Tài liệu Dự trữ ngoại hối-bao nhiêu là hợp lý cho nền kinh tế việt nam

  • Số trang: 98 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 73 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39801 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN “NHÀ KINH TẾ TRẺ - NĂM 2010” TÊN CÔNG TRÌNH: DỰ TRỮ NGOẠI HỐI BAO NHIÊU LÀ HỢP LÝ CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM THUỘC NHÓM NGÀNH KHOA HỌC KINH TẾ PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO NGHIÊN CỨU Hậu quả nặng nề từ khủng hoảng tài chính đã buộc Chính phủ các quốc gia phải có những biện pháp can thiệp kịp thời và các chương trình kích cầu là ưu tiên hàng đầu trong chuỗi can thiệp này. Đi đầu là Hoa Kỳ với gói cứu trợ 700 tỷ USD cho ngành tài chính và 800 tỷ USD cho thị trường tín dụng; Anh kích thích kinh tế bằng 85 tỷ USD cho hệ thống tài chính của mình; và dù là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, Trung Quốc cũng tung ra gói kích thích 586 tỷ USD. Việt Nam cũng không là ngoại lệ với gói kích cầu trị giá 6 tỷ USD (trong đó 1 tỷ USD từ dự trữ quốc gia), một trong năm biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn suy thoái kinh tế và duy trì tăng trưởng. Tuy nhiên, các gói kích cầu đưa đến nguy cơ thâm hụt ngân sách và các khoản nợ khổng lồ. Vì vậy, cần có hệ thống tài chính vững mạnh để tăng cường khả năng phòng ngự của nền kinh tế, trong đó DTNH quốc gia đóng vai trò không nhỏ. Ngoài ra, các cuộc khủng hoảng trong những năm vừa qua, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á cũng để lại bài học về tầm quan trọng của DTNH quốc gia. Duy trì lượng dự trữ ở mức cao hay thấp để giúp một quốc gia có thể đứng vững trước những ảnh hưởng từ các cú sốc kinh tế bên ngoài luôn là câu hỏi, và chủ đề này được các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Rất nhiều quốc gia đã nghiên cứu về vấn đề này và cố gắng xác định mức dự trữ hợp lý cho nền kinh tế đất nước để phát huy lợi ích của nó, đồng thời làm giảm đi cơ hội phí khi phải nắm giữ những tài sản này. Còn ở Việt Nam mức dự trữ ngoại hối bao nhiêu là hợp lý cho nền kinh tế, hiện chưa có đề tài nào trả lời được câu hỏi trên, chính điều đó là thúc đẩy chúng tôi thực hiện đề tài này. 2. XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quan về dự trữ ngoại hối, định lượng những nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối cũng như tác động của nó đến các nhân tố vĩ mô và các khoản nợ của Việt Nam tầm trung và dài hạn. Dựa trên những phân tích trên cùng những kỹ thuật tính toán, chúng tôi xây dựng mô hình xác định mức dự trữ tối ưu cho Việt nam và cuối cùng đề xuất một số khuyến nghị giúp Việt Nam hình thành nền tảng vững chắc khi bước vào hội nhập trên diện rộng để có thể vượt qua những biến động lớn như cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua. 3. CÂU HỎI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Dự trữ ngoại hối là gì và tầm quan trọng của nó như thế nào? Mối tương quan giữa chi phí và lợi ích của việc nắm giữ chúng? Thực trạng và xu hướng của dự trữ ngoại hối trên thế giới và Việt Nam trong thời gian qua có những gì nổi bật? Sự biến đổi của dự trữ ngoại hối có những tác động nào đến các biến vĩ mô trong nền kinh tế? Các mô hình xác định mức dự trữ ngoại hối hợp lý trên thế giới hiện này đang được sử dụng? Và mô hình nào phù hợp với điều kiện của Việt Nam? Những lưu ý gì về chính sách quản lý nguồn dự trữ này? Trong quá trình đi tìm lời giải cho những câu hỏi nghiên cứu vừa nêu để giải quyết vấn đề đặt ra, đề tài này nhằm vào các đối tượng nghiên cứu cụ thể sau đây: Phân tích các nghiên cứu của của các học giả trên thế giới về dự trữ ngoại hối cũng như tầm quan trọng và lợi ích của nó mang lại. Thực hiện hồi quy các phương trình ước lượng để đánh giác tác động của dự trữ ngoại hối tới các biến vĩ mô trong nền kinh tế. Tính toán mức dự trữ ngoại hối hợp lý cho nến kinh tế Việt Nam thông qua hai mô hình: một theo tiêu chuẩn W-K và một theo mô hình Buffer Stock. Xem xét sự phù hợp của mô hình và đưa ra các khuyến nghị về mô hình để nâng cao hiệu quả, đồng thời đề xuất những khuyến nghị về mặt chính sách giúp cho thị trường tài chính Việt Nam bền vững. 4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp định tính, định lượng, thống kê, so sánh và tổng hợp nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu số liệu thứ cấp được sử dụng ở đây để làm sáng tỏ thực trạng dự trữ ngoại hối trên thế giới và Việt Nam. Đối với nghiên cứu định lượng, chúng tôi sử dụng phương pháp ước lượng theo bình phương nhỏ nhất, đồng thời kiểm định thêm các phần mở rộng để làm tăng tính hiệu quả của mô hình. Nguồn số liệu được lấy từ các nguồn IFS, WB, ADB, EIUs và Tổng cục thống kê nên rất đáng tin cậy. 5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Các nghiên cứu về dự trữ ngoại hối trên thế giới bao gồm tầm quan trọng, lợi ích cũng như chi phí. Phân tích mối tương quan của dự trữ ngoại hối với cán cân thanh toán và bộ ba bất khả thi trong thời kỳ khủng hoảng. Chương 2: Phân tích thực trạng dự trữ ngoại hối trên thế giới và Việt Nam. Sau đó là phân tích định lượng tác động của dự trữ ngoại hối tới các biến vĩ mô trong nền kinh tế. Và cuối cùng là mô hình xác định mức dự trữ hợp lý cho Việt nam. Chương 3: Dựa trên mô hình trong chương 2, đề tài tiến hành xác định mức hợp lý cho giai đoạn 2010 – 2013 và qua đó đưa ra những đề xuất kiến nghị. 6. Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU CÔNG TRÌNH Về lý luận, đề tài này giúp cho chúng ta có cái nhìn sâu hơn về dự trữ ngoại hối thông qua các lý thuyết và nghiên cứu trên thế giới về dự trữ ngoại hối. Bên cạnh đó, dựa vào mô hình Buffer Stock đã được áp dụng khá thành công tại nhiều nước, đề tài này còn đóng góp được các biến phù hợp cho nền kinh tế Việt Nam khi đưa vào áp dụng mô hình. Về mặt thực tiễn, đề tài này có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Đề tài cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện về thực trạng của dự trữ ngoại hối trên thế giới và Việt Nam, trên cơ sở phân tích định lượng tác động của dự trữ ngoại hối tới các biến vĩ mô trong nền kinh tế, đề tài xác định được tầm quan trọng của dự trữ ngoại hối trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng sâu rộng như hiện nay. Từ đó, đề tài sử dụng mô hình định lượng theo tiêu chuẩn W-K và Buffer Stock để xác định mức dự trữ ngoại hối hợp lý cho Việt Nam giai đoạn 2010 – 2013, và nêu ra các gợi ý về mặt chính sách trong việc quản lý nguồn dự trữ này. 7. HƢỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI Do giới hạn về mặt thời gian và số trang viết của đề tài nghiên cứu nên đề tài chưa phân tích sâu một số vấn đề kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng như chưa có những phân tích thực sự đầy đủ về tương tác giữa các biến trong mô hình. Nếu có điều kiện phát triển, tôi hy vọng đề tài sẽ được phát triển theo hướng đi sâu hơn, cụ thể hơn nhằm đưa ra những giải pháp mang tính toàn diện cao hơn cho quá trình hội nhập và tự do hóa kinh tế ở nước ta. MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC HÌNH DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC PHỤ LỤC CHƢƠNG 1 CÁC TRƢỜNG PHÁI NGHIÊN CỨU DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TRÊN THẾ GIỚI 1.1 TỔNG QUAN VỀ DTNH ....................................................................................... 1 1.1.1 DTNH là gì ? ....................................................................................................... 1 1.1.2 Tầm quan trọng DTNH trong phát triển kinh tế .................................................. 1 1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá DTNH. .............................................................................. 3 1.1.4 Chi phí của việc nắm giữ ..................................................................................... 4 1.2 QUAN HỆ GIỮA CÁN CÂN THANH TOÁN VÀ DTNH. ................................... 6 1.2.1 Tài khoản vãng lai ............................................................................................... 6 1.2.2 Tài khoản vốn ...................................................................................................... 7 1.2.3 Cán cân thanh toán .............................................................................................. 8 1.3 QUAN HỆ GIỮA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ BỘ BA BẤT KHẢ THI TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG ............................................................................................. 9 CHƢƠNG 2 XÁC ĐỊNH MỨC DỮ TRỮ NGOẠI HỐI HỢP HỢP LÝ 2.1 XU HƯỚNG DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TRONG THỜI GIAN QUA ....................... 13 2.1.1 Xu hướng chung của thế giới ............................................................................ 13 2.1.1.1 Xu hướng của các đồng tiền dự trữ ............................................................ 14 2.1.1.2 Xu hướng di chuyển của DTNH từ các nước phát triển sang những nước mới nổi .................................................................................................................... 14 2.1.2 Xu hướng của các nước mới nổi và các nước đang phát triển .......................... 16 2.1.2.1 Sự gia tăng DTNH thay đổi tuỳ theo từng khu vực ................................... 16 2.1.2.2 Nguyên nhân của sự gia tăng DTNH trong các nước mới nổi ................... 17 2.1.3 Thực trạng DTNH tại Việt Nam thời gian qua .................................................. 21 2.1.3.1 Một số chỉ số quan trọng ............................................................................ 22 2.1.3.2 Đánh giá các nhân tố đóng góp vào Dự trữ ngoại hối................................ 25 2.1.3.3 Đánh giá chi phí khi nắm giữ dự trữ ngoại hối .......................................... 27 2.1.3.4 Tình hình sử dụng ngoại tệ của NHTW ..................................................... 28 2.2 TÁC ĐỘNG CỦA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI LÊN CÁC BIẾN VĨ MÔ .................... 30 2.2.1 Tác động lên nợ nước ngoài .............................................................................. 30 2.2.2 Tác động lên các biến vĩ mô .............................................................................. 32 2.2.3 Tác động lên lạm phát ....................................................................................... 33 2.3 MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI HỢP LÝ ........................... 35 2.3.1 Theo tiêu chuẩn W - K ...................................................................................... 35 2.3.1.1 Cơ sở lý luận của mô hình.......................................................................... 35 2.3.1.2 Tính toán cho Việt Nam ............................................................................. 37 2.3.2 Tính toán DTNH theo mô hình Buffer Stock ................................................... 38 2.3.2.1 Cơ sở lý luận của mô hình.......................................................................... 38 2.3.2.2 Áp dụng tính toán tại Việt Nam ................................................................. 40 CHƢƠNG 3 DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CHO GIAI ĐOẠN 2010 – 2013 VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH 3.1 TRIỂN VỌNG KINH TẾ ...................................................................................... 46 3.1.1 Triển vọng kinh tế thế giới ................................................................................ 46 3.1.1.1 Kinh tế Mỹ: ................................................................................................ 46 3.1.1.2 Khu vực sử dụng đồng Euro ...................................................................... 47 3.1.1.3 Châu Á (trừ Nhật Bản) ............................................................................... 47 3.1.1.4 Nhật Bản..................................................................................................... 48 3.1.1.5 Trung Quốc ................................................................................................ 48 3.1.2 Triển vọng kinh tế Việt Nam ............................................................................. 48 3.1.2.1 Triển vọng GDP ......................................................................................... 49 3.1.2.2 Triển vọng lạm phát ................................................................................... 50 3.1.2.3 Triển vọng xuất khẩu ................................................................................. 50 3.1.2.4 Triển vọng FDI........................................................................................... 50 3.2 DỰ BÁO KHOẢN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CHO GIAI ĐOẠN 2010 – 2013 ....... 51 3.2.1 Theo tiêu chuẩn W-K ........................................................................................ 51 3.2.1.1 Dự báo tổng nợ Việt Nam .......................................................................... 51 3.2.1.2 Dự báo nợ ngắn hạn Việt Nam................................................................... 52 3.2.1.3 Dự báo M2 ................................................................................................. 52 3.2.1.4 Tính toán khoảng dự trữ hợp lý.................................................................. 52 3.2.2 Theo mô hình Buffer Stock ............................................................................... 53 3.2.2.1 Dự báo lãi suất của Việt Nam. ................................................................... 54 3.2.2.2 Dự báo lãi suất Mỹ. .................................................................................... 55 3.2.2.3 Tính toán khoảng mức DTNH hợp lý ........................................................ 55 3.3 NHỮNG ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ ..................................................................... 56 3.3.1 Đánh giá kết quả của mô hình xác định mức dự trữ.......................................... 56 3.3.2 Khắc phục nhược điểm của mô hình ................................................................. 57 3.3.3 Những khuyến nghị ........................................................................................... 57 3.3.3.1 Về mặt tổng quát - Khuyến nghị về chính sách vĩ mô ............................... 57 3.3.3.2 Những kiến nghị cụ thể .............................................................................. 59 THAY LỜI KẾT TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ADB Ngân hàng phát triển Châu Á BĐS Bất động sản BIS Ngân hàng thanh toán quốc tế BMI Bussiness Monitor International CPI Lạm phát DNNN Doanh nghiệp Nhà nước ĐPT (Các nước) đang phát triển DTNH Dự trữ ngoại hối FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FPI Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài GDP Tổng sản phẩm quốc nội GNI Tổng thu nhập quốc dân IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế NHTW Ngân hàng trung ương OLS Hồi quy theo bình phương nhỏ nhất TKV Tài khoản vốn TKVL Tài khoản vãng lai TTCK Thị trường chứng khoán WB Ngân hàng thế giới WEO Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Mối quan hệ giữa tài khoản vãng lai và dự trữ ngoại hối Hình 1.2 Mối quan hệ giữa các thành phần cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối Hình 2.1 Xu hướng dự trữ ngoại hối thế giới qua các năm Hình 2.2 Thay đổi cơ cấu dự trữ ngoại hối trên thế giới Hình 2.3 Xu hướng di chuyển dự trữ ngoại hối Hình 2.4 Xu hướng dự trữ ngoại hối ở các nước đang phát triển Hình 2.5 Xu hướng biến động TKVL Hình 2.6 Tỷ trọng TKVL/DTNH Hình 2.7 FDI vào các nước đang phát triển Hình 2.8 Vay nợ ở các nước ĐPT Hình 2.9 Thực trạng vay nợ ở các nước mới nổi và đang phát triển Hình 2.10 Xu hướng dự trữ ngoại hối ở Việt Nam trong thời gian vừa qua Hình 2.11 Biểu đồ thể hiện DTNH/Nợ ngắn hạn Hình 2.12 Xu hướng của M2 Hình 2.13 Dự trữ ngoại hối thể hiện theo tháng nhập khẩu Hình 2.14 Thực trạng cán cân thương mại và tài khoản vãng lai Hình 2.15 Tình hình thu hút FDI và FP Hình 2.16 Chi phí cơ hội của việc nắm giữ ngoại hối Hình 2.17 Dự trữ ngoại hối, nợ và kỳ hạn thanh toán Hình 2.18 Dự trữ ngoại hối và các biến vĩ mô Hình 2.19 Dự trữ ngoại hối và lạm phát Hình 3.1 GDP dự báo của Việt Nam Hình 3.2 Dự báo lạm phát Hình 3.3 Mức dự trữ ngoại hối hợp lý cho Việt Nam giai đoạn 2010 - 2013 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Dự trữ ngoại hối một số nước năm 2009 Bảng 2.2 Kết quả ước lượng tác động của dự trữ ngoại hối Bảng 2.3 Mối tương quan giữa dự trữ ngoại hối và lạm phát Bảng 2.4 Tính toán theo tiêu chuẩn W-K Bảng 2.5 Số liệu cho mô hình Buffer Stock Bảng 2.6 Kiểm định đơn vị các biến mô hình Buffer Stock Bảng 2.7 Kết quả ước lượng theo mô hình Buffer Stock Bảng 2.8 Kết quả kiểm định thừa biến trong mô hình hồi quy Bảng 3.1 Triển vọng kinh tế thế giới 2010 - 2011 Bảng 3.2 Tổng nợ trên GDP Bảng 3.3 Kết quả dự báo tổng nợ Bảng 3.4 Dự báo nợ ngắn hạn Bảng 3.5 Dự báo M2 Bảng 3.6 Kết quả dự báo DTNH theo tiêu chuẩn W-K Bảng 3.7 Dự báo các biến cho mô hình Buffer Stock Bảng 3.8 Dự báo lãi suất Bảng 3.9 Các biến tính toán cho mô hình Buffer Stock Bảng 3.10 Kết quả dự báo Dự trữ ngoại hối 2009 -2013 DANH MỤC PHỤ LỤC Phụ lục 1 Giá trị các đồng tiền dự trữ trên thế giới Phụ lục 2 Các chỉ số liên quan đến DTNH tính trên toàn thế giới Phụ lục 3 Các chỉ số liên quan đến DTNH tại các nước mới nổi Phụ lục 4 Số liệu kinh tế vĩ mô Việt Nam Phụ lục 5 Số liệu theo tiêu chuẩn W-K Phụ lục 6 Số liệu mô hình Buffer Stock Phụ lục 7 Tiến trình Weiner Phụ lục 8 Kiểm định đơn vị Phụ lục 9 Kiểm định thừa biến trong mô hình 1 CHƢƠNG 1 CÁC TRƢỜNG PHÁI NGHIÊN CỨU DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Tổng quan về DTNH 1.1.1 DTNH là gì ? Dự trữ ngoại hối, hay còn gọi là dự trữ ngoại tệ, là lượng ngoại tệ mà NHTW hoặc cơ quan chịu trách nhiệm về tiền tệ của một quốc gia nắm giữ. Đây là một loại tài sản của Nhà nước được cất giữ dưới dạng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như : USD, EURO, YEN, v.v…) nhằm mục đích thanh toán quốc tế hay hỗ trợ giá trị đồng tiền quốc gia. Các hình thức ngoại hối có thể được dự trữ dưới các hình thức sau : (i) Tiền mặt ; (ii) Số dư của tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài ; (iii) Hối phiếu, trái phiếu hoặc các giấy tờ ghi nợ khác của Chính phủ nước ngoài, ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế; (iv) Vàng ; (v) Các loại ngoại hối khác. 1.1.2 Tầm quan trọng DTNH trong phát triển kinh tế Giữ vai trò ngày càng quan trọng trong việc phát triển kinh tế, hầu hết các quốc gia đều duy trì và quản lý DTNH nhằm phục vụ các mục tiêu cơ bản: Thực hiện chính sách tiền tệ và tỷ giá. Duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối để hạn chế tác động tiêu cực khi khủng hoảng tài chính xảy ra, ổn định tỷ giá, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động xuất – nhập khẩu, đảm bảo cho tính cân đối của cán cân thanh toán. Duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của quốc gia, góp phần thu hút FDI và FPI, giúp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển kinh tế. Dự trữ cho các trường hợp khẩn cấp và thảm họa mang tính quốc gia. Điểm đặc biệt đối với các nước đang phát triển: Cần lượng DTNH lớn như tấm đệm giảm sốc1. Ở các nước mới nổi, ban đầu, DTNH chỉ đơn thuần là để đảm bảo khỏi nguy cơ và tác động của khủng hoảng, trong bối cảnh ngày càng nhiều đồng tiền neo vào đồng USD. Bài học từ khủng hoàng Tài chính 1997 đã thức tỉnh các nước đang phát triển, buộc họ xây dựng DTNH để vô hiệu hoá, chặn trước tấn công từ các nhà đầu cơ và có thể giải quyết tốt hơn những cú sốc vĩ mô do dòng vốn đảo chiều đột ngột. Xie Taifeng, trong tác phẩm “Mức DTNH cao: Lợi nhiều hơn hại” đã củng cố cho niềm tin này của các nước: 1 Mr. Christian Noyer, Foreign Reseves Accumulation: Some systemic Implications, October 1st, 2007 2 “Nếu Thái Lan dự trữ đủ ngoại tệ, khủng hoảng 1997 đã không tồi tệ và lan rộng ra nhiều nước như vậy. Nếu Hàn Quốc có một kho DTNH lớn, họ sẽ không bị đẩy vào tình thế huy động vốn trong dân cư để vượt qua hoàn cảnh khó khăn. Hồng Kông có thể tồn tại trong năm 1997 vì họ nắm giữ lượng lớn ngoại tệ.”2 Việc tự bảo hiểm cho mình bằng DTNH cũng giúp các quốc gia giảm mức độ phụ thuộc vào các cứu trợ từ cộng đồng quốc tế như IMF hay WB, vì nó không chỉ tạo ra sự phụ thuộc vào các tổ chức này, mà còn đưa đến những hệ lụy về chính trị, vị thế quốc gia..., và đôi khi những liều thuốc của IMF còn làm bệnh tình trở nên trầm trọng hơn. Thậm chí những nước không bị ảnh hưởng trực tiếp từ khủng hoảng, thì DTNH cũng đóng một vai trò quan trọng, để phòng trường hợp dòng vốn bị rút ra đột ngột do khủng hoảng niềm tin đối với các nước đang phát triển. DTNH là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức mạnh kinh tế và vị thế trên thị trường tài chính quốc tế. Một vài chuyên gia cho rằng, lượng DTNH của các nước đang phát triển hiện quá lớn so với nhu cầu của họ, dẫn đến lãng phí, gia tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền thay vì đem đầu tư để phát triển kinh tế trong nước. Tuy nhiên, trong trường hợp này DTNH không chỉ là phương tiện để phát triển kinh tế mà còn để nâng cao vị thế chính trị. Trung Quốc – đất nước có DTNH chiếm 2/3 GDP3- là minh chứng cho việc DTNH cao có thể làm tăng vị thế chính trị của quốc gia. Trong một báo cáo về tăng trưởng dự trữ ở Trung Quốc, Robert Pringle đã chỉ ra rằng, chính sự năng động của nền kinh tế, cùng DTNH khổng lồ giúp cho quan điểm, tiếng nói của Trung Quốc trên thị trường quốc tế được lắng nghe và tôn trọng nhiều hơn so với trước đây. Ông cũng cho rằng, DTNH của Trung Quốc không chỉ để giảm sốc khi có khủng hoảng, mà còn để nhận được sự quan tâm và tôn trọng của thế giới . Một cuộc khảo sát của BIS (Bank for International Settlements) ở các nước đang phát triển, 16 NHTW các nước được khảo sát đều tin rằng DTNH có mối tương quan cùng chiều với xếp hạng tín nhiệm. Nhiều NHTW – bất kể quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá linh hoạt hay cố định – đều có quan điểm rằng mức dự trữ cao cho họ niềm tin và độ tín nhiệm cao trên thị trường ngoại hối. Dự trữ lớn hàm ý khả năng trả nợ cao và giảm đi rủi ro bị tấn công đầu cơ trên đồng nội tệ. Các NHTW cũng cho biết, tổ chức xếp hạng tín nhiệm xem mức ổn định của DTNH như một chỉ số thể hiện sức mạnh của nền kinh tế. Với những mục tiêu trên, công tác quản lý DTNH thường được giao cho NHTW là cơ quan hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ mà quốc gia đang thực hiện. NHTW sẽ đưa ra các biện pháp nhằm duy trì mức DTNH vừa đủ để bảo vệ giá trị đồng nội tệ, hạn chế sự biến động quá mức của tỷ giá hối đoái, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế. Công tác 2 3 The Foreign Exchange Reserves Buildup – Business as usual? http://www.sbv.gov.vn/vn/home/tinnghiencuu.jsp?tin=720 3 này đặc biệt quan trọng hơn đối với các nền kinh tế đang phát triển bắt đầu thực hiện mở cửa, tự do hóa các giao dịch vốn quốc tế. Hội nhập kinh tế toàn cầu đi đôi với chính sách tự do hóa, từng bước nới lỏng giao dịch vốn. Những hoạt động này, tuy thúc đẩy đầu tư trong nước, nâng cao mức tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống người dân nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro tài chính. Thực tế, nhiều nước tự do hóa TKV quá nhanh đã phải đối mặt với khủng hoảng tài chính nặng nề khi có hiện tượng đảo chiều dòng vốn. NHTW tại các nước tự do hóa TKV thường phải can thiệp bằng cách mua ngoại tệ tăng dự trữ; đồng thời, thực hiện các nghiệp vụ của thị trường mở để hút bớt lượng tiền đã đưa vào lưu thông để duy trì khả năng cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu và kiềm chế nguy cơ lạm phát khi vốn đổ vào với khối lượng quá lớn. Song song với quá trình đó, NHTW cũng phải luôn trong tình trạng sẵn sàng bán ngoại tệ ra để can thiệp khi có sự rút vốn ồ ạt từ phía các nhà đầu tư để ổn định thị trường ngoại hối. Để làm được cả hai điều này, NHTW các nước phải dự trữ một lượng ngoại tệ không nhỏ ngoài mức đủ để đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu theo thông lệ quốc tế. 1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá DTNH. Là công cụ quan trọng để ngăn chặn khủng hoảng nhưng DTNH vẫn còn tồn tại một vài hạn chế trong việc phòng ngừa hỗn loại tài chính, nhất là khi nắm giữ lượng dự trữ quá lớn có thể sẽ dẫn đến chi phí lớn. Rất khó để xác định mức DTNH hợp lý, nên các nhà kinh tế học đã đưa ra ba tiêu chí cơ bản để xác định mức dự trữ tạm ổn cho các hoạt động kinh tế trong và ngoài nước của từng quốc gia: Tỷ lệ giữa DTNH và nợ ngắn hạn nƣớc ngoài: đây là chỉ tiêu chính và phổ biến nhất để đánh giá mức tương xứng của các tài sản DTNH. Chỉ tiêu này (cũng được biết đến như nguyên tắc Greenspan-Guidotti) phản ánh khả năng đối phó của một quốc gia khi có hiện tượng tấn công ngoại tệ hoặc rút tiền ồ ạt ra nước ngoài. Tiêu biểu, một quốc gia được xem là thận trọng và khôn ngoan nếu quốc gia đó nắm giữ lượng dự trữ tiền tệ đủ để trả cho các khoản nợ nước ngoài trong vòng một năm (Rodrik và Velasco, 1999 và Garcia Soto, 2004). Tỷ lệ giữa DTNH và giá trị tuần nhập khẩu trong năm tiếp theo: quy mô DTNH được tính bằng số tuần nhập khẩu, nó cho thấy mức độ hỗ trợ thanh toán quốc tế của DTNH. Và theo đánh giá của IMF, DTNH có quy mô tương đương 12 đến 14 tuần ( tương đương 3 đến 4 tháng) nhập khẩu thì quốc gia sẽ được coi là đủ DTNH. Tỷ lệ giữa DTNH và mức cung tiền rộng: cho thấy khả năng can thiệp tỷ giá của NHTW. Nếu tỷ lệ này gần với 0%, cung tiền rộng vượt quá mức DTNH. Trong chế độ tỷ giá cố định, mức gia tăng trong tổng tiền liên qua đến DTNH càng cao, thì khả năng đối phó với các cú sốc cầu tiền càng phải cao. Với tiêu chí này, tỷ lệ từ 10% đến 20% được xem là hợp lý. 4 1.1.4 Chi phí của việc nắm giữ Tốc độ tăng trưởng mức dự trữ của những quốc gia đang giữ kỷ lục lớn nhất trên thế giới đang tăng lên đáng kể từ những mẫu hình trước từ quá trình tích lũy, và gần như là tất cả những trường hợp đó đều vượt quá những mức tiêu chuẩn cho sự dự trữ thích hợp. Có phải là có một giới hạn để có thể đạt được từ quá trình tích lũy dự trữ, hay có phải nhiều hơn thì luôn luôn tốt hơn không? Lợi nhuận biên tế của sự tích lũy dự trữ nhiều hơn thì chắc chắn bị sụt giảm tại một vài điểm. Hơn nữa, kinh tế học cơ bản nhắc nhở chúng ta về nhu cầu để kết hợp lợi nhuận biên tế với chi phí biên tế. Dự trữ là một công cụ bảo hiểm đắt đỏ, với những chi phí từ nhiều nguồn khác nhau và thường là khó để lượng hóa. Chi phí vô hiệu hóa: sự vô hiệu hóa làm trung hòa ảnh hưởng lạm phát tiền tệ của quá trình tích lũy dự trữ bằng cách bù đắp kết hợp mức tăng trong cung tiền với sự hoạt động của thị trường tiền tệ nội địa, tiêu biểu để bảo hiểm nợ quốc gia. hai chi phí của sự vô hiệu hóa này, thứ nhất là chi phí tài khóa trực tiếp đối với quyền tiền tệ và thứ hai là chi phí hệ thống gián tiếp của việc ngăn ngừa sự điều chỉnh tài khoản vãng lai, và thường chi phí trực tiếp được quan tâm và xem xét nhiều nhất. Chi phí tài khóa đại diện sự khác biệt giữa những gì ngân hàng trung ương kiếm được trên dự trữ quốc tế và những gì nó trả cho khoản nợ quốc gia mà được phát hành để vô hiệu hóa dự trữ này. Đối với một vài nền kinh tế với lãi suất nội địa thấp, chi phí tài khóa thậm chí có thể là âm. Nguồn dữ liệu quá ít trên những phần nắm giữ của dự trữ quốc tế hoặc quy mô đầy đủ và thành phần kết cấu của sự vô hiệu hóa làm cho chi phí tài khóa trở nên khó khăn để đo lường phù hợp cho mẫu hình đầy đủ4. Tuy nhiên, bằng chứng thần kỳ dự báo rằng sự vô hiêu hóa lớn đã từng diễn ra ở Đông Á nhiều năm trước đây. Bằng cách kiềm chế tác động tiền tệ của sự can thiệp ngoại hối, sự vô hiệu hóa cho phép một ngân hàng trung ương tác động lên tỷ giá hối đoái thực. Phương pháp ngăn ngừa điều chỉnh tỷ giá hối đoái thực từ dưới lên, tạo ra sự khả thi thông qua sự vô hiệu hóa, có thể gây hại thông qua việc bóp méo dấu hiệu giá. Điều đó có thể dẫn đến việc đầu tư quá mức trên khu vực thương mại tại mức chi phí của phi thương mại. Kỳ vọng sự điều chỉnh cuối cùng có thể thu hút các dòng vốn đầu cơ và do đó các bong bóng tài sản, mặc dù những dòng vốn này cũng hướng đế lãi suất lãi suất nội địa thấp hơn và vì vậy có thể thấp hơn chi phí tài khóa trực tiếp. không có các dòng vốn này, lãi suất sẽ có khả năng tăng, có khả năng lấn áp khu vực đầu tư tư nhân. Cùng với nhiều nhân tố quan trọng khác, việc ngăn 4 Sự vô hiệu hóa đôi khi được tính xấp xỉ trong một khoảng thời gian ngắn thông qua sự khác biệt giữa những thay đổi trong tài sản nước ngoài ròng và tài sản nội địa ròng, khi sự vô hiệu hóa tập trung vào việc giữ cho cung tiền không đổi và việc tính toán cơ sở tiền đồng nhất, cho chúng ta cơ sở tiền = NFA + NDA. Thậm chí, đối với việc thiếu sự can thiệp ngoại hối, cơ sở tiền sẽ không giữ nguyên không đổi trong một nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh với một khu vực tài chính đang phát triển và chính sách tiền tệ tích cực. Tăng trưởng cung tiền trên tăng trưởng tự nhiên của cầu tiền dẫn đến quá nhiều sự nhiễu tạp trong việc nhận dạng sự vô hiệu hóa quy mô tương đương. Ngay cả khi tỷ lệ vô hiệu hóa là được biết trước, tính mơ hồ tất yếu trong sự khác biệt về lãi suất giữa dự trữ và các công cụ vô hiệu hóa sẽ ảnh hưởng đến các ước lượng một cách mạnh mẽ. 5 chặn tỷ giá hối đoái thực tăng gần đây góp phần dẫn đến một sự mất cân bằng trong cán cân tài khoản vãng lai toàn cầu, một trong những quan tâm chủ yếu của IMF đối với kinh tế thế giới (IMF 2006). Chi phí cơ hội: các nguồn tài nguyên sử dụng cho việc mua dự trữ ngoại hối có thể được sử dụng bằng nhiều cách khác nhau. Một chính phủ có thể trả trước khoản nợ nước ngoài ngắn hạn của quốc gia chính phủ đó, khi chi phí lãi suất của một khoản nợ nước ngoài ngắn hạn – dù rất khó để đo lường – có khả năng vượt quá khoản thu nhập trên một khoản dự trữ tương đương. Việc trả trước nợ nước ngoài ngắn hạn của quốc gia vì vậy có một tác động là giảm tính dễ tổn thương của việc nắm giữ dự trữ, khi tuân theo nguyên tắc Greenspan – Guidotti, với một mức chi phí ròng thấp hơn. Một chính phủ cũng có thể chi tiêu nguồn dự trữ này cho các dự án đầu tư, với một sự ép buộc mà dự trữ có thể không chuyển đổi về tiền tệ trong nước được nếu các nhà chức trách mong muốn ngăn ngừa một một sự ảnh hưởng lên tỷ giá hối đoái. Ví dụ, dự trữ có thể được sử dụng để mua các công cụ hay các nguồn cung ứng y tế nước ngoài. Hầu hết các nước dự trữ cao có tỷ lệ vốn/lao động thấp hơn các nước công nghiệp mà trái phiếu dự trữ sẽ có giá trị. Thêm vào đó, nguồn thu nhập từ khu vực đầu tư công có thể có ý nghĩa quan trọng cao hơn các khoản thu nhập từ việc kinh doanh trên nguồn dự trữ với điều kiện là chúng được phân phối một cách hiệu quả. Nhiều nhà chức trách tiền tệ gần đây đang quản lý nguồn dự trữ của họ một cách tích cực hơn để cải thiện thu nhập của họ. Một cách giải quyết hiệu quả hơn có thể dẫn đến từ bỏ sự tích lũy dự trữ, cho phép khu vực tư nhân xác định sự phân phối thu nhập ngoại hối một cách tốt nhất. Thông qua việc đạt được dự trữ, ngân hàng trung ương về cơ bản, đang phân phối tỷ lệ thu nhập quốc dân sang hình thức tiết kiệm đặc biệt. Nhiều phương pháp khác nhau của việc tối đa hóa những nguồn thu nhập bị từ bỏ này đã được đề xuất, từ việc chọn lãi suất thị trường hay tính thanh khoản đến việc tìm nguồn gốc thu nhập từ một hàm sản xuất quốc gia được giả định. Rủi ro bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương: dự trữ ngoại hối, chỉ giống như bất kỳ tài sản ngoại tệ khác, có thể mất giá trị trong thời gian ngắn khi tỷ giá hối đoái tăng. Trong nhiều trường hợp mà tài sản nước ngoài từ một phần lớn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương, thể chế sẽ phải đối mặt với rủi ro tổn thất rất lớn. dĩ nhiên, một ngân hàng trung ương có thể tính toán cho những khoản thiệt hại này trong nhiều năm, phụ thuộc vào nét đặc trưng trong kỳ hạn thanh toán của các tài sản nước ngoài và tốc độ của sự tăng giá. Những mùa hè được xây dựng đặc biệt và giả định một tỷ lệ 6% - thu nhập ròng trên tài sản dự trữ phi rủi ro trong khu vực nội địa – đầu tư cơ sở hạ tầng nội địa, trả trước nợ nước ngoài ngắn hạn hay danh mục đa dạng hóa. Hơn nữa, với điều kiện lãi suất biên và dòng tiền còn lại âm, nó có thể khả thi cho các ngân hàng trung ương trong việc quản lý dòng 6 vốn âm trong một thời kỳ xem xét. Tuy nhiên, ngừng việc cấp vốn không đủ có thể gây nguy hại cho độ tin cậy và khả năng của ngân hàng trung ương đối với mục tiêu ổn định giá cả, trung gian vay mượn nước ngoài của chính phủ, thực hiện vai trò ngân hàng cho vay cuối cùng, hay duy trì một hệ thống thanh toán nội địa. Điều này đại diện một rủi ro đặc thù của ngân hàng trung ương với sự kỳ vọng chi phí tương lai cao, như lãi suất lớn – từ việc nắm giữ nợ. Việc bơm vốn và bảo hiểm lỗ thường xuyên từ bộ tài chính quốc gia làm phát sinh chi phí tài khóa đến chính phủ và có thể gây ảnh hưởng không mong muốn lên tính độc lập của ngân hàng trung ương đối với chính phủ. Thậm chí, nếu ngân hàng trung ương tái cấp vốn từ lợi nhuận giữ lại, những khoản lợi nhuận đó đại diện cho doanh thu. Cuối cùng, chi phí này ảnh hưởng đến tài khoản tài khóa. Các chi phí khác: quá trình tích lũy dự trữ có thể dẫn đến một cảm giác sai lầm về sự an toàn, phá hủy những cải cách cần thiết.trong khi dự trữ có thể đem lại một sự bảo hộ đối với các cuộc khủng hoảng nước ngoài, nói cách khác, các chính sách kém là nguyên nhân của sự bóp méo không mong muốn. Ví dụ, thâm hụt tài khóa lớn, có thể chèn lấn khu vực đầu tư tư nhân hay tạo ra các mối nguy về nợ. Và tính dễ tổn thương này, nếu được cho phép tăng quá lớn, có thể làm mất đi tính bảo vệ của dự trữ và gây bất ngờ cho một nước mà trước đây được xem là đang được bảo vệ từ dự trữ. 1.2 Quan hệ giữa cán cân thanh toán và DTNH. Trong mậu dịch quốc tế, một quốc gia sẽ xuất khẩu và kiếm được ngoại hối thông qua việc họ bán hàng hóa và dịch vụ sang nước ngoài. Khi cầu của một quốc gia dẫn đến nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, nhưng ngoại tệ từ xuất khẩu không đủ bù đắp cho nhập khẩu sẽ dẫn đến thâm hụt TKVL. Thông thường, TKV dùng để bù đắp cho sự thâm hụt này, nhưng khi không đủ để bù trừ nó sẽ dẫn đến một sự sụt giảm trong cán cân tiền mặt về ngoại tệ, dẫn đến sụt giảm trong DTNH. Tương tự, DTNH sẽ tăng nếu xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Tóm lại : Tài khoản vãng lai + ∆ Tài khoản vốn = ∆ DTNH Các giao dịch bên trong cán cân thanh toán được phân loại thành 2 loại chính: giao dịch trên TKVL và giao dịch trên TKV. 1.2.1 Tài khoản vãng lai Giao dịch trên TKVL gồm chênh lệch xuất – nhập khẩu, chi trả tiền lãi và lợi tức cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài và các khoản chuyển giao đơn phương như viện trợ. Mối quan hệ tương quan giữa cán cân TKVL và DTNH được mô tả trong sơ đồ sau: 7 Hình 1.1: Mối quan hệ giữa tài khoản vãng lai và dự trữ ngoại hối Nguồn :Tác giả tổng hợp Trong đó, A. Nhà xuất khẩu của một nước bán hàng hòa (hoặc dịch vụ) cho đối tác nước ngoài và nhận về ngoại tệ. B. Nhà xuất khẩu đi đến NHTW để đổi ngoại tệ về nội tệ, vì vậy làm tăng lượng nội tệ trong nước. C. Trong giao dịch xuất nhập khẩu, cơ quan đại diện Chính phủ ở đây có thể là các cơ quan thuế. Các cơ quan này đánh thuế trên hoạt động xuất nhập khẩu với tỷ lệ thuế nói chung là x%, thu về x% nội tệ tính trên các giao dịch ngoại tệ, điều này giúp giảm lượng tiền tệ lưu hành trong nước. D. Lượng x% nội tệ này sẽ được chuyển về cho NHTW. E. Giúp giảm bớt lượng tiền tệ lưu hành trong nước nhằm các mục tiêu cơ bản của Nhà nước, như kiềm chế lạm phát.. NHTW lúc này bán trái phiếu trên thị trường mở mà điển hình ở đây là thị trường trái phiếu Chính phủ nhằm thu tiền về. Lúc này, trên bảng báo cáo của NHTW sẽ thấy một lượng dự trữ được tích lũy hàng năm. 1.2.2 Tài khoản vốn Giao dịch trên TKV gồm những khoản đầu tư nước ngoài ngắn và dài hạn. Cụ thể gồm: các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI, khoản đầu tư của các tổ chức đầu tư nước 8 ngoài vào trong nước – QFII quota, khoản đầu tư của các tổ chức đầu tư trong nước ra nước ngoài – QDII quota và các khoản vay mượn nước ngoài, các dòng vốn đầu cơ. Quá trình dịch chuyển dòng vốn trên TKV được minh họa trong sơ đồ: Sự dịch chuyển dòng vốn từ nước ngoài vào nội địa của một quốc gia trên TKV cũng chịu sự quản lý từ Chính phủ tương tự như tài khoản vãng lai. Chỉ khi có sự chấp nhận từ phía Chính phủ, các dòng vốn này mới được phép vào nội địa, thông qua các dự án hợp tác kinh doanh giữa khu vực công là các doanh nghiệp Nhà nước và khu vực tư là các công ty tư nhân mà các tổ chức đầu tư nước ngoài thành lập. Các dự án này thông thường là những dự án như BOT, BT, BTO; góp phần xây dựng các cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế đất nước. Khi các hợp đồng, dự án được ký kết, quá trình chuyển tiền vào nội địa một quốc gia sẽ thông qua hệ thống ngân hàng của quốc gia đó. Bên cạnh việc gia tăng hoạt động đầu tư cho đất nước, với lượng vốn đổ vào, ngân hàng trung ương cũng giữ lại một phần dự trữ của đất nước cho những mục đích bình ổn kinh tế. Khi các dòng vốn nước ngoài vào sẽ khiến cho một lượng lớn nội tệ được quy đổi và lưu hành trong nền kinh tế, điều này khiến nguy cơ gây áp lực lạm phát rất cao, làm cho giá cả trong khu vực thị trường tài chính dễ thay đổi. Từ đó, buộc lòng ngân hàng trung ương phải có sự điều tiết từ nguồn dự trữ của mình để bình ổn giá. 1.2.3 Cán cân thanh toán Trong cán cân thanh toán, TKVL và TKV cũng có mối quan hệ bổ sung cho nhau. Giá trị ròng giữa TKVL và TKV cũng sẽ ảnh hưởng đến DTNH của quốc gia, và sự thâm hụt hay thặng dư trên tài khoản này sẽ được bù đắp cho tài khoản kia. Thâm hụt trong TKVL không nhất thiết là một chỉ báo âm, miễn là sự thâm hụt này được dùng để tăng khả năng sản xuất vì điều này giúp tăng khả năng mở rộng nền kinh tế và giá trị xuất khẩu trong tương lai. Tương tự, một sự thặng dư trong TKVL cũng không nhất thiết đưa đến sự phồn thịnh kinh tế. Nước Nga những năm 90 của thế kỷ XX là một ví dụ điển hình. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa và quân sự mang lại cho họ nguồn ngoại tệ lớn, nhưng đảo chiều dòng vốn xảy ra và dẫn đến thâm hụt trên TKV. Trung Quốc hiện nay có một sự thặng dư lớn trên cả TKVL và TKV nên DTNH của họ tăng lên theo từng tháng. Ngoài ra, thay đổi tỷ giá trên thị trường tài chính cũng dẫn đến sự thay đổi trên DTNH quốc gia. Cụ thể như sau: Trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định5, thặng dư (thâm hụt) trong cán cân thanh toán sẽ làm tăng (giảm) lượng DTNH của NHTW. Thặng dư trong cán cân thanh toán hàm ý cung ngoại tệ trong thị trường ngoại hối tăng lên và có xu hướng làm giảm tỷ giá hối đoái. Để 5 Tỷ giá niêm yết tính theo phương pháp trực tiếp 9 tránh hiện tượng này, NHTW mua ngoại tệ (bán nội tệ), kết quả là DTNH (và cung tiền) tăng. Trong hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn, cán cân thanh toán tự động cân bằng. Nếu có thâm hụt (thặng dư) trong cán cân thanh toán, hàm ý cầu (cung) ngoại tệ tăng nên tỷ giá hối đoái sẽ tăng (giảm) để giữ cân bằng trong cán cân thanh toán. Tuy nhiên, đây chỉ là hệ thống tỷ giá về mặt lý thuyết. Thực tế, hầu hết các quốc gia theo đuổi chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý. Do vậy, thay đổi trong cán cân thánh toán cũng tác động đến lượng ngoại hối mà NHTW nắm giữ. Mối quan hệ giữa các thành phần của cán cân thanh toán và DTNH có thể được tóm lại theo sơ đồ sau: Hình 1.2: Mối quan hệ giữa các thành phần cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối Nguồn: Tác giả tổng hợp 1.3 Quan hệ giữa DTNH và bộ ba bất khả thi trong thời khủng hoảng Một đóng góp cơ bản của mô hình Mundell – Fleming là bộ ba bất khả thi, hoặc bộ ba chính sách không thể đồng thời, chỉ ra rằng một đất nước chỉ có thể thực hiện đồng thời bất cứ hai mục tiêu nào nhưng không thực hiện được một lúc ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, chế độ tỷ giá hối đoái cố định và tự do hóa tài chính. Bộ ba chính sách không thể đồng thời được gọi là “bộ ba bất khả thi” được minh chứng như trong hình phía dưới. Mối cạnh của một tam giác – đại diện cho chính sách tiền tệ độc lập, chế độ tỷ giá hoái đoái cố định và tự do hóa tài chính – mô tả mong muốn mục tiêu tiềm năng, chưa bao giờ có thể đạt được đồng thời cả ba cạnh của một tam giác. Đỉnh cao nhất thể hiện cho “những thị trường vốn đóng của” – liên kết với chính sách tự do hóa tiền tệ và chế độ tỷ giá hối
- Xem thêm -