................ 3.2.2. Giá trị liên kết ngữ nghĩa ................................................... 3.2.2.1. Tạo một hướng triển khai diễn đạt ngữ nghĩa ....... 3.2.2.2. Tạo sự suy luận và hàm ý ........................................ 3.3. Cách thức sử dụng và phong cách của tác giả .......................... 3.3.1. Cách thức sử dụng ............................................................. 3.3.2. Phong cách tác giả ............................................................. 3.4. Tiểu kết ......................................................................................... KẾT LUẬN.................................................................................................... TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ NGUỒN XUẤT XỨ TƢ LIỆU .................................................................... PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu v http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 66 66 66 71 77 77 81 85 85 88 93 94 97 100 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Bảng thống kê các từ nối theo phạm trù Tương phản Nhượng bộ của 3 tác giả: Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư Trang 34 Bảng 2.2. Bảng thống kê số lượng phát ngôn có từ nối chi phối trong sáng tác của Nam Cao Trang 36 Bảng 2.3. Bảng thống kê số lượng phát ngôn có từ nối chi phối trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu Trang 42 Bảng 2.4. Bảng thống kê số lượng phát ngôn có từ nối chi phối trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Trang 47 Bảng 2.5. Bảng thống kê các từ nối theo phạm trù Tương phản Nhượng bộ trong các sáng tác của 3 tác giả: Nam Cao, Nguyễn Trang 54 Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iv http://www.lrc-tnu.edu.vn/ PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Thông thường chúng ta giao tiếp với nhau không phải bằng một câu hoặc những câu rời rạc mà bằng những câu có liên quan với nhau. Từ những năm 50 của thế kỉ trước, chuyên ngành Ngôn ngữ học đã bằng lòng coi câu là đơn vị cao nhất, hoàn chỉnh nhất, không có đơn vị nào có cấp bậc cao hơn câu kể cả các nhóm câu kết hợp lại với nhau. Nhà ngôn ngữ học Pháp E.Benveniste đã khẳng định: “Nhóm các câu không tạo nên một đơn vị bậc cao hơn so với câu. Cấp độ ngôn ngữ nằm trên cấp độ vị từ (tức cấp độ câu- TNT) là không có”. Và cứ theo quan niệm như trên, một thời gian dài các nhà nghiên cứu ngữ pháp chỉ dừng lại ở giới hạn câu. Thế nhưng khi đi vào sử dụng, quan niệm cho rằng, câu là đơn vị cao nhất đã bộc lộ nhiều hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu của lí luận, thực tiễn và gây ra nhiều tranh cãi. Để khắc phục được nhược điểm này, một bộ môn mới nghiên cứu các đơn vị trên câu đã ra đời đó là: Ngôn ngữ học văn bản. Văn bản hoàn toàn không phải là một phép cộng đơn thuần của các câu có nghĩa mà giữa chúng phải có sợi dây liên hệ chặt chẽ tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trọn vẹn, rõ ràng, mạch lạc. Vì vậy, đối với mỗi một văn bản phương tiện liên kết là nhân tố quan trọng, đồng thời là yêu cầu bắt buộc. Để tạo thành văn bản liên kết, các câu trong đó phải gắn bó với nhau theo một nguyên tắc nhất định và theo những phương thức nhất định. Có rất nhiều phép liên kết được thể hiện trong văn bản (phép lặp, phép thế, phép đối, phép nối, phép tỉnh lược, phép liên tưởng…). Trong đó, các từ (và cụm từ) nối là những phương tiện quan trọng chỉ ra một cách tường minh mối liên hệ giữa các phát ngôn trên văn bản. Qua thống kê, trong tiếng Việt có gần 100 đơn vị từ nối theo các phạm trù: Hợp - Tuyển, Không gian – Thời gian, Tương phản Nhượng bộ, Giả thiết - Nguyên nhân, Khái quát - Cụ thể… Trong luận văn này, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ chúng tôi muốn đi sâu khảo sát giá trị liên kết và qua đó tìm ra giá trị ngữ nghĩa của từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ. Phép nối là phép liên kết dùng các phương tiện nối để tạo nên mối liên hệ trên văn bản. Phương tiện đó có thể là từ, cụm từ, đoạn văn. Ở đây chúng tôi chỉ xem xét dạng thể hiện của phép nối bằng các phương tiện được biểu thị bằng từ và cụm từ. Qua hệ Tương phản - Nhượng bộ được hiểu là quan hệ theo một cặp phạm trù đối lập nhau. Đây là phép liên kết phổ biến trong logic, biểu hiện một mặt của tư duy. Quan hệ Tương phản - Nhượng bộ trong ngôn ngữ thường được biểu thị bằng các từ nối như: Nhưng, Song, Trái lại, Ngược lại, Tuy vậy, Tuy nhiên, Mặc dù, Mặt khác, Dẫu, Dẫu sao… Giữa các vế trong một câu và giữa các câu trong một văn bản không chỉ tồn tại mối quan hệ đơn thuần về logic, về cấu trúc, mà chúng còn được gắn kết với nhau bằng các quan hệ ngữ nghĩa. Đó mới chính là nhân tố căn bản quyết định mối liên hệ giữa các phát ngôn. Hiện nay, liên kết logic nói chung mới chỉ được đề cập đến trong một vài công trình nghiên cứu, như “Hệ thống liên kết văn bản trong tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm; “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt”; “Văn bản, mạch lạc, liên kết đoạn văn” của Diệp Quang Ban… Tuy vậy, những công trình này mới chỉ dừng lại ở chỗ giới thiệu nét khái quát nhất chứ chưa đi vào nghiên cứu cụ thể, toàn diện tất cả vai trò, hoạt động của những từ nối làm phương tiện liên kết. Trong tiếng Việt, từ trước đến nay, từ (hay cụm từ) được dùng làm từ nối đã được nghiên cứu khá sâu trên phương diện ngữ pháp. Nhưng trên phương diện ngữ dụng lại chưa được quan tâm nhiều. Chỉ mới mười lăm năm trở lại đây, khi mà dụng học được khẳng định và tỏ ra là một địa hạt hiệu quả trong việc giải thích những hiện tượng ngôn ngữ trong hoạt động tương tác ngôn từ thì người ta mới chú ý nhiều tới nhân tố dụng ngôn của nhóm từ này. Có thể kể đến những tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Châu, Bùi Minh Toán, Nguyễn Văn Hiệp… đã có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu vấn đề này. Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: Giá trị liên kết của từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ (qua truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư) để đi sâu, tìm hiểu giá trị liên kết logic và liên kết ngữ nghĩa của các từ nối thuộc phạm trù Tương phản - Nhượng bộ trên cơ sở nguồn tư liệu là tác phẩm của các nhà văn: Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư. 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi là một đề tài luận văn cao học, chúng tôi lựa chọn từ nối thuộc phạm trù Tương phản - Nhượng bộ để nghiên cứu. "Tương phản" là chỉ sự vật có tính chất khác biệt, trái ngược nhau. Còn "Nhượng bộ" là có sự nhún nhường, điều chỉnh thực tế sao cho thích hợp với hoàn cảnh. "Tương phản Nhượng bộ" ở đây chỉ một phạm trù ngữ nghĩa chung của nhóm từ nối: Nhưng, Song, Trái lại, Ngược lại, Tuy vậy, Tuy nhiên, Mặc dù, Mặt khác, Dẫu, Dẫu sao… nhằm hướng tới một cách diễn đạt ngữ nghĩa theo ý đồ giao tiếp của người nói. Vấn đề này nằm trong phạm vi giao tiếp liên phát ngôn. Những tác phẩm mà chúng tôi chọn lựa để làm cứ liệu khảo sát là các truyện ngắn của ba nhà văn tiêu biểu cho ba giai đoạn văn học khác nhau, đó là: Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư. 3. Lịch sử vấn đề 3.1. Ngoài nước Năm 1976, nhà xuất bản Lodon và New York đã cho ra đời quyển “Cohesion in English”- “Phép liên kết trong tiếng Anh” của M.A.K Halliday và Ruquaiya Hassan. Đây có thể xem là công trình đầu tiên đánh dấu lịch sử nghiên cứu về phép nối. Đến năm 1998, ấn bản lần 2 của của M.A.K Halliday về “An introduction to Funtional Grammer” - Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Hoàng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Văn Vân dịch) [13]. Trên cơ sở công trình thứ nhất năm 1976, Halliday tiến hành bổ sung và sửa chữa những vấn đề có liên quan, đặc biệt là về liên kết. Công trình này trình bày và phân tích khá kĩ về khái niệm Cú (Clause) và xem Cú là khái niệm cơ sở để soi sáng các góc độ khác của văn bản. Đây là công trình được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao và được xem là nền tảng khi nghiên cứu văn bản nói chung và phép nối nói riêng. Năm 2008, công trình bằng tiếng Anh của David Nunan “Introduction Discourse Analysis” - “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” được hai dịch giả Hồ Mỹ Huyền và Trúc Thanh dịch [23]. Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến vấn đề liên kết, trong đó có phép nối. Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra bốn loại quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu trong phép nối, đó là: nghịch đối, bổ sung, thời gian và nguyên nhân. Những lí thuyết của công trình này có thể được xem là cơ sở lí thuyết nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối trong tiếng Việt. 3.2. Trong nước Năm 1980, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội đã ra mắt cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” của Hoàng Trọng Phiến [26]. Đây được xem là cơ sở để xem xét các quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối sau này. Năm 1985, công trình của Trần Ngọc Thêm “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” [36] đã được công bố đánh dấu bước phát triển mới của việc nghiên cứu văn bản nói chung và phép nối nói riêng. Công trình đã đề cập đến khái niệm “liên kết văn bản” và bước đầu phân tích “các phương thức liên kết giữa các phát ngôn”. Trong đó, dựa trên các loại phát ngôn, tác giả đã chia phép liên kết thành hai loại cơ bản: phép nối lỏng và phép nối chặt. Năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục ra mắt công trình “Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt” của Nguyễn Thị Việt Thanh [33].Trong đó, tác giả đã chia liên kết lời nói thành hai phương thức: ngữ kết học và ngữ dụng học. Phương thức ngữ kết học lại được chia thành ba tiểu loại: liên kết duy trì chủ đề, liên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ kết phát triển chủ đề và liên kết logic. Trong đó, phép nối thuộc phương thức liên kết logic. Năm 2006, quyển “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt: Văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn” của Diệp Quang Ban được tái bản lần thứ 3 [3]. Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến phép liên kết, trong đó có phép nối. Tác giả Diệp Quang Ban đã chia phép nối thành hai loại cơ bản: phép nối lỏng và phép nối chặt. Năm 2007, Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt Ngữ” [15, tr. 35] đã chia phép nối thành bốn loại theo quan hệ ngữ nghĩa của chúng: đồng hướng, ngược hướng, nhân quả và thời gian - trình tự. Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến liên kết hồi chỉ và liên kết khứ chỉ. Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn đề liên kết trong luận văn của mình: Phan Thu Trang (2001), Dương Thị Bích Hạnh (2003), Phan Thị Thu Hà (2004), Vũ Thị Thu Hương ( 2012)… Các luận văn này đề cập tới phép nối hoặc phép liên kết từ vựng trên những nguồn tư liệu khác nhau. 4. Mục đích, và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Thông qua việc tìm hiểu giá trị liên kết của từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ qua truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư, sẽ thấy được vai trò, giá trị của việc sử dụng từ nối theo phạm trù này dưới góc nhìn của ngôn ngữ học văn bản. Đồng thời, thấy được những nét đặc sắc trong cách sử dụng từ ngữ và phong cách của mỗi nhà văn. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn xác định một số nhiệm vụ chính phải thực hiện sau đây: - Nghiên cứu, trình bày một số vấn đề lí thuyết về Ngôn ngữ học văn bản được chọn làm căn cứ lí luận cho luận văn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ - Thống kê, phân loại các từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ và vị trí từ nối xuất hiện chi phối các phát ngôn trong truyện ngắn của các tác giả Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư. - Miêu tả những đặc điểm cơ bản của các từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ trong các truyện ngắn của ba tác giả (về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa). Giá trị liên kết của các từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ trong việc thể hiện nội dung tác phẩm và thể hiện phong cách nhà văn. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện được các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau: - Phương pháp thống kê phân loại: Luận văn sử dụng phương pháp này để thu thập các đoạn văn, các câu có chứa các từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ. - Phương pháp so sánh đối chiếu: chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau trong cách sử dụng, mục đích sử dụng từ nối theo phạm trù Tương phản Nhượng bộ của tác giả. - Phương pháp phân tích logic ngữ nghĩa: Chúng tôi nghiên cứu các từ nối thuộc phạm trù Tương phản - Nhượng bộ thông qua những biểu thức logic của chúng. Từ những biểu thức logic này, chúng tôi sẽ phân tích phạm vi hoạt động và chức năng của các từ nối này trong vai trò là tác tử logic. - Phương pháp phân tích diễn ngôn: Khi dùng ngôn ngữ để giao tiếp, người ta thường nói ra những câu, những phát ngôn, chứ không phải nói ra những từ rời rạc. Tại đó, các từ kết hợp với nhau theo những quy tắc và chuẩn mực của ngôn ngữ. Cũng trong câu hoặc phát ngôn cụ thể, người ta mới biết được rằng: tại trường hợp, hoàn cảnh cụ thể này, từ có nghĩa gì (tức là nó bộc lộ nghĩa nào trong số các nghĩa của nó). Do vậy, chúng tôi sử dụng phương pháp diễn ngôn để đặt cách phát ngôn vào những ngữ cảnh cụ thể của nó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Đề tài của chúng tôi sử dụng các phương pháp này nhằm tạo lập nên những lập luận vững chắc, chặt chẽ. 6. Đóng góp của luận văn Về mặt lí luận, đề tài này sẽ mô tả và rút ra được những đặc điểm về liên kết logic và liên kết ngữ nghĩa mà các từ nối thuộc phạm trù Tương phản Nhượng bộ thể hiện trong văn bản, đóng góp một phần nhỏ vào hoàn thiện việc nghiên cứu hệ thống các phương thức liên kết trong văn bản. Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu giá trị liên kết của các từ nối thuộc phạm trù Tương phản - Nhượng bộ sẽ giúp cho công tác giảng dạy văn bản và liên kết văn bản trong nhà trường hiệu quả hơn. Nhờ đó mà học sinh, sinh viên, người giảng dạy, thậm chí cả các nhà nghiên cứu có thể sử dụng từ, ngữ câu một cách chính xác về nghĩa trong quá trình tạo lập văn bản (cả nói và viết). Luận văn cũng góp thêm một tiếng nói trong xu hướng nghiên cứu phong cách văn bản. 7. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thƣ mục tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm ba chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết Chƣơng 2: Khảo sát về tính liên kết của nhóm từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ (qua truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư). Chƣơng 3: Giá trị liên kết của nhóm từ nối theo phạm trù Tương phản - Nhượng bộ (qua truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1. Khái quát về ngữ pháp văn bản 1.1.1. Văn bản Có nhiều khái niệm khác nhau về văn bản. Một số tác giả cho rằng, văn bản là sản phẩm của cả hoạt động viết và nói, tức là giao tiếp nói chung. D.Crystal quan niệm rằng “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những mục đích phân tích. Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích”. [D.Crystal, 1992] Nhưng một số tác giả khác lại cho rằng, văn bản chỉ thuộc dạng viết. Theo David Nunan “…tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kì cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp” [5,tr. 34] bởi tác giả phân biệt khái niệm văn bản là khái niệm diễn ngôn - văn bản trong ngữ cảnh, tức văn bản nói. Diệp Quang Ban trong công trình “Văn bản và liên kết trong tiếng Viêt” đã đề cập đến định nghĩa của Barthles như sau: “Chúng ta sẽ gọi cái khách thể của xuyên ngôn ngữ học (tranlinguistic) là diễn ngôn (discourse) tương tự như văn bản - text do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng ta sẽ định nghĩa nó (hãy còn sơ bộ) như là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng những mục đích giao tiếp thứ cấp và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn với những yếu tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ” (Barthles) (dẫn theo [3], tr.15.16). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Theo Halliday [13], văn bản - một đơn vị của ngôn ngữ - được xác định không phải dựa vào độ dài ngắn, dạng nói hay viết, bao gồm một động từ hay nhiều…mà dựa vào tính chỉnh thể, thống nhất về nội dung ngữ nghĩa của nó. Cũng theo Halliday [13], khái niệm văn bản không phải lúc nào cũng được xác định một cách rõ ràng. Theo tác giả, mọi người hay hiểu lầm rằng chúng ta có thể dễ dàng xác định những bộ phận (câu, cụm câu) nào sẽ cấu thành nên một văn bản. Nhưng sự thật thì văn bản được xác định tùy theo văn cảnh và nội dung của những câu, cụm câu đi trước và sau nó. Như vậy theo Halliday, nếu cụm câu (bao gồm nhiều câu - phát ngôn) có mối quan hệ về ý nghĩa sẽ tạo thành một văn bản. Theo cách hiểu này, Halliday chỉ quan tâm đến nội dung ý nghĩa mà không quan trọng về mặt hình thức của văn bản. Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất theo quan niệm của Halliday về khái niệm văn bản. 1.1.2. Diễn ngôn Diễn ngôn (còn được gọi là diễn từ, ngôn bản, ngôn phẩm…) thường được hiểu là một chuỗi phát ngôn được thực hiện trong giao tiếp bằng lời. Nói như vậy không hàm ý diễn ngôn chỉ dùng cho các phát ngôn mang tính hội thoại, mà còn chỉ cả các trường hợp đơn thoại, như các bài diễn văn, phát biểu, thuyết trình. Tuy nhiên, do đặc thù thể hiện mà mọi diễn ngôn loại này nói chung thường được coi là đối tượng nghiên cứu của lí thuyết hội thoại. Có thể thấy, ranh giới để nhận biết và phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn là rất mơ hồ. Nhưng trong quá trình nghiên cứu, việc phân biệt hai khái niệm này là rất cần thiết. 1.3. Liên kết văn bản 1.2.1. Liên kết Liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu theo kiểu giải thích nghĩa cho nhau. Nói chi tiết hơn, liên kết là thứ quan hệ giữa hai yếu tố ngôn ngữ mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết được với nhau. Hiện tượng này cũng gặp trong những khúc đoạn lời nói lớn hơn câu. Liên kết được đặt trên cơ sở nghĩa, do quan hệ ý nghĩa, và quan hệ đó phải được diễn đạt bằng các phương tiện hình thức của ngôn ngữ. Những hiện tượng nối kết không được đánh dấu bằng hệ thống các phương tiện hình thức được xếp vào mạch lạc. Có thể thấy, liên kết được hiểu là mạng lưới quan hệ của các từ, các câu trong đoạn văn. Tính liên kết là điều kiện cơ bản để một chuỗi câu trở thành văn bản. 1.2.2. Lịch sử nghiên cứu ngoài nước Câu trong văn bản gắn bó với nhau theo một nguyên tắc nhất định. Hiện tượng này được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học gọi là tính liên kết. Từ đó đến nay, tính liên kết được xem là một phát hiện mới một thuộc tính đặc thù chỉ có ở cấp độ trên câu. Hiện tượng liên kết được khảo sát sớm hơn cả là hiện tượng lặp hoặc điệp. Khái niệm này thường được hiểu khá rộng, nó có thể bao gồm việc lặp các từ cùng gốc, lặp cấu tạo từ, lặp có từ dẫn, thay thế bằng đại từ, bằng từ đồng nghĩa. B.Palek (1968) gọi hiện tượng này là “sự tham chiếu”. Ngoài hiện tượng điệp, người ta còn chú ý tới những hiện tượng khác mang chức năng liên kết như việc sử dụng quán từ, từ nối, sử dụng sự tương ứng thời - thể của các động từ, sử dụng câu hỏi, các hiện tượng tỉnh lược song hành cú pháp, sự tương tác nêu - báo… Cả đến trật tự từ trong câu và ngữ điệu cũng được xem là có chức năng liên kết văn bản. Tất cả những hiện tượng đó được gọi chung là các phương tiện liên kết câu. Liên kết là một hiện tượng dễ nhận biết nhưng hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau không thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Một cách khách quan nhất đến nay cần phải nhắc đến hai hệ thống quan điểm lớn sau đây: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 10 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ a. Liên kết hạn chế ở những biểu hiện hình thức Quan điểm này thịnh hành trong giai đoạn các ngữ pháp văn bản, coi liên kết văn bản phụ thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ. Liên kết được khai thác cả ở mặt phương tiện hình thức lẫn ở mặt ý nghĩa nên liên kết được hiểu như là một yếu tố quyết định làm cho một sản phẩm ngôn ngữ có được cái phẩm chất là một “văn bản” Giai đoạn này vì tính liên kết chủ yếu chỉ hạn chế ở những biểu hiện hình thức cho nên nó có ngoại diên khá rộng và không có khả năng đóng vai trò nhân tố quyết định trong việc phân biệt văn bản và phi văn bản. Bởi nó dễ dàng có thể tạo ra những chuỗi câu không có mối dây liên kết, không diễn đạt một nội dung ý nghĩa nào nhưng vẫn được coi là “văn bản”. Theo M.A.K. Halliday [13], việc liên kết câu này với câu kia được thực hiện bằng các phương thức liên kết sau đây: - Phép quy chiếu - Phép thế - Phép tỉnh lược - Phép nối - Phép liên kết từ vựng (bao gồm ba phép nhỏ là: lặp từ ngữ, phép dùng từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa và phép phối hợp từ ngữ) + Lặp từ + Dùng từ đồng nghĩa, kể cả những trường hợp gần nghĩa (như từ thượng danh, theo kiểu quan hệ cấp loại, hay quan hệ chỉnh thể - bộ phận) và trái nghĩa. + Phối hợp từ ngữ I.A. Figurovskij (1961) dựa trên chức năng ngữ pháp của các phương tiện liên kết chia liên kết thành những loại sau: - Các phương tiện liên kết có tính chủ ngữ - Các phương tiện liên kết có tính bổ ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 11 http://www.lrc-tnu.edu.vn/ - Các phương tiện liên kết có tính trạng ngữ - Các phương tiện liên kết có tính định ngữ b. Liên kết thể hiện ở các quan hệ nghĩa Quan niệm này thịnh hành vào những năm 70 của thế kỉ XX và ngày càng được phổ biến rộng rãi bởi khi đã đi sâu và tìm hiểu những đặc trưng của văn bản, các nhà nghiên cứu ngày càng chú ý đến vai trò của liên kết ngữ nghĩa. S.I. Gindin (1977) rút ra kết luận rằng, ở cấp độ trên câu, cú pháp được xây dựng trước hết trên cơ sở sự phù hợp những đặc trưng ngữ nghĩa của các đơn vị thuộc cấp dưới. V.V. Bogdanov (1977) cũng nhấn mạnh rằng “điều quan trọng là sự tương tác ấy hoàn toàn dựa trên cơ sở nghĩa”. Tác giả phân biệt tổ chức hình thức của văn bản với tổ chức ngữ nghĩa của văn bản - tổ chức này được thể hiện qua một loạt những sự tương hợp về nghĩa. Yêu cầu về liên kết ngữ nghĩa còn được thể hiện bằng những thuật ngữ khác như “tính toàn vẹn” của A.A.Leont’ev (1976) - đó là một “phạm trù ngôn ngữ học tâm lí biểu thị sự thống nhất về nghĩa của văn bản” hoặc “tính định hình hoàn chỉnh” của V.A. Zvegincev (1980). Với sự bổ sung của liên kết ngữ nghĩa, các nhà ngôn ngữ học văn bản tiến hành xử lí theo hai hướng: + Liên kết ngữ nghĩa được xem xét tách biệt khỏi liên kết hình thức Điều đó dẫn đến sự tách rời hoàn toàn hình thức khỏi nội dung và khiến cho ngoại diên của khái niệm tính liên kết càng trở nên rộng hơn trước và càng có nhiều phần phi văn bản được xem là văn bản. Chẳng hạn nhà nghiên cứu Tiệp Khắc K. Kozhevnikova (1979) thừa nhận sự tồn tại của “những văn bản có đủ dấu hiệu liên kết hình thức nhưng không có sự liên kết tư tưởng tương ứng” và những văn bản “liên kết (về tư tưởng) trần trụi” không có những dấu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 12 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Xem thêm -