Tài liệu đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý - tình cảm trong tiếng nga và tiếng việt

  • Số trang: 126 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1082 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH ĐỐI CHIẾU NHÓM THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI - 2009 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng trong tiếng Nga và tiếng Việt .............. 2 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu .............................................................. 3 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 3 5. Phƣơng pháp nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu ...................................... 4 6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài ..................................................... 4 7. Cấu trúc của luận văn ............................................................................. 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÍ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT ... 6 1.1 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt ................................................. 6 1.1.1 Phân biệt thành ngữ với từ ghép .................................................... 9 1.1.2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do .......................................... 11 1.1.3 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ ................................................ 12 1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ .................................................. 13 1.2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Nga ........................................... 14 1.2.1 Quan điểm về thành ngữ của Charles Bally ................................. 14 1.2.2 Quan điểm về thành ngữ của B.B.Виноградов ............................ 15 1.2.3 Quan điểm về thành ngữ của Н. М.Шанский .............................. 16 1.2.3.1 Thành ngữ dung hợp (TNDH) hay còn gọi là thành ngữ kết dính (Фразеологическое сращение) ............................................... 17 1.2.3.2 Thành ngữ thống nhất (TNTN) hay còn gọi là thành ngữ tổng hợp (Фразеологическоe единство) ................................................ 19 1.2.3.3 Thành ngữ kết hợp (TNKH) (Фразеологическоe сочетание) . 20 1.2.3.4 Thành ngữ tổ hợp (TNTH) (Фразеологическоe выражение).. 21 1.2.4 Nhận diện và phân biệt thành ngữ với từ và cụm từ trong tiếng Nga . 22 1.3 Các trạng thái tâm lí tình cảm và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình cảm........................................................................................................... 25 1.3.1 Phân biệt các trạng thái tâm lý tình cảm ....................................... 25 1.3.2 Phân loại thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm ..................................... 28 1.3.2.1 Nhóm thành ngữ chỉ sự xúc động .......................................... 28 1.3.2.2 Nhóm thành ngữ chỉ tâm trạng ............................................. 29 1.3.2.2 Nhóm thành ngữ chỉ tình cảm .............................................. 30 4. TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ....................................................................... 34 CHƢƠNG 2: CẤU TRÚC THÀNH NGỮ BIỂU THỊ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT .................................................... 35 2.1 Đặc điểm cấu tạo thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Nga 35 2.1.1 Đặc điểm về số lƣợng thành tố cấu tạo ............................................ 35 2.1.2 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của các thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm tiếng Nga ...................................................................................... 39 2.2 Cấu trúc thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình cảm trong tiếng Việt ............ 50 2.2.1 Đặc điểm về số lƣợng thành tố cấu tạo......................................... 50 2.2.2 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của các thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm tiếng Việt ...................................................................................... 52 2.2.3 Nhận xét chung về cấu trúc thành ngữ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt ...................................................................................................... 61 2.2.4 Đối chiếu thành ngữ biểu thị tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt .............................................................................................. 62 2.3 TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ..................................................................... 68 CHƢƠNG 3: NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ BIỂU HIỆN TRẠNG THÁI TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT ...... 70 3.1.1 Các nguồn và đích quy chiếu trong thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm tiếng Việt và tiếng Nga ......................................................................... 72 3.1.2 Các nguồn biểu trƣng trong thành ngữ tiếng Nga ......................... 90 KẾT LUẬN................................................................................................ 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 105 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1. Thống kê số lƣợng từ trong thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Nga..............................................................................(Trang 38) Bảng 2: Thống kê thành ngữ biểu thị trạng thái tâm lí tình cảm tiếng Nga theo quan hệ ngữ pháp. .............................................................(Trang 47) Bảng 3. Các nguồn biểu trƣng trong thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm tiếng Việt .............................................................................................(Trang 73) Bảng 4: Bảng thống kê nguồn biểu trƣng trong thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm tiếng Nga ..............................................................................(Trang 91 ) MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong hệ thống một ngôn ngữ, thành ngữ đồng hành cùng với từ, ngữ và các đơn vị ngôn ngữ khác tạo thành sự đa dạng cũng nhƣ đặc trƣng riêng cho ngôn ngữ đó. Có thể nói, thành ngữ là một bộ phận độc đáo của mỗi ngôn ngữ, bởi nó phản ánh đặc trƣng văn hóa dân tộc của mỗi ngôn ngữ, trong đó có những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của dân tộc bản ngữ. Chính vì lý do này mà thành ngữ luôn thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Trong cuộc sống hiện đại, những giá trị này vẫn còn đƣợc lƣu giữ lại trƣớc nhất và đầy đủ nhất trong ngôn ngữ, trong đó thành ngữ nói chung, thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng là sự phản ánh sâu sắc và giầu hình ảnh chiều sâu của tƣ duy cũng nhƣ những tƣ tƣởng tôn giáo, lễ giáo; những quan niệm về văn hóa và phong tục truyền thống; thậm chí là cả những thói quen thƣờng nhật…..của ngƣời bản ngữ. Việt Nam và Liên bang Nga có mối quan hệ hữu nghị sâu sắc. Liên bang Nga là nƣớc anh em đã giúp đỡ Việt Nam vƣợt qua rất nhiều khó khăn trong cả thời chiến tranh chống Mĩ và thời bình xây dựng lại đất nƣớc. Tiếng Nga cũng đã từng là một ngoại ngữ bắt buộc trong các trƣờng trung học phổ thông của Việt Nam từ thế kỷ trƣớc và hiện nay vẫn thu hút đƣơc nhiều sự quan tâm trong các trƣờng chuyên ngữ và đại học chuyên ngữ. Bởi lẽ đó, đối chiếu thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt sẽ cho ta một cái nhìn toàn vẹn hơn về dân tộc Nga, những quan niệm, truyền thống, văn hóa, phong tục và quan trọng nhất là đời sống tinh thần, thế giới nội tâm của dân tộc Nga. Đồng thời qua đó chúng ta cũng lại càng hiểu rõ hơn dân tộc mình. 1 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng trong tiếng Nga và tiếng Việt Ở Việt Nam, trong giới Việt ngữ, công trình đầu tiên đề cập đến thành ngữ tiếng Viêt có lẽ là của V. Barbier, một tác giả ngƣời Pháp với cuốn Les expressions comparatives de la langue anamite (Thành ngữ so sánh tiếng Việt-Quy Nhơn, 1925). Mấy năm sau, tác giả Cẩm Giang (1933) có bài viết Phê bình sách thành ngữ của ông Bửu Cân đăng trên tờ Nam Phong (1933, số 190), đặc biệt Dƣơng Quảng Hàm (1943) còn nêu sự khác biệt giữa tục ngữ và thành ngữ. Tuy nhiên phải đến những năm 70 của thế kỷ trƣớc trong giới Việt ngữ mới có nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm đến địa hạt thành ngữ. Một số công trình về từ vựng học và thành ngữ, tục ngữ bắt đầu đƣợc công bố. Năm 1978, cuốn từ điển Thành ngữ tiếng Việt do Nguyễn Lực và Lƣơng Văn Đang sƣu tầm đƣợc xuất bản đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ. Khoảng 20 năm trở lại đây, các nhà ngôn ngữ học đã đi sâu nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và những đặc trƣng văn hóa - dân tộc của thành ngữ. Các tác giả có những đóng góp quan trọng là Hoàng Văn Hành (1980), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thái Hòa (1982), Phan Xuân Thành (1980, 1983), Nguyễn Đức Tồn (1988), Nguyễn Văn Khang (1994). Việc nghiên cứu về tâm lý tình cảm đƣợc thể hiện trong thành ngữ chỉ mới đƣợc chú ý khoảng mƣơi năm trƣớc đây. Tuy vấn đề này đã đƣợc đề cập đến ít nhiều trong các tác phẩm của các tác giả trên, hoặc đƣợc trình bày rải rác ở trong một số các bài báo chuyên đề chứ chƣa có một tác phẩm chuyên khảo nào dành cho vấn đề này. Đã có một số tác giả tiến hành đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa hai thứ tiếng trong luận văn thạc sĩ nhƣ Lâm Thị Hòa Bình với luận văn Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng Anh và tiếng Việt (2000) hay tác giả Vi Trƣờng Phúc với luận văn Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán, có đối chiếu với tiếng Việt (2005) hoặc Nguyễn Văn Trào với bài báo Thành ngữ biểu thị tình cảm 2 trong tiếng Anh , có đối chiếu với tiếng Việt (trên ngữ liệu các thành ngữ có chứa bộ phận cơ thể ngƣời) (2006). Tác giả Nguyễn Đức Tồn, trong luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn Специфика лексико - семантического поля названий частей человеческого тела (1988) đã đề cập đến đặc trƣng tƣ duy dân tộc của ngƣời Nga và ngƣời Việt thông qua các trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể ngƣời, nhƣng không dành cho việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm của hai dân tộc. Nguyễn Văn Hòa với luận án Tiến sĩ tiếng Nga Русские фразеологии, обозначаюшие внутреннее состояние человека, и способы их передачи во Въетнамском языке (2008) đã nghiên cứu thành ngữ Nga biểu thị trạng thái nội tâm của con ngƣời chủ yếu thông qua biểu trƣng душa (tâm hồn) và cердце (trái tim) và những phƣơng thức chuyển dịch những thành ngữ này sang tiếng Việt. Nhƣ vậy cho đến nay việc đối chiếu thành ngữ Nga - Việt về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa biểu hiện các trạng thái tâm lí tình cảm vẫn đang còn là một địa hạt bỏ ngỏ. 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Luận văn tiến hành nghiên cứu và phân loại toàn bộ thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm của con ngƣời nhƣ vui, buồn, yêu, giận…trong tiếng Nga và tiếng Việt, sau đó đối chiếu để tìm những điểm giống và khác nhau trong cách tƣ duy dân tộc khi giao tiếp bằng thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của luận văn là đi sâu tìm hiểu những nét đặc trƣng về cấu trúc và ngữ nghĩa của các thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt, từ đó tìm ra nét tƣơng đồng và sự khác biệt trong sự tri nhận thế giới, quan điểm, tƣ duy và các đặc trƣng văn hóa của hai dân tộc để có thể hiểu đúng cũng nhƣ sử dụng chính xác các thành ngữ trong giao tiếp. 3 Để đạt đƣợc mục đích đặt ra, luận văn giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Các quan niệm về thành ngữ của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Nga; - Phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ tƣơng đƣơng; - Thành ngữ biểu hiện các trạng thái tâm lý tình cảm xét trên phƣơng diện ngôn ngữ học, tâm lý học và tiêu chí nhận diện thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm. - Phân loại thành ngữ tâm lý tình cảm theo các phạm trù và sắc thái tình cảm. - Tìm hiểu những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ tâm lý tình cảm. - So sánh - đối chiếu các nguồn biểu trƣng trạng thái tâm lí tình cảm trong hai ngôn ngữ để thấy đƣợc đặc trƣng văn hóa - dân tộc của hai dân tộc. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu Phƣơng pháp đƣợc sử dụng chủ yếu là phƣơng pháp đối chiếu tƣơng phản và phƣơng pháp phân tích thành tố trực tiếp. Phƣơng pháp đối chiếu tƣơng phản giúp chỉ ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt trong hình thức, cấu tạo và cách sử dụng thành ngữ của hai ngôn ngữ. Còn phƣơng pháp phân tích thành tố trực tiếp chỉ rõ cấu tạo bên trong của thành ngữ theo tầng bậc và khả năng kết hợp của các thành tố trong thành ngữ của cả hai ngôn ngữ. Luận văn sử dụng các tài liệu chính sau đây: - Về tiếng Nga: Р. И. фразеологии для Яранцев, Словарь - справочник по Русской иностранцев và А. И. Молотков (1986) Фразеологический словаръ Рус. языка - Về tiếng Việt: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân, 1997), Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lƣơng Văn Đang, 1993),vv... 6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài Thành ngữ biểu thị các trạng thái tâm lý tình cảm là những thành ngữ diễn tả “sự hoạt động của nội tâm”, việc thể hiện cảm xúc của mình qua thành 4 ngữ là biểu hiện sự tự nhận thức và khả năng liên hội bản thân với giới tự nhiên. Qua việc đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt, luận văn hi vọng sẽ góp phần giúp nhìn nhận đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thành ngữ - một đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa và giá trị sử dụng đặc biệt trong hoạt động giao tiếp. Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn mong muốn góp thêm một phần nhỏ trong việc làm sáng tỏ những đặc trƣng văn hoá – dân tộc của thành ngữ, cung cấp những thông tin về các yếu tố văn hóa, dân tộc và tâm lý xã hội của dân tộc Nga trong sự so sánh đối chiếu với dân tộc Việt. Các kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho việc dạy và học tiếng Nga nói chung và thành ngữ tiếng Nga nói riêng đạt đƣợc hiệu quả cao hơn, đồng thời cũng giúp ích cho quá trình biên dịch và phiên dịch thành ngữ từ tiếng Nga sang tiếng Việt và ngƣợc lại. 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1: Một số cơ sở lý luận về thành ngữ và thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt - Chƣơng 2: Cấu trúc của thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm tiếng Nga và tiếng Việt - Chƣơng 3: Ngữ nghĩa của thành ngữ biểu hiện trạng thái tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÍ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 1.1 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt Thành ngữ tham gia vào hệ thống ngôn ngữ với tƣ cách là đơn vị từ vựng đƣợc dùng làm chất liệu để tạo ra câu thực hiện chức năng giao tiếp. Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, thành ngữ trong tiếng Việt là cụm từ cố định (CTCĐ), hay ngữ cố định – đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, có giá trị tƣơng đƣơng nhƣ từ xét cả về chức năng định danh và chức năng tham gia tạo câu. Hai đặc tính cơ bản của CTCĐ là tính cố định về cấu trúc và tính thành ngữ về nội dung ngữ nghĩa. Tuy vậy, không phải CTCĐ nào mang hai đặc tính này cũng đƣợc gọi là thành ngữ. Chỉ có loại cụm từ cố định nào hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, đồng thời nghĩa của nó phải có tính hình tƣợng và gợi tả thì mới đƣợc coi là thành ngữ . Hơn nữa, nghĩa của thành ngữ không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cộng lại (17;8). Nhƣ vậy, khái niệm về mặt biểu hiện nghĩa và mặt kết cấu hình thái của thành ngữ nhƣ nêu trên lại dễ gây nhầm lẫn với khái niệm đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ. Theo Nguyễn Thiện Giáp, một tổ hợp từ đƣợc coi là mang tính thành ngữ khi ý nghĩa chung của nó là hoàn toàn mới, khác với tổng số ý nghĩa của các từ thành phần tạo thành. Tuy nhiên, theo một số nhà ngôn ngữ học khác thì khái niệm trên chƣa thực sự rõ ràng. Vì vậy, các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng yếu tố tƣơng đƣơng (giữa hai ngôn ngữ) để định nghĩa tính thành ngữ. Một tổ hợp đƣợc coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ mà khi dịch toàn bộ tổ hợp thì ngƣời ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố - yếu tố đó chỉ tƣơng đƣơng với từ ấy chỉ khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong 6 một trật từ nhất định). Thêm vào đó, từ này có thể đƣợc gặp cả khi không có các yếu tố còn lại và khi ấy nó đƣợc dịch bằng một yếu tố khác. Hay thƣờng gặp nhất là cách hiểu nhƣ sau: Giả sử có một kết cấu X gồm các yếu tố a, b, c… hợp thành X = a+b+c. Nếu ý nghĩa của X không thể giải thích đƣợc bằng ý nghĩa của từng yếu tố a, b, c thì kết cấu X (hoặc tổ hợp X) có tính thành ngữ (4;154). Đây là những kết luận đƣợc rút ra trong quá trình nghiên cứu các cụm từ cố định và từ ghép vì chúng đều có cấu trúc ổn định và chặt chẽ, đều có tính thành ngữ và đều là những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ. Điều này cho thấy rõ ràng rằng tính thành ngữ có các mức độ cao thấp khác nhau trong các tổ hợp cấu trúc khác nhau vì cách tổ chức nội dung và hình thức của chúng theo những con đƣờng và phƣơng cách khác nhau (4;154). Vì vậy một đơn vị ngôn ngữ - hiện diện với tƣ cách là đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, tồn tại dƣới dạng làm sẵn, đƣợc cấu tạo với số lƣợng thành tố ổn định, không thay đổi và có ý nghĩa nhƣ một chỉnh thể tƣơng ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó – là đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ. Tất cả những đơn vị có đầy đủ những đặc điểm nhƣ trên sẽ mang tính thành ngữ - một tính chất cú pháp, ngữ nghĩa chung giống nhau cho một loạt các đơn vị ngôn ngữ. Còn thành ngữ lại là tên gọi của một tổ hợp từ thuộc đơn vị từ vựng. Một mặt, các đơn vị này mang tính thành ngữ, mặt khác mang tính cố định, có những đặc điểm hình thức và nội dung riêng biệt. Để hiểu đƣợc ý nghĩa của thành ngữ, chúng ta không chỉ dựa vào ý nghĩa của các từ thành phần cấu tạo thành ngữ và cấu trúc ổn định của thành ngữ mà còn phải dựa vào tình huống giao tiếp, đối tƣợng sử dụng, những biến đổi về mặt xã hội hay thói quen sử dụng thành ngữ của địa phƣơng…..Thành ngữ là cách nói bóng bẩy, gợi tả có hình tƣợng về một sự vật, hiện tƣợng khách quan. 7 Thành ngữ là cách diễn đạt ý tƣởng mang tính đặc trƣng của ngôn ngữ. Về mặt cấu trúc, phần lớn thành ngữ không thành câu với những từ ngữ mặc dù có thể phân tích nhƣng không thể tách rời. Về mặt ngữ nghĩa, thành ngữ mang một ý nghĩa không thể thay thế hay sửa đổi bằng cách nói khác để mang cùng ý nguyên thủy. Thành ngữ có ý nghĩa độc lập với từng nghĩa riêng lẻ của mỗi từ ngữ trong thành ngữ. Thành ngữ cũng có các hình thức mô tả, so sánh và ẩn dụ nhƣ phú, tỷ, hứng nhƣ trong ca dao hoặc tục ngữ. Các hình thức tu từ này không chỉ làm cho thành ngữ mang đậm đặc trƣng hình tƣợng – một đặc trƣng cơ bản của thành ngữ mà còn hỗ trợ, liên kết với nhau làm cho ý nghĩa của thành ngữ vừa sâu, vừa rộng, vừa bóng bẩy lại vừa gợi tả. Nó làm cho những hình ảnh, hiện tƣợng hay những sự vật cụ thể đƣợc mô tả, so sánh và ẩn dụ một cách bay bổng hơn. Nó giúp cho một ý tƣởng thông thƣờng đƣợc diễn tả bằng một lối rất riêng, rất hình tƣợng và mang tính văn hóa. Theo quan niệm của Nguyễn Công Đức (7) thì thành ngữ là “những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh – tức là gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy. Ngoài những đặc điểm của một đơn vị ngôn ngữ, thành ngữ còn có những dấu ấn của một đơn vị văn hóa, có tiềm ẩn, trầm tích những đặc điểm văn hóa dân tộc”. Nếu tạm thời chấp nhận khái niệm tính thành ngữ và các đơn vị mang tính thành ngữ nhƣ đã nêu trên, trong tiếng Việt ngƣời ta phân biệt các loại ngữ nhƣ thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, ngữ tự do và từ ghép. Đó là những đơn vị ngôn ngữ hay những tổ hợp từ đáp ứng đầy đủ ba điều kiện cần và đủ cho một đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ: là một tổ hợp từ, có nghĩa hình tƣợng, có cấu trúc cố định ở một mức độ nào đó. Vậy làm sao có thể nhận diện đƣợc những đơn vị ngôn ngữ trên một cách rõ ràng? Những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng là gì? Đây là câu hỏi đã đƣợc rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu và giải đáp. 8 1.1.1 Phân biệt thành ngữ với từ ghép Nói chung, giới hạn sẽ gặp ở bậc thấp nhất của thành ngữ là từ ghép. Giới hạn cao nhất của thành ngữ là câu. Thành ngữ tiếng Việt là đơn vị giáp ranh, nằm giữa hai đơn vị này. Trƣớc đây, trong việc phân biệt giữa từ ghép và thành ngữ đã tồn tại nhiều quan niệm rất khác nhau. Trƣớc hết, thành ngữ và từ ghép đều là những đơn vị từ vựng có sẵn và có chức năng định danh. Hai đơn vị ngôn ngữ này trong tiếng Việt đều thuộc cụm từ cố định nhƣng chúng vẫn đƣợc phân biệt nhau ở thành tố cấu tạo, ý nghĩa và cấu trúc (4;154). Từ ghép đƣợc cấu tạo dựa trên phƣơng thức tổ hợp hoặc ghép các tiếng lại mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có mối quan hệ về nghĩa với nhau (4;145). Đây là đơn vị tiếng Việt có ít nhất từ hai thành tố cấu tạo trở lên biểu hiện khái niệm chung về sự vật, hoạt động, tính chất hoặc trạng thái. Nghĩa của từ ghép diễn đạt một khái niệm một cách hoàn chỉnh. Trong quá trình phát triển, do nhu cầu giao tiếp, từ ghép đƣợc sử dụng một cách phổ biến và thông dụng với một kết cấu vững chắc và ý nghĩa phong phú. Tuy nhiên cũng có nhiều trƣờng hợp thành tố cấu tạo (hoặc hình vị cấu tạo nên từ ghép) lại là những yếu tố không có nghĩa hoặc không rõ ràng về nghĩa. Trong trƣờng hợp các thành tố cấu tạo nên từ ghép có nghĩa thì nghĩa của từ ghép có thể là nghĩa tổng hợp từ các khái niệm biểu trƣng của các thành tố (nhà cửa, đƣờng sắt, xe đạp...) còn trong trƣờng hợp một hay đa số các thành tố cấu tạo đều không rõ nghĩa hay bị mờ nghĩa thì từ ghép sẽ chỉ mang một ý nghĩa biểu niệm hoặc biểu vật duy nhất (chợ búa, bếp núc, gà qué, cỏ rả…). Giống nhƣ từ ghép, thành ngữ là cụm từ cố định luôn tồn tại mối quan hệ phi cú pháp giữa các thành tố. Mặt biểu hiện nghĩa của thành ngữ là một mặt rất phức tạp. Theo một số nhà nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, một bộ phận thành ngữ tiếng Việt cũng có tính đa nghĩa nhƣng trong số các nghĩa đó, nghĩa bóng có tầm quan trọng hơn cả. Nghĩa này có tính khái quát tƣợng 9 trƣng cho toàn bộ tổ hợp, tuy thế nó không phải là tổng hợp nghĩa của các thành tố cộng lại. Vì vậy, cho dù nghĩa của các thành tố đều rất rõ ràng và dễ hiểu nhƣng nghĩa của thành ngữ lại hoàn toàn không nằm trong vỏ vật chất cấu tạo nên thành ngữ. Đó chỉ là nghĩa đen mà thành ngữ nào cũng có. Vậy nghĩa của thành ngữ đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Nghĩa bóng – nghĩa thực sự của thành ngữ chỉ đƣợc nắm bắt trên cơ sở khả năng tổng hợp ngôn ngữ, óc suy diễn lô gíc, kiến thức nền và hiểu biết văn hóa xã hội để giải thích cho các hình ảnh biểu trƣng . Vì thế, nghĩa thực sự của thành ngữ luôn rộng hơn, sâu sắc hơn và trừu tƣợng hơn thậm chí trái ngƣợc với nghĩa đen mà chúng thể hiện. Nghĩa bóng của thành ngữ là nghĩa khái quát, tổng hòa của các mối quan hệ nội bộ của các thành tố cấu tạo. Khi sử dụng nghĩa bóng thì từng thành tố làm nên thành ngữ sẽ bị mất đi nghĩa thực (4;24). Một số thành ngữ có nghĩa biểu hiện ra rõ ràng, số khác lại có nghĩa ẩn tàng kín đáo nên khó có khả năng xác định đƣợc hết nghĩa của chúng, nhất là khi các thành ngữ đó có nghĩa phái sinh, nghĩa ẩn dụ, hàm súc. Nhƣ vậy, nghĩa của từ ghép gần với nghĩa biểu niệm của nó nhƣng nghĩa của thành ngữ lại khác so với nghĩa biểu niệm của thành ngữ. Thành ngữ chỉ là vỏ vật chất cấu tạo để thể hiện một ý nghĩa hình tƣợng, gợi cảm và bóng bảy. Chẳng hạn, ta có từ ghép Hán Việt “thƣ viện” là sự kết hợp giữa thƣ (sách) và viện (tòa nhà lớn) để chỉ một khái niệm “một nhà hay một nơi có nhiều sách”. Hay từ ghép thuần Việt “đƣờng sắt” là sự kết hợp giữa đƣờng (lối đi) và sắt (một chất liệu, một loại kim loại) để chỉ một khái niệm “đƣờng xe lửa chạy”. Còn thành ngữ “hét ra lửa” không chỉ hành động “hét” cũng không nói đến “lửa” mà muốn nói đến tình hống hách, cậy quyền, ỷ thế. Hai yếu tố “hét” và “lửa” kết hợp với nhau tạo thành nghĩa khái quát, nghĩa thực sự của thành ngữ. Nếu tách rời hay thay thế hai yếu tố này, ý nghĩa của thành ngữ sẽ bị phá vỡ và biến đổi. Vì vậy, theo Nguyễn Văn Mệnh (1986) có thể nói “về hình thức, mối quan hệ ngữ pháp trong thành ngữ phức tạp hơn, nhiều bậc hơn so với mối quan hệ ngữ pháp trong từ ghép”. 10 1.1.2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do Không chỉ đều là cụm từ, đƣợc tạo lập bằng sự tổ hợp của các từ mà cụm từ tự do và thành ngữ còn giống nhau về hình thức ngữ pháp dẫn đến quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố cấu tạo cũng giống nhau. Tuy vậy, giữa cụm từ tự do và thành ngữ còn có nhiều mặt khác biệt rất quan trọng. Cụm từ tự do (CTTD) đƣợc hình thành lâm thời trong hoàn cảnh giao tiếp, nhất là trong những hoàn cảnh giao tiếp phục vụ một mục đích biểu đạt nhất định khi ngƣời nói muốn diễn đạt một ý hơn mức bình thƣờng. Nó có thể đƣợc hình thành do các từ kết hợp lại rồi có thể tan vỡ vì nó không tồn tại dƣới dạng một đơn vị làm sẵn. CTTD chỉ là sự lấp đầy từ vào một mô hình ngữ pháp cho trƣớc mà thôi. Trong khi đó, thành ngữ lại là một đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dƣới dạng làm sẵn. Vì vậy nên các thành tố cấu tạo thành ngữ có số lƣợng ổn định, không thay đổi, còn số lƣợng thành tố cấu tạo CTTD lại có thể thay đổi tùy ý, tùy thuộc vào mục đích mà ngƣời nói muốn diễn đạt. Ví dụ thành ngữ: tham nhƣ mõ, ăn tƣơi nuốt sống…. và CTTD: ăn cơm ăn cháo (từ CTTD này ta có thể thêm vào các thành tố khác để nhấn mạnh hơn nhƣ: ăn cơm khê ăn cháo nát hoặc ăn cơm thiu ăn cháo vữa, v.v…tùy vào mục đích diễn đạt). Về mặt ý nghĩa, CTTD là phép cộng đơn thuần của các nghĩa từ thành tố nhƣng nó đƣợc hiểu trong một cảnh huống, một phát ngôn nhất định. Còn nếu đặt trong một bối cảnh khác thì có thể ý nghĩa của cụm từ sẽ không còn đƣợc giữ nguyên nhƣ thế mà sẽ bị biến đổi hoặc sẽ đƣợc hiểu nhƣ một cụm từ vựng – ngữ pháp thông thƣờng. Nghĩa của CTTD có thể mang tính biểu cảm nhƣng tính thành ngữ lại không cao, thậm chí là không có. Còn thành ngữ lại có ý nghĩa nhƣ một chỉnh thể tƣơng ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó (4;155). Ý nghĩa của thành ngữ là cố định trong mọi cảnh huống, mang tính biểu cảm và hình tƣợng cao. Đỗ Hữu Châu cho rằng “một tổ hợp từ có tính thành ngữ càng cao thì càng gần với từ mà có tính thành ngữ càng 11 thấp thì càng gần với CTTD”. Xét tất cả những đặc điểm trên, đặc biệt là sự liên kết lỏng lẻo giữa các thành tố mà từ trƣớc tới nay chúng ta vẫn quan niệm CTTD thuộc bình diện lời nói chứ không thuộc bình diện ngôn ngữ. 1.1.3 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, 1999) đã định nghĩa quán ngữ là: “Tổ hợp từ cố định quen dùng mà nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của những yếu tố cấu thành”. Các nhà ngôn ngữ học cũng đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về quán ngữ. Một số nhà ngôn ngữ học, tiêu biểu nhƣ Nguyễn Kim Thản cho rằng quán ngữ và thành ngữ là một, chỉ khác chăng là thành ngữ đƣợc cấu tạo hình tƣợng và cố định hơn. Một số khác lại cho rằng thành ngữ là một bộ phận của quán ngữ. Quán ngữ là nhóm từ chỉ một khái niệm phức tạp do nhân dân dùng lâu nên cố định mà thành. Một số khác cho rằng thành ngữ và quán ngữ đều là những đơn vị đƣợc làm sẵn trong ngôn ngữ, đều mang tính thành ngữ và mang tính cố định. Tuy nhiên, nếu xét về mặt nghĩa thì quán ngữ lại gần với CTTD và khác hẳn với thành ngữ. Nghĩa của quán ngữ có thể đƣợc hiểu từ nghĩa của các yếu tố cấu thành trong khi đó nghĩa của thành ngữ phải hiểu theo nghĩa hình tƣợng và mang tính ẩn dụ. Cấu tạo của quán ngữ cũng gần với CTTD hơn thành ngữ. Quán ngữ đƣợc sử dụng một cách phổ biến trong khẩu ngữ và đóng vai trò là các từ nối hoặc các từ liên kết mang sắc thái tu từ để gắn kết các nội dung cần diễn đạt. Nội dung hiển thị của quán ngữ đƣợc ngƣời ta thƣờng xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi ngƣời ta quen dùng quán ngữ nhƣ một đơn vị có sẵn (4;161). Ví dụ: lên lớp, lên tiếng, lên mặt…. Quán ngữ là những cụm từ đƣợc sử dụng lặp đi lặp lại trong các loại diễn ngôn (discourse) thuộc các phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là để đƣa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết diễn ngôn. 12 1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ Có thể nói, việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ đã đƣợc rất nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm và đề cập đến từ rất sớm. Ngƣời đầu tiên đặt vấn đề phân biệt hai đơn vị này là Dƣơng Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu - 1943): “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè”. Trong cuốn “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” (1956), Vũ Ngọc Phan lại không tán thành sự phân biệt đó. Theo ông, “định nghĩa nhƣ vậy không đƣợc rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục ngữ. Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà ngƣời dùng đã quen dùng nhƣng tự riêng nó không diễn đạt đƣợc một ý trọn vẹn. Về hình thức ngữ pháp, thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chƣa phải là một câu hoàn chỉnh, còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh”. Hoàng Văn Hành và một số tác giả ở Viện Ngôn ngữ học đã nhận xét nhƣ sau: “ Thành ngữ tuy có nhiều nét tƣơng đồng với tục ngữ (nhƣ tính bền vững về mặt cấu tạo, tính bóng bẩy về nghĩa…..) nhƣng lại khác với tục ngữ về bản chất. Sự khác biệt ấy ở chỗ: Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật”. Nhƣ vậy, xét về mặt hình thức cấu tạo thì tục ngữ là một câu hoặc một phát ngôn hoàn chỉnh về mặt cấu trúc, và độc lập về nghĩa. Cả hình thức lẫn nội dung của tục ngữ đều mang tính thành ngữ và tính cố định rất cao. Về nội dung thì tục ngữ là những câu nói lên một nhận xét về tâm lý, hoặc một lời phê phán, khen hoặc chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hoặc xã hội hay “ là những cụm từ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội, lịch sử của ngƣời dân lao 13 động ” (8;174). Đây cũng chính là một đặc điểm nổi bật của tục ngữ. Khác với các đơn vị từ vựng – diễn tả một sự vật, một hình tƣợng hoặc một khái niệm có một trạng thái tâm lý, tục ngữ giống nhƣ câu. 1. 2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Nga Có thể nói rằng thành ngữ học tiếng Nga đã xuất hiện rất sớm từ những năm hai mƣơi của thế kỷ XX nhƣ một phân ngành của Ngôn ngữ học với sự đóng góp tiên phong vô cùng quan trọng của Charles Bally, nhà Ngôn ngữ học ngƣời Thụy Sĩ . Những công trình nghiên cứu của Charles Bally có ảnh hƣởng to lớn đến ngành ngôn ngữ học Xô Viết nói chung và từ vựng học nói riêng. Quan điểm về thành ngữ của ông đƣợc đề cập đến trong các cuốn sách nổi tiếng của chính ông: Précis de stylistique (Geneve, 1905) và Traité de stylistique fransξaise (Heidellberg, 1909). Ông là ngƣời đầu tiên trong lịch sử ngôn ngữ học đặt vấn đề phải nghiên cứu riêng cụm từ cố định với quan điểm nhấn mạnh vào những đặc điểm bên ngoài và bên trong của chúng (thành ngữ). Ông đặc biệt lƣu ý đặc điểm ngữ nghĩa (tức đặc điểm bên trong) là một đặc điểm cơ bản quan trọng của thành ngữ và là bản chất của thành ngữ. Theo ông, tiêu chí cần và đủ để xem một cụm từ cố định là một thành ngữ là mặt ý nghĩa của nó phải ngang bằng với từ. Đó là những tiền đề cho những nghiên cứu về thành ngữ của hai nhà ngôn ngữ học ngƣời Nga B.B. Buноградов (1946) và Н.М. Шанский (1972). 1.2.1 Quan điểm về thành ngữ của Charles Bally Là ngƣời đầu tiên đặt nền móng nghiên cứu về cụm từ cố định ( cụm từ cố định nói chung và thành ngữ nói riêng), Charles Bally đã phân thành ngữ tiếng Nga thành ba loại:  Những nhóm kết hợp thông dụng (les groupements usuels)  Những nhóm thành ngữ (les série phraséologiques)  Những thành ngữ tổng hợp (les unité phraséologiques) 14 Cơ sở phân loại theo quan điểm của ông trong cuốn “Précis de stylistique” là nằm ở tính chất kết hợp giữa các từ cấu tạo cụm từ cố định. Nếu tổ hợp các từ kết hợp với nhau một cách hạn chế thì thuộc nhóm kết hợp thông dụng; hai khái niệm hợp nhất thuộc nhóm thành ngữ và nhóm thành ngữ tổng hợp thì biểu thị một chỉnh thể không thể tách rời. Đây là ba loại thành ngữ về cơ bản đƣợc Charles Bally phân loại và là những tiền đề quan trọng cho các nhà ngôn ngữ học khác kế thừa và phát triển. Một trong những quan điểm khác vô cùng quan trọng của ông khi nói về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ là: “Chỉ có những đặc điểm bên trong mới là những đặc điểm có giá trị thực sự” (34;98). 1.2.2 Quan điểm về thành ngữ của B.B.Виноградов Là ngƣời kế thừa những thành quả nghiên cứu của C. Bally, Виноградов đã đóng góp công lao to lớn trong việc phát triển công trình nghiên cứu về thành ngữ của bậc tiền bối. Ông đặc biệt chú ý đến tính cố định về mặt từ vựng – ngữ nghĩa của cụm từ, coi đó là bản chất của đơn vị thành ngữ và trên cơ sở đó để phân loại một cách sáng tạo những đơn vị thành ngữ không phân chia đƣợc về ngữ nghĩa thành hai nhóm:  Nhóm thành ngữ dung hợp hay còn gọi là thành ngữ kết dính (Фразеологическое cращение)  Nhóm thành ngữ thống nhất (Фразеологическое единство) Bên cạnh đó, xét thành phần cấu trúc thành ngữ trong tiếng Nga, Виноградов đã đối lập tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa của thành ngữ thống nhất và thành ngữ dung hợp với tính phân tích về ngữ nghĩa của thành ngữ kết hợp (Фразеологическое сочетание). Theo quan điểm của ông, thành ngữ dung hợp là cụm từ vốn chứa đựng “tính không phân chia đƣợc về ngữ nghĩa, tính tuyệt đối không thể tách ý nghĩa của chỉnh thể ra từ các thành tố” (27;66) còn thành ngữ thống nhất “cũng đƣợc coi là các cụm từ không phân chia 15
- Xem thêm -