Tài liệu đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa “kết quả”, “tổng kết” tiếng việt và tiếng anh (trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội)

  • Số trang: 221 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 41 |
  • Lượt tải: 0
thanhphoquetoi

Tham gia: 05/11/2015

Mô tả:

MỤC LỤC MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................... 2 3. Đối tƣợng, phạm vi và tƣ liệu nghiên cứu ................................................................ 3 4. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................................... 4 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án ................................................................... 5 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án .................................................................. 6 7. Kết cấu của luận án………………......…………………….........…….……........... 6 CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT.. 7 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................ 7 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở nƣớc ngoài .................................... 7 1.1.2. Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở Việt Nam....................................... 9 1.2. Cơ sở lý thuyết ..................................................................................................... 12 1.2.1. Văn bản và liên kết ............................................................................................. 12 1.2.2. Phép nối và từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết …….................….... 23 1.2.3. Thể loại văn bản khoa học …………………….…....……....…........................ 38 1.2.4. Ngôn ngữ học đối chiếu …………………...…….............................................. 41 1.3. Tiểu kết….…………........………….….....…………...….……....….................. 42 CHƢƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA KẾT QUẢ, TỔNG KẾT TRONG VBKHXHTV VÀ VBKHXHTA ............................................................................................................... 44 2.1. Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA............................................................................................................ 44 2.1.1. Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt...... 44 2.1.2. Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Anh...... 47 2.2. Đối chiếu số lƣợng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA.................................................... 48 2.2.1. Số lƣợng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và tiếng Anh.................................................................................................. 48 2.2.2. Một số nhận xét chung về số lƣợng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và tiếng Anh................................................... 49 2.3. Đối chiếu về đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA................................... 53 2.3.1. Vị trí của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn............ 53 2.3.2. Yếu tố đi kèm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn ............... 55 2.3.3. Chức năng cú pháp của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn... 55 2.3.4. Đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết 53 trong VBKHXHTV và VBKHXHTA................................................................. 59 2.4. Tiểu kết ................................................................................................................ 104 CHƢƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT - LẬP LUẬN CỦA TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA KẾT QUẢ, TỔNG KẾT TRONG VBKHXHTV VÀ VBKHXHTA .............................................................................................................. 106 3.1. Đối chiếu đặc điểm liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA.......................................................... 106 3.1.1. Đặc trƣng liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết................. 106 3.1.2. Cấu trúc liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết................... 107 3.1.3. Các mô hình liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết............ 110 3.1.4. Một số nhận xét chung về các mối quan hệ liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết........................................................................................ 125 3.2. Đối chiếu đặc điểm lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA................................................................. 127 3.2.1. Giá trị liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết có tác dụng tạo ra quan hệ lập luận cho văn bản…………………..………………………. 127 3.2.2. Đặc điểm lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết......……... 129 3.2.3. Đối chiếu đặc điểm liên kết và lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA......……………………..... 142 3.3. Tiểu kết ................................................................................................................. 144 KẾT LUẬN................................................................................................................. 146 CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN........................ 150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………............ 151 NGUỒN NGỮ LIỆU KHÁO SÁT……………………………………….................. 160 PHỤ LỤC………………………………………......................................................... 167 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT A: Chủ ngôn B: Kết ngôn ĐHQG: Đại học Quốc gia E: (Văn bản) Anh HN: Hà Nội KHXH: Khoa học xã hội KHXH&NV: Khoa học xã hội và Nhân văn PN: Phát ngôn SL: Số lƣợng r: Phƣơng tiện nối TNN: Từ ngữ nối TB: Trung bình VB: Văn bản VBKH Văn bản khoa học VBKHXH: Văn bản khoa học xã hội VBKHXHTV: Văn bản khoa học xã hội tiếng Việt VBKHXHTA: Văn bản khoa học xã hội tiếng Anh V: (Văn bản) Việt U (Utterance): Phát ngôn DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Số lƣợng và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA............................................ 48 Bảng 2.2. Số lƣợng và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA theo nhóm........................ 49 Bảng 2.3. So sánh 10 từ ngữ nối có tần suất sử dụng cao nhất trong VBKHXHTV và VBKHXHTA........................................................................................ 52 Bảng 2.4: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là từ.............. 68 Bảng 2.5: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là từ.............. 75 Bảng 2.6: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là cụm từ...... 86 Bảng 2.7: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là cụm từ ..... 91 Bảng 2.8: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV có hình thức là mệnh đề... 98 Bảng 2.9: Số lƣợng, hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và tần suất xuất hiện của từ ngữ nối kết quả, tổng kết trong VBKHXHTA có hình thức là mệnh đề... 102 Bảng 3.1: Từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong mối quan hệ giữa chủ ngôn và kết ngôn trong VBKHXHTV và VBKHXHTA.................... 126 Bảng 3.2. Các kiểu quan hệ lập luận do nhóm từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết biểu thị trong VBKHXHTV và VBKHXHTA........................................ 133 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Ngôn ngữ học văn bản (Text linguistics, Textual linguistics) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học hiện đại. Những vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học văn bản hiện đang rất đƣợc quan tâm nghiên cứu, trong đó có liên kết văn bản (VB). Liên kết là điều kiện rất quan trọng để một tập hợp câu nào đó trở thành một VB bởi lẽ VB hoàn toàn không phải là một phép cộng đơn thuần của các câu có nghĩa mà giữa chúng phải có sợi dây liên hệ chặt chẽ tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trọn vẹn, rõ ràng, mạch lạc. Tính liên kết đƣợc xem là một đặc trƣng quan trọng nhất của VB, thậm chí, quyết định ―chất‖ của VB. Vì vậy, đối với mỗi VB, phƣơng tiện liên kết không chỉ là nhân tố quan trọng mà còn là yêu cầu bắt buộc và hầu hết các nhà nghiên cứu về VB đều rất quan tâm đến nguyên tắc và khả năng liên kết giữa các bộ phận của VB với nhau. Để tạo thành VB, các câu trong đó phải liên kết, gắn bó với nhau theo một nguyên tắc nhất định và theo những phƣơng thức nhất định. Trong các phƣơng thức liên kết, phép nối là một trong những phƣơng thức cơ bản đƣợc sử dụng phổ biến ở trong tất cả các loại VB, đặc biệt là trong văn bản khoa học (VBKH) và nó cũng là phƣơng thức phổ quát của nhiều ngôn ngữ. Trong phƣơng thức liên kết nối, từ ngữ nối chính là phƣơng tiện ngôn ngữ quan trọng thực hiện chức năng liên kết giữa các câu/phát ngôn theo một mối quan hệ ngữ nghĩa xác định, là dấu hiệu chỉ ra một cách tƣờng minh mối liên hệ giữa các phát ngôn trong VB. Với chức năng liên kết, từ ngữ nối đóng vai trò không thể thiếu trong việc định hƣớng ngữ nghĩa và tạo ra cấu trúc ngữ nghĩa của các thành phần trong VB, từ đó giúp cho VB mạch lạc, sáng rõ. 1.2. Trong tiếng Việt và tiếng Anh đều có các từ ngữ nối biểu thị các phạm trù ngữ nghĩa khác nhau khá đa dạng. Nếu nhƣ tiếng Việt có các từ ngữ nối thuộc các phạm trù không gian - thời gian, tương phản - nhượng bộ, giả thiết - nguyên nhân, khái quát - cụ thể, kết quả - tổng kết (tóm tắt)… thì tiếng Anh cũng có các từ ngữ nối dùng để chỉ nguyên nhân, kết quả, mục đích, tương phản, điều kiện... tƣơng ứng. Thực tế đã có một số nghiên cứu bƣớc đầu về các đơn vị từ ngữ nối theo các phạm trù nói trên, nhƣng nghiên cứu một cách có hệ thống thì hiện vẫn còn bỏ ngỏ, đặc biệt là nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc sử dụng trong các VBKH thì hầu nhƣ chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu. Đây là những từ ngữ có 1 chức năng đƣa ra kết quả hoặc nêu lại những ý chính, những điều cơ bản, chủ yếu của vấn đề hay những nhận định chung mang tính khái quát. Quan hệ này thƣờng thực hiện sự liên kết giữa hai hoặc với nhiều phát ngôn khác nhau trong VB. Những từ ngữ nối theo quan hệ này phổ biến nhƣ: vì vậy, do đó, cho nên, như vậy, tóm lại, nhìn chung, suy cho cùng, nhìn một cách khái quát… Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa “kết quả”, “tổng kết” tiếng Việt và tiếng Anh (trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội) để làm rõ đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa - liên kết - lập luận của từ ngữ nối chỉ kết quả, tổng kết trong hai ngôn ngữ Việt - Anh. Thông qua đề tài này, luận án mong muốn làm sáng tỏ các đặc điểm và chức năng của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết, đặc biệt là giá trị liên kết của chúng trong các VBKH tiếng Việt và tiếng Anh. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích thiết thực cho việc dạy - học ngôn ngữ ở bậc đại học, đặc biệt trong việc hiểu rõ chức năng liên kết của từ ngữ nối biểu thị kết quả, tổng kết trong cả hai ngôn ngữ. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận án là nhằm tìm hiểu các đặc điểm về cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết - lập luận của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc sử dụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh trên cơ sở lý thuyết phân tích diễn ngôn, qua đó đối chiếu để tìm ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh trên các bình diện này, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của nhóm từ ngữ nối này trong việc tạo giá trị liên kết cũng nhƣ khả năng tạo giá trị biểu đạt trong hoạt động, hành chức ở VB. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục đích trên, luận án cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau: (i) Xác lập cơ sở lý luận thông qua việc trình bày một số vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học VB, một số vấn đề liên quan đến phép nối, từ nối, trên cơ sở đó xác định các tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VB. (ii) Miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc sử dụng trong tiếng Việt và tiếng Anh trên ngữ liệu là các VB thuộc các ngành KHXH. Cụ thể, luận án xem xét đặc điểm cấu tạo, vị trí chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa của loại từ ngữ nối này thể hiện 2 trong phát ngôn, qua đó chỉ ra sự tƣơng đồng và khác biệt của nhóm từ ngữ nối này trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh từ bình diện cấu trúc - ngữ nghĩa. (iii) Miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm liên kết - lập luận của nhóm các từ ngữ nối trên đƣợc sử dụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh. Cụ thể, luận án xem xét các mối quan hệ liên kết và quan hệ lập luận của từ ngữ nối loại này thể hiện trong VB, qua đó chỉ ra sự tƣơng đồng và khác biệt của nhóm từ ngữ nối này trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh từ bình diện liên kết - lập luận. 3. Đối tƣợng, phạm vi và tƣ liệu nghiên cứu 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận án xác định đối tƣợng nghiên cứu là những từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc sử dụng trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc xem xét nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc sử dụng không nằm trong phát ngôn giao tiếp (lời nói), cũng không phải là các phát ngôn riêng lẻ, mà là các phát ngôn gắn bó với nhau trong VB với ngữ cảnh đủ bề rộng đƣợc rút ra từ các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh. Điều này có nghĩa là luận án xem xét đặc điểm của các từ ngữ nối loại này trong cả chuỗi phát ngôn bởi lẽ các phát ngôn liên quan đƣợc xem là yếu tố góp phần tạo nên ngữ cảnh cần thiết giúp cho việc phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa - liên kết - lập luận của phát ngôn chứa từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết đạt hiệu quả cao nhất. 3.2. Tư liệu nghiên cứu VBKH là thể loại VB rất phong phú, tồn tại dƣới nhiều hình thức khác nhau. Trong luận án này, chúng tôi giới hạn lựa chọn một hình thức VB chung cho cả tiếng Việt và tiếng Anh, đó là các bài báo khoa học. Các bài báo khoa học mà chúng tôi lựa chọn làm tƣ liệu nghiên cứu là các bài nghiên cứu đƣợc đăng tải trên một số tạp chí KHXH mang tính đa ngành hoặc liên ngành và chúng thuộc nhiều ngành KHXH khác nhau nhƣ văn học, ngôn ngữ học, lịch sử, kinh tế, chính trị, pháp luật… Đây hầu hết là các nghiên cứu mang tính điều tra, phân tích dựa trên quan sát và nguồn tƣ liệu nhằm tìm ra mối quan hệ nhân quả hoặc những phát hiện mới, những nhận định, đánh giá... có giá trị nhất định về chuyên môn. Vì vậy, việc sử dụng các từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết trong những nghiên cứu này là rất cần thiết, giúp cho tác giả thể hiện sự suy luận logic trong vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, các bài báo 3 thƣờng là các VB có dung lƣợng ngắn, trung bình khoảng từ 5000 từ đến 7000 từ nên sẽ dễ mang tính khả thi hơn trong việc phân tích các từ ngữ nối ở từng VB. Với cách lựa chọn nhƣ trên, nguồn ngữ liệu cụ thể của luận án bao gồm 60 VBKHXH tiếng Việt đƣợc trích xuất từ một số tạp chí mang tính đa ngành, liên ngành nhƣ tạp chí KHXH Việt Nam, tạp chí KHXH và Nhân văn, tạp chí Nhân lực KHXH… Các tạp chí này hầu hết đƣợc xuất bản từ năm 2010 đến 2018. Đối với ngữ liệu tiếng Anh, luận án cũng có lựa chọn tƣơng tự. Để đối chiếu với tiếng Anh, luận án cũng lựa chọn ngữ liệu khảo sát là các từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc trích từ các VB thuộc các lĩnh vực KHXH nhƣ văn học, ngôn ngữ học, lịch sử, kinh tế, luật... tƣơng ứng trong tiếng Anh, nghĩa là cũng đƣợc trích từ các tạp chí KHXH mang tính đa ngành, liên ngành nhƣ International Journal of Humanities and Social Sciences, International Journal of Cognitive Research in Science... Các tạp chí này cũng đƣợc xuất bản từ năm 2010 đến 2018. Tuy nhiên, để nguồn tƣ liệu giữa hai ngôn ngữ đƣợc tƣơng đƣơng, đối với tiếng Anh luận án chỉ lựa chọn 50 VBKHXH vì các VB tiếng Anh thƣờng dài hơn tiếng Việt (trung bình 1 bài báo tiếng Anh có độ dài khoảng 7000 từ, còn trong tiếng Việt xấp xỉ khoảng 6000 từ). [Chi tiết về ngữ liệu, xem ―Nguồn ngữ liệu khảo sát‖ ở phần cuối luận án]. Dựa trên các tiêu chí nhận diện [chi tiết về tiêu chí nhận diện các từ ngữ nối, xem mục 1.2.4.3. và mục 2.1 trong luận án], chúng tôi đã lọc ra đƣợc 115 từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và trong tiếng Anh con số này là 136 với các tần suất sử dụng khác nhau. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài, luận án sử dụng các phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp phân tích diễn ngôn: đƣợc xem là phƣơng pháp chủ đạo của luận án bởi lẽ liên kết cũng là một vấn đề quan trọng của phân tích diễn ngôn. Vì vậy, trong luận án này, các đặc điểm của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết sẽ đƣợc xem xét theo khung lý thuyết của phƣơng pháp phân tích diễn ngôn. Cốt lõi của phân tích diễn ngôn là xem xét mặt chức năng của ngôn ngữ. Cụ thể, phƣơng pháp này dùng để xem xét cách thức mà các từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc sử dụng gắn liền với ngữ cảnh. Nói cách khác, phƣơng pháp này dùng để xem xét sự hành chức của các từ ngữ nối này trong từng văn cảnh cụ thể khi phân tích ngữ nghĩa hay đặc điểm liên kết và quan hệ lập luận của chúng trong VBKH. 4 - Phương pháp miêu tả: dùng để miêu tả các đặc điểm về cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết - lập luận của nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết. - Phương pháp so sánh đối chiếu: đƣợc sử dụng để đối chiếu giữa từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong tiếng Việt với tiếng Anh về mặt cấu trúc ngữ nghĩa và liên kết - lập luận, qua đó tìm ra sự tƣơng đồng và khác biệt của chúng ở các bình diện này. Nghĩa là trong nghiên cứu này, luận án sử dụng phƣơng pháp so sánh, đối chiếu 1 chiều [đã đƣợc đề cập chi tiết ở mục 1.2.4. Ngôn ngữ học đối chiếu],đó là cách tiếp cận lấy cơ sở so sánh (Tertium comparationis) làm trung tâm]. - Thủ pháp phân tích logic ngữ nghĩa – ngữ dụng: nói tới phép nối là nói tới các quan hệ ngữ nghĩa, do vậy thủ pháp này đƣợc sử dụng để xem xét cách thức từ ngữ nối đƣợc sử dụng trong từng văn cảnh cụ thể. Hay nói cách khác, thủ pháp này dùng để xem xét vai trò của từ ngữ nối trong từng VB khác nhau khi phân tích ngữ nghĩa hoặc giá trị liên kết hay quan hệ lập luận của chúng trong VBKH. - Thủ pháp thống kê phân loại: dùng để xác lập, thu thập, tập hợp và phân loại các từ ngữ nối từ các nguồn khác nhau. Đó là các đoạn văn, các câu (phát ngôn) có chứa các từ ngữ nối loại này đƣợc sử dụng trong các VBKHXH. Các ngữ liệu thu thập đƣợc là cơ sở để đƣa ra các sơ đồ, bảng biểu, số liệu nhằm minh họa và thuyết minh cho các miêu tả, phân tích, nhận xét, kết luận của luận án. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Luận án là công trình đối chiếu chuyên sâu khá toàn diện và hệ thống về một mối quan hệ ngữ nghĩa cụ thể của từ ngữ nối trên phƣơng diện cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết - lập luận trong phạm vi nguồn ngữ liệu là các VBKHXH. Luận án miêu tả, phân tích và làm rõ các đặc điểm về mặt cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt trong sự so sánh, đối chiếu với tiếng Anh; chỉ ra các mối quan hệ liên kết cũng nhƣ các mô hình liên kết từ ngữ nối loại này thể hiện trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh. Thông qua việc tìm hiểu giá trị lập luận mà từ ngữ nối này thể hiện trong các VBKHXH, luận án cho thấy giá trị liên kết cũng nhƣ khả năng tạo giá trị biểu đạt của các từ ngữ nối loại này cũng nhƣ khẳng định vai trò quan trọng của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong việc tạo lập phát ngôn. 5 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm phong phú, sáng tỏ thêm lý thuyết về các phép liên kết và phƣơng tiện liên kết trong tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời góp phần làm phong phú thêm nguồn dữ liệu chuyên ngành ngôn ngữ học so sánh đối chiếu nói chung và đối chiếu tiếng Việt - tiếng Anh nói riêng. Các kết quả nghiên cứu, ở chừng mực nào đó, đã tạo tiền đề cho việc so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ về mặt cấu trúc - ngữ nghĩa - liên kết - lập luận ở các phạm vi nghiên cứu cụ thể. Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án đem lại những ứng dụng hữu ích trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ; có thể ứng dụng để biên soạn giáo trình chuyên khảo, giảng dạy ngôn ngữ; giúp ngƣời dạy và học hiểu và sử dụng chính xác hơn ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy tiếng Anh tại nơi tác giả công tác. Kết quả cũng giúp cho bản thân tác giả thấy đƣợc những điểm tƣơng đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, là cơ sở để tác giả có những nghiên cứu khác sau này. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Ngữ liệu khảo sát, Phụ lục, luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết. Đây là chƣơng luận án trình bày tình hình nghiên cứu về phép nối, từ ngữ nối và một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu nhóm từ ngữ nối này trong sự so sánh với tiếng Anh (trên cơ sở các VBKHXH). Chƣơng 2: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiếng Anh. Trong chƣơng này, luận án làm sáng tỏ đặc điểm cấu tạo và chức năng ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết, qua đó chỉ ra một số điểm tƣơng đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ. Chƣơng 3: Đối chiếu đặc điểm liên kết - lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiếng Anh. Trong chƣơng này, luận án làm rõ chức năng liên kết và giá trị lập luận mà nhóm từ ngữ nối này thể hiện trong các VBKHXH, qua đó rút ra một số điểm tƣơng đồng và khác biệt về đặc điểm này trong cả hai ngôn ngữ 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chƣơng này, luận án trình bày tình hình nghiên cứu về phép nối ở trong và ngoài nƣớc, đồng thời hệ thống hoá một số vấn đề lý thuyết cơ bản và lấy đó làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, gồm: VB và liên kết; phép nối và từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết; ngôn ngữ học đối chiếu và thể loại VBKH. 1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở nƣớc ngoài Trên thế giới, ngay từ rất sớm đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về các phép liên kết, trong đó có phép nối. Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu của Halliday & Hasan (1976): Cohesion in English (Phép liên kết trong tiếng Anh), Martin (1992): English Text - System and Structure (Văn bản tiếng Anh – hệ thống và cấu trúc), Halliday (1998): An Introduction to Functional Grammar (Dẫn luận ngữ pháp chức năng, ngƣời dịch: Hoàng Văn Vân), Nunan (1993): Introduction to Discourse Analysis (Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, dịch: Hồ Mỹ Huyền & Thanh Trúc), Collins & Hollo (2000): English Grammar - An Introduction… Các nghiên cứu này đƣợc coi là nền tảng cho việc nghiên cứu lý thuyết VB cũng nhƣ nghiên cứu về phép nối và mối quan hệ ngữ nghĩa của phép nối. Cụ thể, các công trình này đã đi vào xem xét phép nối ở nhiều phƣơng diện khác nhau nhƣ khái niệm, vai trò của từ nối, cách phân loại từ nối. Đặc biệt, các tác giả trên đều tập trung vào xem xét các mối quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn do các từ ngữ nối biểu thị thông qua sự phân loại phép nối dựa trên các quan hệ ngữ nghĩa. Chẳng hạn, Halliday & Hasan (1976) khẳng định phép nối phải dựa trên mối quan hệ về nghĩa giữa chúng và cái theo sau đƣợc kết nối một cách hệ thống với cái đi trƣớc. Đi sâu vào phân loại, Halliday & Hasan chia phép nối thành 4 loại dựa trên quan hệ về nghĩa, gồm: bổ sung (additive), đối lập (adversative), nhân quả (causal), thời gian (temporal). Trên cơ sở đó, tác giả đi vào thống kê và phân tích một số liên từ cơ bản thể hiện quan hệ ngữ nghĩa của phép nối. Trong công trình An Introduction to Functional Grammar, từ việc tập trung vào việc xem xét khái niệm cú (clause), Halliday (1998) đã soi rọi vào khái niệm liên kết và ngôn bản. Trong đó, đáng chú ý là ông phân chia phép nối theo ba phạm trù mang tính chất khái quát cao, gồm: chi tiết hoá (elaboration), mở rộng (extension), tăng cường (enhancement) và ông trình 7 bày khá chi tiết về các quan hệ ngữ nghĩa của phép nối. Những kết quả này đƣợc xem là những đóng góp lý luận tiếp theo mang tính nền tảng của Halliday trong việc mở đƣờng cho việc nghiên cứu về phép nối ở các ngôn ngữ khác nhau. Tƣơng tự, một số tác giả khác cũng có sự phân loại phép nối khá tƣơng đồng với Halliday. Dựa trên quan hệ ý nghĩa về thời gian, không gian và trình tự diễn đạt, Collins & Hollo (2000) phân chia các quan hệ phép nối thành 4 loại quan hệ cơ bản: bổ sung (additive), tương phản (adversative), nhân - quả (causal), thời gian (temporal). Sự tƣơng đồng này cũng có thể tìm thấy trong nghiên cứu của Nunan (1993). Tác giả cũng cho rằng có 4 loại quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu mà phép nối thực hiện, gồm: nghịch đối, bổ sung, thời gian, nguyên nhân. Đặc biệt, công trình của Nunan cũng có thể đƣợc xem là cơ sở lý thuyết khi nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối trong các ngôn ngữ. Trong công trình English Text - System and Structure, Martin (1992) tiến hành nghiên cứu VB tiếng Anh trên bình diện hệ thống - cấu trúc. Từ việc xem xét khá kĩ các phép liên kết nói chung và phép nối nói riêng trong các VB tiếng Anh, tác giả đề xuất các tiêu chí để phân biệt về cấp độ vĩ mô của từ nối gồm: nối bên trong và nối bên ngoài. Đây là hai thuật ngữ khá mới mẻ so với các công trình nghiên cứu về phép nối khác. Tiêu chí để phân biệt nối bên ngoài, tác giả dựa trên ngữ cảnh cụ thể, còn để nhận diện kiểu nối bên trong ông dựa trên khái niệm ―phóng chiếu‖. Từ sự phân biệt vĩ mô nối bên trong và bên ngoài nói trên, tác giả tiếp tục phân chia thành các loại nhỏ hơn theo các mối quan hệ: bổ sung (additive), nhân quả (consequential), so sánh (comparative), thời gian (temporal), định vị (location). Không đi vào các vấn đề lý thuyết chung của từ nối, nghiên cứu của Yuwei Liu (2016) lại tập trung vào cách sử dụng các từ nối chỉ quan hệ đối lập, nhân quả, thời gian trong văn tranh luận, mô tả và kể chuyện của các sinh viên Trung Quốc học tiếng Anh. Trong nghiên cứu này, tác giả đã dành phần lớn trang sách để tập trung phân tích các vấn đề: liên từ (conjunction), từ nối (connector), vai trò của từ nối, các loại từ nối và đi sâu vào xem xét ba quan hệ ngữ nghĩa của từ nối: quan hệ đối lập, quan hệ nhân quả, quan hệ thời gian. Nhƣ vậy, ở nƣớc ngoài việc nghiên cứu phép nối trong quan hệ với các phép liên kết khác đã đạt đƣợc những kết quả đáng chú ý. Đây có thể xem là nền tảng 8 quan trọng về mặt lý luận để chúng ta tiến hành nghiên cứu phép nối theo các mối quan hệ khác nhau và trong các văn bản cụ thể. 1.1.2. Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở Việt Nam Trong nƣớc, những vấn đề lý thuyết về phép nối cũng sớm đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm. Đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện, quy mô và hệ thống các vấn đề chung về văn bản, liên kết, phép nối, trƣớc tiên không thể không nhắc đến nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm (1985, tái bản: 1999, 2006), Diệp Quang Ban (1998). Hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985) đƣợc coi là công trình đánh dấu mốc cho sự phát triển mới về nghiên cứu ngữ pháp VB và các phép liên kết trong đó có phép nối. Công trình đi sâu nghiên cứu các khía cạnh của VB: từ phƣơng diện ngữ pháp, ngữ nghĩa cho đến ngữ dụng của phép nối. Dựa trên các kiểu phát ngôn, tác giả chia phép liên kết thành 2 loại chính: phép nối lỏng và phép nối chặt. Đi vào chi tiết, phép nối lỏng là phép nối dựa trên phƣơng thức liên kết hợp nghĩa và phát ngôn hợp nghĩa, trong khi phép nối chặt lại dựa trên phƣơng thức liên kết của ngữ trực thuộc. Đáng chú ý là trong phép nối lỏng, tác giả nêu ra và trình bày mô hình của các yếu tố từ vựng làm thành phần chuyển tiếp hay các từ làm phụ tố có ý nghĩa so sánh, chẳng hạn nhƣ: cũng, lại, vẫn, càng, còn, cứ. Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến cấu trúc khái quát của phép nối: ArB và trình bày các quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối. Dựa trên quan hệ ngữ nghĩa, tác giả phân chia phép nối theo ba mối quan hệ cơ bản, mỗi quan hệ lại có những tiểu loại cơ bản khác nhau: quan hệ định vị (thời gian, không gian); quan hệ logic diễn đạt (gồm: trình tự diễn đạt, thuyết minh - bổ sung, xác minh - nhấn mạnh); quan hệ logic sự vật (gồm: nhân quả và tƣơng phản - đối lập). Có thể thấy, trong công trình này, những đặc điểm cơ bản của phép nối trong VB tiếng Việt nói chung đã đƣợc miêu tả một cách chi tiết và hệ thống. Tƣơng tự, lấy các phát ngôn làm ngữ liệu nghiên cứu, công trình của Diệp Quang Ban (2006) Văn bản và liên kết trong tiếng Việt: văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn cũng dành một phần để xem xét các phép liên kết nói chung và phép nối nói riêng ngoài các vấn đề về VB, mạch lạc và đoạn văn. Trong việc phân chia phép nối ở cấp độ vĩ mô giống với kết quả phân chia của Trần Ngọc Thêm, tác giả cũng chia phép nối thành hai loại lớn: phép nối lỏng và phép nối chặt. Trong một số công trình khác sau đó: Văn bản (2007), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản (2009), 9 Diệp Quang Ban đã đi sâu vào các phép liên kết trong đó có phép nối và các quan hệ ý nghĩa thƣờng gặp của phép nối. Đi sâu tìm hiểu các phƣơng tiện nối, tác giả chia làm hai loại lớn: quan hệ từ (bình đẳng/phụ thuộc) và từ ngữ nối kết (đại từ thay thế/ những tổ hợp từ ngữ có ý nghĩa quan hệ và có tác dụng liên kết). Về các quan hệ thƣờng gặp trong phép nối, ngoài 4 quan hệ mà Halliday đã nêu: bổ sung, tương phản, thời gian, nhân quả, Diệp Quang Ban bổ sung hai loại quan hệ nữa, gồm: mục đích và điều kiện. Việc phân loại phép nối cũng đƣợc Nguyễn Thiện Giáp (2007) đề cập đến trong Dụng học Việt ngữ. Theo đó, tác giả chia phép nối thành 4 loại theo quan hệ ngữ nghĩa, gồm: đồng hướng, ngược hướng, nhân quả, thời gian - trình tự. Thực chất của quan hệ đồng hƣớng chính là quan hệ bổ sung, quan hệ ngƣợc hƣớng là quan hệ tƣơng phản mà các nghiên cứu trƣớc đã chỉ ra. Bên cạnh đó, tác giả còn gợi mở về chức năng liên kết hồi chỉ và khứ chỉ của phép nối nói chung. Nếu các công trình trên lấy ngữ liệu phát ngôn trong các VB viết tiếng Việt làm đối tƣợng để xem xét các phép liên kết cũng nhƣ phép nối thì công trình của Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) lại dựa trên ngữ liệu là lời nói để đi sâu vào các vấn đề cũng có tính khái quát về liên kết lời nói. Theo tác giả, phƣơng thức liên kết lời nói thể hiện trên hai phƣơng diện: liên kết bằng phƣơng thức ngữ kết học và liên kết bằng phƣơng thức ngữ dụng học. Đi sâu vào phƣơng thức liên kết ngữ kết học, tác giả tiếp tục phân chia thành ba tiểu loại: liên kết duy trì chủ đề, liên kết phát triển chủ đề và liên kết logic. Trong đó, phép nối đƣợc tác giả xếp vào loại phương thức liên kết logic. Ngoài phép nối bằng liên từ, theo tác giả còn có phép nối không có liên từ vì ―mặc dù từ nối không đƣợc sử dụng nhƣng quan hệ ngữ nghĩa vẫn đƣợc xác lập‖. Ngoài các chuyên khảo đề cập tới các từ ngữ nối còn có một loạt các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành và hội thảo khoa học đề cập đến từ ngữ nối ở những khía cạnh và mức độ khác nhau. Chẳng hạn, Nguyễn Đức Dân - Lê Đông (1985) tập trung xem xét các phƣơng thức liên kết của từ nối nói chung. Đỗ Thị Kim Liên (1995), Nguyễn Chí Hoà (2006) đề cập đến phép nối không có liên từ trong nội bộ câu ghép. Bên cạnh đó, Lƣơng Đình Khánh (2000, 2003) đi sâu khảo sát phép nối trong mối quan hệ giữa các phát ngôn và giá trị tu từ của chúng ở trong một số bài viết của Nguyễn Đình Thi và trong truyện ngắn ―Chí Phèo‖ - Nam Cao. Trong khi Lƣơng Đình Dũng (2005) quan tâm đến phƣơng pháp giảng dạy phép nối trong tiếng 10 Việt thì Ngô Thị Bảo Châu (2010) tiếp tục trở lại tìm hiểu quan hệ ―làm rõ‖ trong tiếng Việt, vốn là một trong những quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối nhƣng với những tiểu loại cụ thể, ít nhiều khác với các công trình đi trƣớc… Việc nghiên cứu phép nối tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Anh hoặc ngƣợc lại cũng là hƣớng nghiên cứu đang đƣợc chú ý hiện nay. Điều này đƣợc thể hiện trong các nghiên cứu của một số tác giả nhƣ: Ngô Thị Bảo Châu (2009), Bùi Văn Năm (2010), Nguyễn Thị Thanh Hà (2011), Nguyễn Thị Hoa (2011), Nguyễn Thị Hoàng Huế (2012)… Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc đối chiếu phép nối trong tiếng Việt với tiếng Anh trên một số phƣơng diện nhƣ đặc điểm cú pháp, đặc điểm ngữ nghĩa. Tuy nhiên, các công trình trên chỉ tập trung đối chiếu phép nối nói chung, không đi sâu vào đối chiếu các nhóm từ nối cụ thể. Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu này mang tính bƣớc đầu (luận văn thạc sĩ và khoá luận), chƣa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về vấn đề đối chiếu phép nối. Đi sâu nghiên cứu thực tiễn sử dụng của phép nối nhƣng ở từng mối quan hệ cụ thể của phép nối nhƣ trên có lẽ là địa hạt mới mẻ. Vì vậy, cho đến nay mới có một số nhóm từ nối theo phạm trù đã đƣợc nghiên cứu bƣớc đầu (các luận văn thạc sĩ), chẳng hạn: Thái Thị Nhƣ Quỳnh (2013) nghiên cứu về các cặp từ nối theo phạm trù hợp - tuyển, Nguyễn Thị Thu (2014) nghiên cứu từ nối theo phạm trù tương phản nhượng bộ, Vũ Thị Huyền Trang (2014) nghiên cứu từ nối theo phạm trù tương phản, Võ Thị Hƣờng (2017) nghiên cứu nhóm từ, cụm từ nối theo phạm trù kết quả tổng kết... Mặc dù các nghiên cứu này đặt trọng tâm tìm hiểu từng mối quan hệ ý nghĩa của các phƣơng tiện nối nhƣng mới dừng ở nghiên cứu ban đầu; hơn nữa, đối tƣợng nghiên cứu chỉ giới hạn là các từ ngữ nối tiếng Việt và trên nguồn ngữ liệu khảo sát là các tác phẩm văn học và một số văn bản nghị luận tiếng Việt. Có thể thấy việc nghiên cứu phép nối nói chung hết sức đa dạng ở nhiều phƣơng diện và mức độ khác nhau. Những vấn đề lý thuyết về phép nối đã đƣợc nghiên cứu khá kĩ và toàn diện. Các nghiên cứu trên cho thấy các xu hƣớng nghiên cứu phƣơng thức nối trong và ngoài nƣớc cho đến nay. Cụ thể, qua phần tổng quan trên có thể thấy hai xu hƣớng nghiên cứu về chúng: (1) Nghiên cứu phƣơng thức nối nhƣ là một từ loại trong các công trình ngữ pháp chuyên sâu; và (2) Nghiên cứu phƣơng thức nối nhƣ là một phƣơng thức liên kết diễn ngôn. Hiện nay, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học VB, hƣớng nghiên cứu về từ ngữ nối gắn liền với sự 11 phát triển ngữ pháp - chức năng và ngữ nghĩa - ngữ dụng ngày càng đƣợc quan tâm và thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu từng mối quan hệ nghĩa của phép nối do các phƣơng tiện nối đảm nhiệm là công việc cần thiết. Hơn nữa, điểm qua tình hình nghiên cứu có thể thấy chƣa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu đối chiếu các từ ngữ nối theo từng mối quan hệ nghĩa mà chúng biểu thị, cũng nhƣ nhóm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong các VBKHXH tiếng Việt và tiếng Anh. Vì vậy, luận án đã chọn đề tài này (Đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa “kết quả”, “tổng kết” tiếng Việt và tiếng Anh (trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội)) nhằm miêu tả và làm rõ đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết – lập luận của một nhóm từ ngữ nối khá đặc biệt trong hai ngôn ngữ Việt - Anh. 1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.2.1. Văn bản và liên kết 1.2.1.1. Câu và phát ngôn Trong ngôn ngữ học truyền thống, câu (sentence) thƣờng đƣợc xem xét ở mặt tĩnh tại, cô lập, tách khỏi ngữ cảnh giao tiếp. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học ứng dụng, các nhà nghiên cứu đã tập trung chú ý nhiều đến mặt hành chức của câu và câu trong hành chức đƣợc gọi là phát ngôn (utterance). Theo Yule (1997), nếu nhƣ cú pháp học nghiên cứu câu với tƣ cách là những đơn vị trừu tƣợng thì ngữ dụng học nghiên cứu các phát ngôn với tƣ cách là những ví dụ của hệ thống. Do câu là một đơn vị ở bậc ngôn ngữ nên nó là một đơn vị trừu tƣợng và chúng ta chỉ có thể nhận thức đƣợc câu thông qua các biến thể trong lời nói: đó là các phát ngôn. Phát ngôn chính là đơn vị hiện thực của câu trong giao tiếp. Nó là sản phẩm của lời nói, gắn liền với từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể. Nhƣ vậy, câu và phát ngôn thực chất không phải là hai đơn vị ngôn ngữ khác nhau. Chúng cùng một cấp độ nhƣng xuất phát từ các khía cạnh nghiên cứu khác nhau mà có sự phân biệt câu và phát ngôn. Xét về phƣơng diện cấu tạo ngữ pháp, tức là bậc trừu tƣợng, khái quát, đơn vị ngôn ngữ đƣợc tạo nên bởi sự kết hợp của các đơn vị nhỏ hơn nhƣ: từ, ngữ cố định, cụm từ tự do và theo những quy tắc nhất định thì đƣợc gọi là câu. Câu không gắn với tình huống sử dụng mà ở trạng thái cô lập, tĩnh tại và việc phân tích câu thƣờng chỉ tập trung vào mặt cấu tạo ngữ pháp. 12 Còn xét ở phƣơng diện sử dụng, mỗi câu luôn gắn liền với một tình huống cụ thể nhằm một mục đích giao tiếp nhất định và biểu thị một ý nghĩa cụ thể thì đƣợc gọi là phát ngôn. Phát ngôn chính là câu trong hoạt động giao tiếp. Phát ngôn chính là đơn vị nhỏ nhất của VB, thực chất là câu trong VB cho nên khi nói tới phát ngôn là nói đến sự tƣơng tác giữa nó với các phát ngôn khác xung quanh. Nó chịu sự tác động của đặc điểm kế thừa thông báo. Phát ngôn mở đầu là tiền đề cho các phát ngôn sau. Đến lƣợt mình, các phát ngôn sau là chỗ dựa cho các phát ngôn sau nữa, cứ thế chúng dựa vào nhau để tồn tại. Xét về mặt nội dung, phát ngôn có thể có nghĩa hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh. Tƣơng tự, về cấu trúc, phát ngôn cũng có thể thiếu thành phần nòng cốt (ngôn ngữ học truyền thống gọi là câu sai ngữ pháp). Vì vậy, nghĩa của phát ngôn chỉ đƣợc bộc lộ rõ trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Ngoài ra, câu có thể đƣợc xem xét ở phƣơng diện cấu trúc và tình huống sử dụng cụ thể nên gọi là câu - phát ngôn. Điều này muốn nhấn mạnh mối quan hệ của câu và phát ngôn. Trong nghiên cứu này, luận án coi phát ngôn là đơn vị cơ sở của phép nối trong VB, nghĩa là: luận án xác định phép nối là mối quan hệ liên kết tối thiểu giữa hai phát ngôn trở lên và nhận diện, xem xét đặc điểm, chức năng phát ngôn chứa từ nối trong sử dụng gắn liền với bối cảnh và tình huống giao tiếp. Tuy nhiên, về mặt hình thức của phát ngôn: với ngữ liệu nghiên cứu là các phát ngôn trong VB viết cho nên về mặt hình thức của phát ngôn, luận án vẫn căn cứ vào hình thức của câu để nhận diện các phát ngôn: phát ngôn đƣợc mở đầu bằng chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một số loại dấu câu nhất định. 1.2.1.2. Văn bản và diễn ngôn. Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn a. Văn bản và diễn ngôn Sự phát triển của ngôn ngữ học hiện đại đã đƣa phân tích ngữ pháp không chỉ giới hạn ở câu truyền thống mà còn hƣớng đến khảo sát cấu trúc trên câu, đặc biệt là xem xét mối quan hệ giữa các câu trong cả văn bản. Đây chính là cơ sở cho sự ra đời của một ngành mới: ngôn ngữ học văn bản (text linguistics, textual linguistics) mà giai đoạn sau các nhà nghiên cứu gọi là phân tích diễn ngôn (discourse analysis). Trong ngôn ngữ học VB hay phân tích diễn ngôn, ngoài khái niệm phát ngôn còn có hai khái niệm khác luôn song hành, đó là diễn ngôn (discourse) và văn bản (text). Đây đƣợc xem là hai khái niệm cơ bản, nền tảng của ngôn ngữ học VB và 13 phân tích diễn ngôn. Vì vậy, hai khái niệm này đƣợc hầu hết các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài lĩnh vực này đề cập tới, chẳng hạn nhƣ: Halliday & Hasan (1976), Brown & Yule (1983), Cook (1989), Nunan (1993), Asher (1994), Trần Ngọc Thêm (1985), Hồ Lê (1996), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Phạm Văn Tình (2002), Nguyễn Hoà (2008), Diệp Quang Ban (1998 & 2009), Nguyễn Thiện Giáp (2009)... Theo tổng kết của Diệp Quang Ban (2009), cùng với quá trình phát triển của ngôn ngữ học, khái niệm VB và diễn ngôn cũng đƣợc hiểu theo những cách khác nhau. Ở giai đoạn đầu, do trọng tâm của các nhà nghiên cứu tập trung vào sự kiện nói bằng chữ viết cho nên tên gọi văn bản đƣợc sử dụng để chỉ những sự kiện nói (tức là những sản phẩm của ngôn ngữ) bằng chữ viết và nói miệng có mạch lạc và liên kết. Nghĩa là VB thời kì này đƣợc dùng để chỉ các sản phẩm của cả hoạt động viết và nói, tức giao tiếp nói chung. Tiêu biểu cho quan niệm thời kì đầu này là định nghĩa về VB của Halliday & Hasan (1976): “Văn bản - một đơn vị của ngôn ngữ - được xác định không phải dựa vào độ dài ngắn, dạng nói hay viết, bao gồm một động từ hay nhiều… mà dựa vào tính chỉnh thể, thống nhất về nội dung ngữ nghĩa của nó”.... “Văn bản là một thuật ngữ ngôn ngữ học được dùng để chỉ bất kì một đoạn văn nào, dù là dạng nói hay viết, dù là dài hay ngắn, nhưng phải là một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh”. Và: “Văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ tồn tại trong quá trình sử dụng - giao tiếp hay tư duy” [123: 1-2]. Đồng thời, Halliday cũng chỉ rõ việc xác định VB phải gắn liền với ngữ cảnh, nghĩa là VB phải đƣợc xác định tuỳ thuộc vào văn cảnh và nội dung, ý nghĩa của các câu đi trƣớc và sau nó mà không thể xác định một cách tách rời các thành phần (câu, chuỗi câu) nào cấu tạo nên VB. [123: 295]. Nhƣ vậy, Halliday rất chú trọng đến các mối quan hệ về nghĩa giữa các phát ngôn trong VB. Tƣơng tự, Crystal (1992) quan niệm: “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng về những mục đích phân tích. Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích...” [116: 25]. Nhƣ vậy, VB không chỉ là sản phẩm của hoạt động viết mà còn là sản phẩm của hoạt động nói, nghĩa là VB còn luôn đƣợc đặt trong bối cảnh giao tiếp. Giai đoạn về sau, do ngôn ngữ nói đƣợc quan tâm nhiều hơn nên đã tạo thế cân bằng với ngôn ngữ viết: xuất hiện tên gọi thứ hai, đó là diễn ngôn. Do đó, ở thời kì 14 này các nhà nghiên cứu có xu hƣớng phân biệt, đối lập rạch ròi về nội hàm khái niệm giữa hai tên gọi này. VB dùng để chỉ sản phẩm ngôn ngữ dƣới dạng viết (chữ viết), còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ nói (nói miệng). Chẳng hạn, Hồ Lê (1996) phân biệt "Văn bản là chỉnh thể của một sản phẩm - viết để diễn đạt trọn vẹn một ý kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề. Ngôn bản là chỉnh thể của một sản phẩm - nói để diễn đạt trọn vẹn ý kiến về một vấn đề hoặc hệ thống vấn đề” [58: 55]. Một số tác giả khác cũng đề cập đến sự phân biệt VB và diễn ngôn ở những khía cạnh khác nhau nhƣ Brown & Yule (1983), Widdowson (1984), Cook (1989), Nunan (1993)... Chẳng hạn, theo Cook (1990), sự khác biệt giữa diễn ngôn và VB là sự khác biệt giữa chức năng và hình thức: VB là ―một chuỗi ngôn ngữ được hiểu một cách hình thức, bên ngoài ngữ cảnh‖, còn diễn ngôn là ―các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích‖ [114: 158]. Nhƣ vậy, với quan niệm VB thuộc về ngôn ngữ viết còn diễn ngôn là thuộc về lời nói thì theo cách hiểu này, diễn ngôn sẽ là một chuỗi phát ngôn đƣợc thực hiện trong quá trình giao tiếp bằng lời nói (thể hiện dƣới dạng âm thanh) và hàm ý có ngƣời nghe trực tiếp. Tuy nhiên, việc cố gắng phân biệt rạch ròi hai khái niệm này trong thực tế là vô cùng khó khăn, bởi vì thực tế cho thấy sản phẩm của diễn ngôn cũng thƣờng đƣợc ghi lại bằng chữ viết, nghĩa là bằng VB hiện hữu hay còn gọi là ―văn bản hoá‖. Mặc dù các tác giả trên cố gắng phân biệt diễn ngôn và VB nhƣng cách định nghĩa cho thấy họ chƣa làm rõ bản chất của sự khác biệt giữa hai khái niệm này, thậm chí là chúng hoà trộn vào nhau, rất khó phân biệt. Chẳng hạn, Crystal (1992) phân biệt diễn ngôn “là một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lý lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay truyện kể”. Còn văn bản “là một đoạn diễn ngôn xuất hiện dưới dạng nói, viết hoặc ở dạng kí hiệu bằng cử chỉ sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích. Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích‖ [116: 25]. Nhƣ vậy, Crystal cuối cùng vẫn không thể phân biệt rõ đƣợc hai khái niệm này vì cuối cùng ông vẫn coi VB ―là một đoạn diễn ngôn xuất hiện dƣới dạng nói, viết hoặc ở dạng kí hiệu‖. Cũng phản ánh thực tế này, Phạm Văn Tình (2002) thấy rằng trong nhiều VB, các nhân tố hội thoại và đơn thoại nhiều khi đƣợc hòa trộn vào nhau [98: 30]. Lý giải điều này, Nguyễn Hòa 15 (2008: 33-34) cho rằng: trong văn bản sẽ có cái diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có cái VB cho nên sự phân biệt trên chỉ mang tính tƣơng đối. Đây không phải là hai thực thể tách biệt mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp xã hội. Do vậy, việc sử dụng hai khái niệm này thay thế lẫn nhau là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, mặc dù trong thực tế sử dụng, ta không phân biệt giữa diễn ngôn và VB nhƣng khi muốn nhấn mạnh tới mặt hành chức hay mặt hình thức của ngôn ngữ thì vẫn có sự phân biệt. Nhƣ vậy, xuất phát từ góc nhìn cũng nhƣ quan điểm khác nhau nên mỗi nhà nghiên cứu đã đƣa ra các khái niệm VB cũng khác nhau. Mặc dù về cơ bản khái niệm VB và diễn ngôn là đồng nhất nhƣng đi sâu vào chi tiết cho thấy thuật ngữ VB vẫn có ngoại diên rộng hơn phạm vi diễn ngôn. Luận án này đi theo xu hƣớng: xem xét từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết (từ bình diện cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết – lập luận) đƣợc sử dụng trong các phát ngôn. Đồng thời, luận án cũng khảo sát các phát ngôn chứa từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc sử dụng trong các văn cảnh nhƣng lại đƣợc định dạng bằng VB hiện hữu (ghi lại bằng chữ viết). Vì vậy, để có một khái niệm VB làm việc, luận án tán thành với nhận định của Phạm Văn Tình (2002): Văn bản phải được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bó hẹp là đặc thù của ngôn ngữ viết - loại hình văn bản được xây dựng theo những định hướng về chủ đề và bố cục nhất định, thoát ly khỏi các bối cảnh giao tiếp bằng lời - mà nó còn là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn và được ghi lại bằng chữ viết [98: 29]. b. Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn Khi nói đến phân tích VB và phân tích diễn ngôn cũng là đề cập đến hai giai đoạn nghiên cứu của cùng một đối tƣợng: ngôn ngữ học VB. Giai đoạn đầu, để phân tích VB ngƣời ta căn cứ vào đơn vị tối thiểu là câu, và do VB đƣợc hiểu nhƣ tập hợp câu nên các nhà nghiên cứu sử dụng các phƣơng pháp và lý thuyết của câu theo quan điểm cấu trúc hình thức vào việc nghiên cứu VB và gắn liền với tên gọi ―ngữ pháp văn bản‖. Giai đoạn sau đánh dấu sự chuyển đổi đối tƣợng từ câu sang diễn ngôn, nghĩa là VB đƣợc hiểu nhƣ đơn vị của nghĩa không phải là đơn vị của ngữ pháp nên tên gọi diễn ngôn đƣợc sử dụng nhiều hơn và ―phân tích diễn ngôn‖ đƣợc chọn thay thế cho ―ngữ pháp văn bản‖. Tuy vậy, thuật ngữ ―văn bản‖ vẫn đƣợc dùng khi phân tích bề mặt từ ngữ của sự kiện nói trong phân tích diễn ngôn. Việc giải thích các từ 16
- Xem thêm -