Tài liệu Diễn xướng văn học dân gian (nghiên cứu trường hợp hát dô, quốc oai, hà nội)

  • Số trang: 84 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 461 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ THANH THỦY DIỄN XƯỚNG VĂN HỌC DÂN GIAN (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HÁT DÔ, QUỐC OAI, HÀ NỘI) Chuyên ngành: Văn học dân gian Mã số: 60.22.36 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC Hà Nội – 2012 1 Diễn xướng văn học dân gian (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Vũ Thanh Thủ y MỤC LỤC A. PHẦN MỞ ðẦU ..................................................................................... 5 B. PHẦN NỘI DUNG ............................................................................... 10 Chương 1. DIỄN XƯỚNG QUA NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ FOLKLORE HỌC THẾ GIỚI VÀ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM............................................................................................................ 10 1.1 Diễn xướng – một phương pháp mới trong nhiều phương pháp nghiên cứu folklore ở phương Tây ..................................................................... 10 1.2 Diễn xướng như một hành ñộng thông tin ........................................ 11 1.3 Diễn xướng là sự thông tin về thông tin............................................ 12 1.4 Richarch Bauman với “verbal art as performance” – nghệ thuật ngôn từ truyền miệng như một hình thức diễn xướng ...................................... 14 1.4.1 Nhận dạng khóa cho sự diễn xướng ............................................ 16 1.4.2 Cấu trúc của diễn xướng ............................................................ 18 1.4.3 ðặc trưng nổi bật của diễn xướng .............................................. 20 1.5 Diễn xướng trong mắt các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam .................................................................... 21 1.6 Diễn xướng trong các giáo trình tiêu biểu về văn học dân gian Việt Nam................................................................ 24 Chương 2. HÁT DÔ – TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT DIỄN XƯỚNG .... 28 2.1 Lịch sử nghiên cứu diễn xướng hát Dô ............................................. 28 2.2 Những quy tắc nền tảng của hát Dô .................................................. 31 2.2.1 ðịa bàn phát triển ...................................................................... 31 2.2.2. ðặc ñiểm dân cư ....................................................................... 34 2.2.3 ðời sống văn hóa và tín ngưỡng, tôn giáo .................................. 36 2.2.4 Nguồn gốc và các giai ñoạn phát triển ....................................... 38 2.3 Nhận dạng cấu trúc diễn xướng hát Dô............................................. 43 2.3.1 Về sự kiện ................................................................................... 43 2.3.2 Về thể loại .................................................................................. 46 3 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) 2.3.3 Về hành ñộng diễn xướng ........................................................... 56 2.3.4 Về người diễn ............................................................................. 58 Chương 3. TỪ VĂN BẢN LỜI HÁT DÔ ðẾN DIỄN XƯỚNG .............. 61 3.1 Từ văn bản hát Dô ............................................................................ 61 3.1.1 Vấn ñề dị bản ............................................................................. 61 3.1.2 Luật lệ ñặc biệt ........................................................................... 63 3.1.3 Ngôn ngữ bóng bẩy .................................................................... 65 3.1.4 Lối hành văn song song .............................................................. 67 3.1.5 Công thức ñặc biệt ..................................................................... 69 3.2 ðến diễn xướng hát Dô .................................................................... 70 3.2.1 Diễn xướng làn ñiệu “Hái hoa” ................................................ 71 3.2.2 Diễn xướng làn ñiệu “Chèo thuyền” .......................................... 73 3.2.3 Diễn xướng làn ñiệu “Trúc mai”................................................ 74 3.2.4 Diễn xướng làn ñiệu “Răng ñen hạt ñỗ” .................................... 75 3.2.5 Diễn xướng làn ñiệu “Muỗi ñốt tí tung”..................................... 76 3.2.6 Diễn xướng làn ñiệu “Hái chè”.................................................. 77 C. KẾT LUẬN........................................................................................... 79 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 81 E. PHỤ LỤC ............................................................................................. 85 4 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) A. PHẦN MỞ ðẦU 1. Lý do chọn ñề tài Trong ñời sống hiện ñại ngày nay, xu hướng hội nhập ñang ñược ñẩy mạnh. Với xu thế toàn cầu hóa, các dân tộc có cơ hội xích lại gần nhau tiếp thu và giao lưu với nhiều nền văn hóa ñặc sắc trên thế giới. Chính nhu cầu hòa nhập ấy ñặt ra một vấn ñề bức thiết ñể bản thân dân tộc không bị hòa tan. Yếu tố duy nhất giúp các dân tộc trong hành trang ấy là nền văn hóa dân tộc. Sự kêt nối này sẽ tạo nên một cộng ñồng thống nhất trong ña dạng. Văn hóa dân gian là gốc rễ ñể mỗi dân tộc tồn tại và phát triển không bị tha hóa. Có rất nhiều yếu tố cấu thành ñể tạo nên văn hóa. Trong ñó, văn học dân gian là tập hợp giao của văn học và các thành tố khác. Văn học dân gian vừa là bộ phận cùng với văn học thành văn tạo nên văn học Việt Nam, vừa là sản phẩm tinh thần của nhân dân ta từ ngàn ñời phản ánh ñời sống tâm hồn và nét ñẹp văn hóa của nhân dân ta. Nét riêng biệt của văn học dân gian ñó là có một số thể loại không thể ñược tiếp nhận trên văn bản qua những dòng chữ cứng ñơ trên giấy mà chỉ có thể ñược tiếp nhận qua việc diễn xướng. ðồng ý rằng truyện cổ tích, truyện thần thoại hay truyền thuyết có thể ñược ñọc qua các văn bản. Tuy nhiên, ca dao, ñặc biệt là dân ca có nhịp ñiệu, giai ñiệu nhất thiết cần ñược xướng lên mới thể hiện ñúng cái hồn và nét ñẹp vốn có. ðó là chúng ta còn chưa kể ñến sự cộng hưởng của các yếu tố không gian, trang phục, người diễn và khán giả. Vì thế, có thể khẳng ñịnh rằng, với dân ca nói riêng và văn học dân gian nói chung, ñộ lùi về thời gian cũng như ñặc trưng nhất ñịnh về thể loại ñòi hỏi phải diễn xướng những văn bản này ñể công chúng tiếp nhận ñược trọn vẹn giá trị thẩm mỹ. Các nhà nghiên cứu văn học dân gian cũng như văn hóa dân gian từ lâu ñã thừa nhận ñiều này. Diễn xướng gắn với quá trình sáng tác và lưu truyền văn học dân gian. 5 Diễn xướng văn học dân gian (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Vũ Thanh Thủ y Gần ñây, trên thế giới, nghiên cứu về diễn xướng ñang mở ra những cái nhìn cận cảnh cho folklore nói chung và văn học dân gian nói riêng. Các sách giáo trình về văn học dân gian, ñặc biệt là những nghiên cứu gần ñây ở Việt Nam ñều trực tiếp, hay gián tiếp nhắc ñến diễn xướng. Thuật ngữ “diễn xướng” xuất hiện bên cạnh tên các làn ñiệu dân gian quen thuộc như: hát Chèo Tầu ở ðan Phượng, Hà Nội; hò Cửa ñình ở Phú Xuyên; hát Ví, hát Trống quân ở lưu vực sông ðáy, sông Nhuệ; hát Ca trù ở Thanh Oai, Chương Mỹ, Hoài ðức… Tuy nhiên cho ñến nay chưa có một công trình khoa học bằng tiếng Việt nào nghiên cứu và ñề cập sâu về bản chât của diễn xướng. Người nghiên cứu có tham vọng ñi sâu vào vùng lý thuyết này ñể bước ñầu ñịnh hình những nội hàm và ngoại diên của thuật ngữ “diễn xướng”. Bên cạnh ñó, ñể lý thuyết ấy có tính ứng dụng, luận văn sẽ nghiên cứu cụ thể với trường hợp hát Dô ở xã Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Nội. Do tính chất lời nguyền của hát Dô cùng những khó khăn về các yếu tố khách quan, lần tổ chức hội Hát Dô gần ñây nhất ñã cách ñây 86 năm, từ năm 1926. Khoảng thời gian trên là ñủ dài ñể thấy rõ một lễ hội, một làn ñiệu dân gian ñang ñứng trước bờ vực bị mai một và tầm quan trọng trong việc khôi phục, bảo tồn sống, phát triển lễ hội Hát Dô. Hà Tây cũ là một ñịa danh cổ, nơi bảo lưu nhiều giá trị vật thể và phi vật thể với hơn 3000 di tích trong ñó có 1112 di tích ñã ñược xếp hạng [theo 24, tr.6]. Cho dù ngày nay không còn ñịa danh Hà Tây nhưng vùng văn hóa ấy vẫn hiện hữu bởi sự tồn tại và phát triển của những giai ñiệu dân gian, trong ñó có hát Dô. Bởi thế, nghiên cứu và tìm hiểu về diễn xướng hát Dô không chỉ là làm sống lại tên gọi một loại hình dân ca mà còn làm phong phú và góp phần tạo sự trường tồn cho một vùng văn hóa tuy không còn tên hành chính nhưng vẫn hiện hữu trong cuộc sống của chúng ta qua các sinh hoạt văn hóa ñặc sắc. 6 ũ Thanh Thủ y (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) 2. Mục ñích và ý nghĩa ñóng góp của luận văn Luận văn trong quá trình triển khai cũng mang ñến cho tác giả cơ hội ñược ñi nhiều, làm quen nhiều với người dân ở các ngành nghề và các vùng khác nhau. Bản thân người viết cũng muốn học thêm nhiều kỹ năng mềm và mở rộng vốn sống ñể nghiên cứu ñược sâu sắc và xác thực. Tuy nhiên, mục ñích quan trọng nhất của luận văn thuộc về mặt học thuật. Có thể ñã có nhiều tác giả nhắc ñến diễn xướng, nhiều nhà văn hóa tìm hiểu về hát Dô. Riêng luận văn có tham vọng trước hết ñược tổng thuật những quan ñiểm của các nhà nghiên cứu dân gian Việt Nam và các nhà folklore học trên thế giới về diễn xướng. Từ ñây, luận văn hy vọng ñóng vai trò là kho tư liệu về diễn xướng ñầy ñủ và bao quát so với những tư liệu hiện có. Công việc này ñòi hỏi quá trình sưu tầm, phân tích, lược thuật các tài liệu có liên quan; ñồng thời thu thập và dịch thuật những tài liệu ngoại văn quanh vấn ñề diễn xướng. Sau khi ñịnh hình về lý thuyết, luận văn tiến hành áp dụng nghiên cứu trên trường hợp cụ thể ở lễ hội hát Dô, xã Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Nội. Lễ hội này ñang bắt ñầu ñược sự quan tâm của các cơ quan hữu quan nên rất cần sự phục hồi phát triển thông qua hình thức diễn xướng phù hợp và ñộc ñáo. ði từ lý thuyết cho ñến thực tiễn, luận văn sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về lễ hội hát Dô ñặt trong sinh hoạt văn hóa truyền thống của Việt Nam nói riêng và trong hành trình folklore của thế giới nói chung. Tất cà những ñiều ñó ñể chứng minh thuyết phục rằng tính diễn xướng hoàn toàn xứng ñáng ñươc xem là một thuộc tính của văn học dân gian và hoàn toàn có thể có một vị trí xứng ñáng trong các sách nghiên cứu bàn về ñặc trưng của văn học dân gian. 7 Diễn xướng văn họ c dân gian (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Vũ Thanh Thủ y 3. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu ðối tượng nghiên cứu Luận văn không chỉ ñề cập ñến một trường hợp cụ thể là lễ hội Hát Dô mà còn liên quan ñến khái niệm mang tính chất học thuyết “diễn xướng” ñang cần ñược cụ thể hóa. Xét về khía cạnh nào ñó, luận văn vừa có nhiệm vụ lập thuyết1, vừa có nhiệm vụ ñưa lý thuyết mới vào ứng dụng trường hợp cụ thể qua hội hát Dô. Do ñó, tác giả luận văn xác ñịnh ñối tượng nghiên cứu như sau - Tính diễn xướng trong nghiên cứu về văn học dân gian nói riêng và trong folklore nói chung. - Tính diễn xướng thể hiện trong hát Dô ở Quốc Oai, Hà Nội thông qua việc tìm hiểu diễn xướng biểu hiện trong ngôn ngữ văn bản hát Dô. Phạm vi nghiên cứu Luận văn xác ñịnh phạm vi nghiên cứu dựa trên không gian và th ời gian - Về không gian: người nghiên cứu khảo sát ñịa bàn xã Liệp Tuyết huyện Quốc Oai, Hà Nội, gồm các thôn: ðại Phu, Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bái Ngoại và một số xã lân cận. - Về thời gian: luận văn nghiên cứu theo lịch ñại, có sự ñối chiếu và kế thừa giữa các dị bản hát Dô theo dòng thời gian ñể ñảm bảo tính khách quan và xác thực 4. Phương pháp nghiên cứu Mỗi lĩnh vực có những phương pháp nghiên cứu ñặc thù khác nhau, nhưng rõ ràng ñể tiến hành một nghiên cứu không thể chỉ áp dụng một phương pháp duy nhất. ðể thực hiện ñề tài “Diễn xướng văn học dân gian (nghiên cứu trường hợp hát Dô xã Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Nội)” với ñối 1 Chữ dung mang tính chất khái quát chỉ việc tác giả luận văn xác lập lý thuyết ñể làm ñịnh hướng áp dụng nghiên cứu trường hợp cụ thể. 8 Diễn xướng văn học dân gian (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Vũ Thanh Thủ y tượng và phạm vi nghiên cứu ñã ñịnh hướng từ ñầu, luận văn xác ñịnh phải lấy các phương pháp mang tính chuyên ngành làm phương pháp chủ ñạo, bên cạnh ñó không thể không áp dụng các phương pháp mang tính hỗ trợ. Với nhóm phương pháp chuyên ngành, luận văn sử dụng triệt ñể các phương pháp liên ngành liên quan ñến diễn xướng; ñiền dã tìm hiểu hội hát Dô; ñồng thời nghiên cứu, phân tích văn bản hát Dô…. nhằm hệ thống lý thuyết về diễn xướng và hiểu sâu sắc phần lời của các làn ñiệu hát Dô. Từ ñó luận văn hy vọng sẽ dựng lên ñược khung lý thuyết khái quát về diễn xướng, xây dựng những nguyên tắc trong việc diễn xướng các văn bản văn học dân gian từ trường hợp cụ thể là hát Dô. Với nhóm phương pháp hỗ trợ, luận văn vận dụng trước hết là phương pháp thống kê mô tả. ðây là phương pháp ñược ñặc biệt chú trọng và cũng thật sự phát huy thế mạnh ñối với kiểu ñề tài nghiên cứu một hệ thống văn bản các làn ñiệu hát Dô và các công trình khoa học nghiên cứu về văn học dân gian cũng như về lý thuyết diễn xướng. Cùng nhóm phương pháp hỗ trợ, ngoài phương pháp thống kê mô tả, việc sử dụng các phương pháp so sánh, tổng hợp…là ñiều cần thiết ñể làm nổi bật những ñặc trưng riêng của nghệ thuật diễn xướng nói chung và diễn xướng dân gian hát Dô nói riêng. 5. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở ñầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương − Chương I: Diễn xướng qua nghiên cứu của các nhà folklkore học thế giới và các nhà nghiên cứu Việt Nam. − Chương II: Hát Dô, xã Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Nội – tiếp cận từ lý thuyết diễn xướng − Chương III: Từ văn bản hát Dô ñến diễn xướng hát Dô 9 Diễn xướng văn học dân gian (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Vũ Thanh Thủy B. PHẦN NỘI DUNG Chương 1. DIỄN XƯỚNG QUA NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ FOLKLORE HỌC THẾ GIỚI VÀ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM 1.1 Diễn xướng – một phương pháp mới trong nhiều phương pháp nghiên cứu folklore ở phương Tây Câu chuyện về sự ra ñời của thuật ngữ folklore bắt ñầu từ ngày 12 tháng 8 năm 1846, William J. Thoms ñã ñưa ra thuật ngữ này ñể thay thế “thuật ngữ mà nước Anh gọi là Cổ dân tục (Popular literature)”. Khởi ñầu, ông cho rằng ñây là một từ ghép giữa hai từ Dân gian – Tri thức, ñó là tri thức của dân tộc (a good Saxon compound, Folk – Lore, the Lore of the People) [theo 25, tr. 80]. Cho ñến hơn một thế kỷ sau, phương pháp nghiên cứu folklore theo cách tiếp cận diễn xướng mới ra ñời với những tên tuổi các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Dan Ben – Amos, Roger Abraham, Robert Georges và ñược áp dụng rộng rãi từ những năm 70 của thế kỷ 20 với nhiều công trình có giá trị như “Tiến tới những viễn cảnh mới về ngành folklore” (Toward new perspectives in Folklore), Khám phá về dân tộc học lời nói (Explorations in the Ethnography of Speaking) và Folklore: diễn xướng và giao tiếp (Folklore: performance and communication) [theo 25, tr. 92]. Như vậy, ñể nghiên cứu folklore, bên cạnh những bước ñi ban ñầu với các cách tiếp cận văn bản hóa theo kiểu dân tộc học ngôn ngữ (ethnolinguistic model) của các nhà folklore học nhân loại học, cách tiếp cận của các nhà folklore theo xu hướng văn học, trường phái ngôn ngữ học Praha … cách tiếp cận diễn xướng ra ñời mang ñến cái nhìn mới mẻ, toàn diện và sống ñộng hơn về folklore. 10 Vũ Thanh Thủ y (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) 1.2 Diễn xướng như một hành ñộng thông tin ðây là quan ñiểm của một số nhà ngôn ngữ học, trong ñó có các nhà ngôn ngữ học theo lý thuyết ngữ pháp sản sinh, mà tiêu biểu là Noam Chomsky. Trong ngữ pháp sản sinh, cấu trúc hình thức của ngôn ngữ như một hệ thống các quy tắc dùng ñể sản sinh ra và hiểu các câu về mặt ngữ pháp. Thế nhưng diễn xướng thì trái lại, ñó là lời nói tự nhiên cung cấp thông tin không theo chuẩn ngữ pháp. Do ñó diễn xướng có khuynh hướng bị xem là sai lạc, không hoàn hảo và ngổn ngang những yếu tố không phù hợp về ngữ pháp. Nhà nghiên cứu folklore Richard Bauman thừa nhận diễn xướng cung cấp thông tin nhưng chú trọng hơn vào phương thức sử dụng ngôn ngữ ñể truyền tải thông tin ấy. Và cho dù, hệ quả là không cần những văn bản trau chuốt ñộc lập thì khi ñó, khán giả sẽ thể hiện sự vui thích ñối với diễn xướng tùy theo kỹ năng của người kể. Với khán giả, nhiều khi việc một câu chuyện kể ra sao quan trọng hơn việc nó ñề cập ñến cái gì. Như vậy, kể chuyện bao hàm cả việc thể hiện trình ñộ ở cách kể câu chuyện, và diễn giả phải chịu trách nhiệm về năng lực truyền ñạt. Cho nên, dù diễn xướng không ñược trau chuốt, hay ngổn ngang những yếu tố không hợp về ngữ pháp, thì tất cả cũng là nét riêng của diễn xướng, và biết ñâu lại là chủ ñích của diễn giả, mang ñến những hiệu quả thẩm mỹ không ngờ mà một văn bản trau chuốt khó mang lại ñược. Cũng nghiên cứu về ngôn ngữ, nhưng các nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác lại rất chú ý ñến diễn xướng, tiêu biểu là nhà nghiên cứu Dell Hymes – một nhà nhân chủng học Hoa Kỳ. Ông lập luận rằng ngôn ngữ học cấu thành có tính chất xã hội ñòi hỏi phải có một quan niệm khác về năng lực và sự diễn xướng. Theo ñó, chức năng xã hội sẽ ñịnh hình cho dạng thức ngôn ngữ học, ngôn ngữ sẽ có cả ý nghĩa xã hội lẫn ý nghĩa dẫn chiếu, và 11 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) chức năng thông tin của ngôn ngữ trong việc cấu thành cuộc sống xã hội về thực chất là cơ bản. Diễn xướng bình ñẳng với ngữ pháp, ñóng vai trò thực hiện hành ñộng thông tin, cung cấp những tri thức và khả năng giúp người ta nói theo những cách có thể lý giải ñược và phù hợp về mặt xã hội. Như vậy, cùng thuộc lĩnh vực ngôn ngữ nhưng ñã có hai hướng thái ñộ với diễn xướng. Bản thân diễn xướng ñã có sự tham gia của một hình thức chuyển ñổi về mặt ký hiệu học, môt sự thay ñổi từ chỗ mã hóa một thông ñiệp trong một hệ ký hiệu này sang một hệ ký hiệu khác, và tùy từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau ñể tiến hành nghiên cứu diễn xướng ở từng góc ñộ. Ví dụ những người hoạt ñộng trong nhà hát thì quan tâm ñến mối quan hệ giữa kịch bản và sự biểu diễn (là quá trình ñi từ cái thứ nhất ñến cái thứ hai); trong khi các nhà văn học dân gian lại ñối chiếu cách nhìn chú trọng vào văn bản với cách nhìn chú trọng vào sự diễn xướng (vốn quan tâm ñến việc ứng dụng trên thực tế các dạng thức văn học dân gian). Bản chất và mức ñộ của ñịa hat diễn xướng với văn học dân gian cũng khác nhau. Một trong những câu hỏi cơ bản ñặt ra là phạm vi hoạt ñộng lời nói nào ñược xem là thích hợp cho sự diễn xướng và phạm vi nào thường ñược diễn xướng. 1.3 Diễn xướng là sự thông tin về thông tin ðó là một phương thức hành ñộng mang tính thông tin, là cái tạo nên một cơ cấu lý giải giúp khán giả hiểu ñược hành ñộng thông tin. Theo nghĩa này, hành ñộng thông tin ñược ñưa ra trình diễn, thể hiện cụ thể và nâng lên một cấp ñộ so với những cái cụ thể xảy ra trong bối cảnh, và mở ra cho khán giả dò xét, thẩm bình kỹ lưỡng. Nhờ ñó, diễn xướng thu hút sự chú ý ñặc biệt tới hành ñộng thông tin, nâng cao ý thức ñối với diễn xướng và tạo ñiều kiện cho khán giả quan sát nó cùng với diễn giả. Diễn xướng trao cho khán giả (cử tọa) trách nhiệm ñánh giá kỹ năng người diễn xướng. 12 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Diễn xướng cung cấp thông tin về cách thực hiện kết cấu diễn xướng. Erving Goffman, nhà nghiên cứu người Canada gọi ñó là “khóa” của diễn xướng; Gregory Bateson gọi ñó là hiện tượng “siêu thông tin”. Mỗi hành ñộng thông tin ñều bao hàm hàng loạt thông ñiệp tạo kết cấu, ẩn cũng như tường, chuyển tải những chỉ dẫn về việc hiểu ra sao với các thông ñiệp ñược gửi gắm, chuyển tải. Như vậy, mỗi cộng ñồng với vốn văn hóa và truyền thống sẽ có những tập hợp cấu trúc phương tiện thông tin riêng ñể khóa kết cấu diễn xướng sao cho sự truyền thông tin trong khuôn khổ kết cấu ñó sẽ ñược cộng ñồng ñó hiểu là sự diễn xướng. Cũng xem diễn xướng như sự kết cấu, nhưng cách nhìn của nhà triết học ngôn ngữ phổ thông Anh, J.L.Austin không ñi theo hướng trên. Với ông, trong diễn xướng có tính nghệ thuật có một cái gì ñó diễn ra trong sự trao ñổi có tính thông tin, mách bảo với diễn giả hãy diễn giải cái mà diễn xướng nói theo một nghĩa ñặc biệt nào ñó, và ñừng làm nó có nghĩa chỉ như ñúng nghĩa các từ truyền tải. Như vậy, sự diễn xướng tạo nên một kết cấu diễn giải mà trong ñó các thông ñiệp trao ñổi cần ñược hiểu rằng kết cấu này tương phản với ít nhất một kết cấu khác vốn là kết cấu theo nghĩa ñen của từ. Austin liệt kê ra một số kết cấu mà diễn xướng có thể biểu ñạt: Kết cấu nói bóng gió: trong ñó những từ nói ra cần ñược diễn giải như thể có một cái vỏ bọc và quan hệ gián tiếp với ý nghĩa của lời nói; Kết cấu bông ñùa: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể chúng không nghiêm túc có nghĩa như cái mà chúng ñáng ra phải có; Kết cấu bắt chước: trong lối nói cần ñược hiểu là sự nhại lại một hoặc nhiều người khác; Kết cấu trích dẫn: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể các từ của ai ñó khác với diễn giải; 13 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Kết cấu phiên dịch: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể tương ñương với những từ vốn ñược nói ra bằng ngôn ngữ hoặc ám mã khác. 1.4 Richarch Bauman với “verbal art as performance” – nghệ thuật ngôn từ truyền miệng như một hình thức diễn xướng Nhà nghiên cứu folklore học người Hoa Kỳ, Richard Bauman, nhận ñịnh hệ thống kêt cấu trên là “phiến diện và thiếu gia công xử lý” [theo 19; tr. 749]. Giáo sư người Hoa Kỳ này ñã phát triển diễn xướng ở một nghĩa rộng hơn. ðó là sợi chỉ thống nhất, xâu chuỗi các thể loại có tính mỹ học tách biệt, có ñặc ñiểm riêng và các phạm trù khác của hành vi lời nói. Nói cách khác, ñó là hệ thống thông tin phản ánh nhận thức thế giới quan của con người thông qua tư duy và năng lực sáng tạo. Với rất nhiều công trình nghiên cứu về diễn xướng, Richard Bauman ñã xây dựng một hệ thống lý thuyết về diễn xướng một cách ñầy ñủ và toàn diện. Trong ñó, số lượng các công trình ñược dịch ra chưa nhiều. Giới học thuật biết nhiều nhất ñến văn bản Verbal art as performance (nghệ thuật lời nói như một hình thức diễn xướng) qua công trình của Giáo sư, Tiến sỹ Ngô ðức Thịnh, ñồng tác giả với Tiến sỹ Frank Proschan. Theo như nhan ñề bài viết, nghệ thuât lời nói chỉ là một trong nhiều hình thức của diễn xướng. Ở Việt Nam, chúng ta vẫn gọi nghệ thuật lời nói, hay chính là văn học truyền miệng, văn học dân gian. Như vậy, theo quan ñiểm của Richard Bauman, văn học dân gian tồn tại dưới dạng diễn xướng mà không phải dưới dạng những con chữ cứng ñơ trên trang giấy mà ta lưu giữ hiện nay. Trong bài nghiên cứu này, tác giả ñã có cái nhìn mang tính lịch sử và liên ngành khi viện dẫn và ñánh giá quan ñiểm của nhiều nhà nghiên cứu ở các chuyên ngành như nhân học, ngôn ngữ học và phê bình văn học. Ông quan tâm phát triển khái niệm về nghệ thuật lời nói “với tư cách một sự diễn xướng, dựa trên sự hiểu biết về diễn xướng như một phương thức nói”. 14 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) “Các văn bản văn học truyền miệng, mặc dù có thể thỏa mãn các biện pháp hình thức của nghệ thuật lời nói, ñược ghi lại cẩn thận và có mối liên hệ chặt chẽ với sự diễn xướng trong những bối cảnh quy ước của chúng, thì vẫn không bao giờ có thể là sản phẩm của sự diễn xướng mà là của sự thể hiện theo một phương thức thông tin khác”. Ông ñặt ra mục ñích tìm hiểu bản chất của sự diễn xướng với hy vọng có một thước ño về tính ñích thực của các văn bản văn học truyền miệng hiện nay sưu tầm ñược. Giáo sư ñồng ý rằng diễn xướng như là một kết cấu riêng biệt, hiện hữu như một nguồn thông tin cho diễn giả cùng với những thứ khác trong các cộng ñồng nhất ñịnh. Từ ñây, ông nỗ lực trả lời ở mức sơ bộ câu hỏi: sự diễn xướng thiết lập nên hoặc biểu diễn loại kết cấu diễn giải nào? Những thông tin cấu thành sự diễn xướng ñược diễn giải ra sao? Sự diễn xướng với tư cách một phương thức thông tin bằng miệng nên sẽ ñặt yêu cầu về năng lực truyền ñạt của người thể hiện, sao cho thính giả hiểu ñược và yêu thích. Người diễn giả cần có khả năng giải thích ñược với thính giả về cách mà sự truyền ñạt thông tin sẽ diễn ra, vượt lên trên và ra ngoài nội dung dẫn chiếu nó.“Từ góc ñộ thính giả, hành ñộng biểu ñạt từ phía người thực hiện ñược ñể ý như là chủ thể ñánh giá về cách mà nó ñược thực hiện, về kỹ năng tương ñối và tính hiệu quả của việc thể hiện năng lực người thực hiện. Ngoài ra, nó còn ñược ñể ý như là có ñấy ñể nâng cao vốn sống thông qua sự hưởng thụ hiện tại những ñặc trưng thực chất của bản thân hành ñộng biểu ñạt” [theo 19; tr. 750]. Như vậy, sự diễn xướng thu hút sự chú ý ñặc biệt và nhận thức ñược nâng cao về hành ñộng biểu ñạt và cấp phép cho khán giả xem hành ñộng biểu ñạt và người thực hiện với một sự lưu tâm ñặc biệt. Ở phần này, Richard Bauman lấy ví dụ minh họa qua lối nói ñặc trưng của người dân vùng bình nguyên nước Cộng hòa Malagasy và người Ilongot của Philippine. Các lối nói này bao hàm cả việc thể hiện trình ñộ ở cách nói. 15 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Cử tọa sẽ thể hiện sự vui thích ñối với diễn xướng tùy theo kỹ năng của diễn giả. Nhưng một ñiểm quan trọng ở ñây là lời nói bản thân nó là một hệ thống văn hóa (hoặc một phần của hệ thống văn hóa), có sự thay ñổi từ cộng ñồng lời nói này sang cộng ñồng lời nói khác, và bản chất, mức ñộ của ñịa hạt diễn xướng cùng nghệ thuật lời nói cũng tương tự. 1.4.1 Nhận dạng khóa cho sự diễn xướng Nếu thừa nhận diễn xướng như một kết cấu thì cách xây dựng kết cấu cũng như quá trình nhờ ñó kết cấu ñược viện dẫn và di chuyển chính là quá trình nhận dạng khóa. Giáo sư Bauman sử dụng sự phân tích sâu sắc của Bateson ñể cụ thể hóa thuật ngữ này thông qua thuật ngữ siêu thông tin (metacommunication). Mỗi cộng ñồng tiếng nói sẽ sử dụng một tập hợp có cấu trúc các phương tiện thông tin riêng trong kho tàng của mình theo những cách quy ước có tính văn hóa và ñặc thù văn hóa ñể xây dựng nên khóa cho sự diễn xướng, sao cho mọi sự thông tin diễn ra trong kết cấu ñó ñều ñược hiểu là sự biểu diễn trong nội bộ cộng ñồng ñó. Danh mục các phương tiện thông tin phục vụ cho xây dựng và giải mã khóa diễn xướng có nhiều loại: 1. Các luật lệ ñặc biệt (special codes): các luật lệ này hình thành từ lâu trong tiềm thức của người dân, tới mức cách vận dụng ngôn ngữ học ñặc biệt thường ñược lấy làm tiêu chí bắt buộc cho ngôn ngữ thi ca. ðó là những ngôn ngữ cổ, bí hiểm ñặc trưng cho diễn xướng. 2. Ngôn ngữ bóng bẩy (figurative language): tần suất sử dụng ngôn ngữ bóng bẩy cùng ñịa vị nổi bật của nó tạo sự thích hợp ñặc biệt trong vai trò là công cụ cho sự diễn xướng, nơi cường ñộ biểu cảm và kỹ năng thông tin ñặc biệt chiếm vị trí trung tâm. Một trong những khía cạnh của ngôn ngữ bóng bẩy là tính sáng tạo của người diễn xướng về phương diện hình ảnh mà ngôn ngữ học sử dụng. 16 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) 3. Lối hành văn song song (formal stylistic devices): bao gồm việc lặp lại, với những biến ñổi có tính hệ thống., các cấu trúc phát âm, ngữ pháp, hoặc vần luật. Sự kiên trì các yếu tố bất biến và những nguyên tắc cấu trúc làm nền tảng cho việc xây dựng lối hành văn song song. Lối nói song song xuất hiện trong các hệ thống có tính ñặc trưng cao và phức tạp của thi ca truyền miệng như anh hùng ca truyền miệng hoặc các bài phát biểu có tính nghi thức. Việc sử dụng nhuần nhuyễn thứ ngôn ngữ ñánh dấu bởi tính cân ñối nổi bật cũng là một phương thức hiệu nghiệm ñể thực hiện năng lực thông tin. 4. Các ñặc ñiểm cận ngôn ngữ ñặc biệt. Thuật ngữ “ñặc ñiểm cận ngôn ngữ” là một cách khái quát tất cả những yếu tố liên quan ñến ngôn ngữ, mà trong bản gốc nhà nghiên cứu Richard Bauman gọi là special prosodic patterns (những kiểu ngôn ñiệu ñặc biệt như trọng âm, nhịp ngắt) và special paralinguistic patterns of voice quality and vocalization (các kiểu giọng, xướng âm ñặc biệt) 5. Các công thức ñặc biệt (special fomulae) bao gồm cách mở ñầu và kết thúc truyền thống hay những cách trình bày rõ ràng như “ngày xửa ngày xưa”, hoặc “bạn ñã bao giờ nghe kể rằng…?” 6. Sức hấp dẫn của truyền thống (appeal to tradition) viện dẫn tới truyền thống như một chuẩn quy chiếu cho trách nhiệm của người diễn xướng “Người xưa nói rằng”. Cách nói cầu khiến ñến truyền thống này cũng có thể trở thành chìa khóa cho sự diễn xướng. 7. Lối từ chối diễn xướng (disclaimer of performance) nói như chối bỏ sự diễn xướng “Tôi vốn không quen”. Những lời phủ nhận kiểu này không liên quan gì ñến việc nhận trách nhiệm phô diễn tài năng, mà chỉ là phép xã giao, lịch sự. Nhiều cộng ñồng cho rằng một sự từ chối diễn 17 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) xướng sẽ vừa là cử chỉ có tính ñạo ñức, vừa là một giải pháp cho sự diễn xướng. ðiều quan trọng là phải xác ñịnh những công cụ ñặc thù ñã thành quy ước tạo nên khóa cho diễn xướng trong một cộng ñồng nhất ñịnh. Các “khóa” có thể thay ñổi và khác nhau từ cộng ñồng này sang cộng ñồng khác. Ví dụ người Chamula phân ra ba phạm trù lớn về lời nói: lời nói thông thường (ordinary speech), lời nói cho những người có trái tim sôi nổi (speech for people whose hearts are heated) và lời nói thuần khiết (pure speech). Trong ñó, lời nói dành cho những người có trái tim sôi nổi và lời nói thông thường phân biệt nhau ở phạm trù thể loại nhờ cấu trúc song song về cú pháp và các cặp câu ẩn dụ. Giữa lời nói thuần khiết và lời nói dành cho những người có trái tim sôi nổi phân biệt nhau ở sự tăng cường các dòng câu song song về cú pháp, hoặc nhờ xếp chồng các cặp câu ẩn dụ. Như vậy, lối lặp lại và lối hành văn song song là chìa khóa ñi vào sự diễn xướng ñối với tộc người Chamula. 1.4.2 Cấu trúc của diễn xướng Hầu hết các tộc người, trong ñó có người Chamula ñã nói ở trên tổ chức lĩnh vực lời nói theo thể loại nhất ñịnh thì chúng mới xuất hiện trong hệ thống diễn xướng. Theo truyền thống, việc ñưa về các thể loại chính là nâng các dạng lời nói thành quy ước kết hợp những ñặc ñiểm tạo nên khóa cho sự diễn xướng. Có những thể loại mà hy vọng hay xác suất diễn xướng thấp hơn, những thể loại mà mang ñến cảm giác là sự diễn xướng sẽ không gây ñược hứng thú nếu biểu diễn. Hoặc có những thể loại bằng lời không ñược thể hiện theo kiểu diễn xướng. Những cái ñó ñược nhìn nhận là không bao hàm cái gọi là năng lực cho việc thể hiện, và bản thân chúng cũng không góp phần vào nâng cao vốn sống. Tuy nhiên, có những cộng ñồng nhận thức hoạt ñộng lời nói theo hành ñộng hơn là theo thể loại. Hành ñộng diễn xướng như một hành vi nằm trong 18 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) hoàn cảnh, nằm trong và mang lại ý nghĩa ñối với những bối cảnh thích hợp. Các bối cảnh ñó xác ñịnh ở nhiều cấp ñộ, ví dụ như ñó là những ñịa ñiểm ñược sắp ñặt về mặt văn hóa mà sự diễn xướng xảy ra. Cái quan trọng nhất là sự kiện mà tại ñó diễn ra sự diễn xướng. Có những sự kiện mà với chúng sự diễn xướng là cần thiết, là một thuộc tính mang tính tiêu chí, sao cho diễn xướng là một thành tố cần thiêt cho một sự kiện nhất ñịnh. Các cuộc diễn xướng văn hóa (cultural performances) là những sự kiện có lịch trình, giới hạn về bố trí, có ranh giới rõ ràng và công khai rộng rãi, bao hàm những dạng thức diễn xướng ñược nghi thức hóa cao nhất và người biểu diễn giỏi nhất của cộng ñồng. Bên cạnh ñó, cấu trúc của diễn xướng còn có sự tác ñộng của những quy tắc nền tảng của sự diễn xướng. Các quy tắc này bao gồm tập hợp những chủ ñề văn hóa và những nguyên tắc tổ chức ñạo ñức và tương tác xã hội chi phối việc tiến hành sự diễn xướng. Với tư cách như một cái gọi là lời nói, sự diễn xướng chịu tác ñộng của một loạt quy tắc nền tảng cộng ñồng có vai trò ñiều chỉnh lời nói nói chung; ñồng thời cũng chịu tác ñộng của một tập hợp các quy tắc nền tảng ñặc thù cho bản thân sự diễn xướng. Người Wishram ñòi hỏi các thính giả phải thường xuyên biểu lộ sự chú ý của họ với sự diễn xướng truyện thần thoại, hoặc bắt buộc diễn giả người Iroquois phải kiềm chế, không ñược lồng yếu tố cá nhân vào các lời nói có tính nghi thức, khi anh ta hành ñộng như người phát ngôn của một nhóm. Một phần quan trọng cơ bản ñối với cấu trúc diễn xướng là những người tham gia, gồm những người biểu diễn và cử tọa. Yêu cầu về những người diễn xướng khác nhau tùy theo nền văn hóa khác nhau. Trong tộc người Limba, kể chuyện là một dạng thức diễn xướng, nhưng họ không yêu cầu gay gắt về việc ñánh trống và nhảy múa. Mỗi người ñều là những nhà kể chuyện tiềm tàng và không cần phải ñào tạo ñặc biệt gì. Trái lại, ở Nhật, những người kể chuyện 19 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) rakugo hoặc kodan phải trải qua một giai ñoạn học và thực hành lâu dài, vất vả trước khi ñược coi là người biểu diễn thực sự. Richard Bauman ñã vận dụng những tập hợp mà nhà nghiên cứu Joel Sherzer mô tả, bao gồm sự kiện, hành ñộng, thể loại, những quy tắc nền tảng của sự diễn xướng ñể mở rộng chức năng và ý nghĩa của diễn xướng. Dù sự diễn xướng vốn có vị trí hàng ñầu ở một bối cảnh nào ñó (nơi mà nó vốn ñược hiểu là bắt buộc phải diễn ra), cũng có thể trở thành một ñặc ñiểm tùy nghi của một loại sự kiện khác, ñược mở rộng ra cho sự kiện ñó do sự thích thú về thẩm mỹ mà nó ñem lại. Khi ấy, mối quan hệ giữa người diễn xướng và thể loại vẫn duy trì, nhưng bối cảnh và chức năng ñã khác ñi. Diễn xướng vốn ñược vận dụng như theo lối cổ truyền, lúc này ñã ñược vận dụng theo một phương cách mới, có tính sáng tạo và bất ngờ, và ñiều ñó tạo ra một loại diễn xướng mới. Một hệ thống diễn xướng cổ truyền ñã ñược thao tác theo những cách sáng tạo. ðây là khía cạnh rất ít ñược ñề cập trong tài liệu về hệ thống diễn xướng, song rất ñáng ñược nghiên cứu như là cái khóa mở lối vào sức sống sáng tạo và tính linh hoạt của sự diễn xướng trong một cộng ñồng. 1.4.3 ðặc trưng nổi bật của diễn xướng ðặc trưng nổi bật của sự diễn xướng nằm trong tác ñộng qua lại giữa các nguồn có tính chất thông tin, năng lực cá nhân và mục ñích của những người tham gia, trong khuôn khổ bối cảnh của những tình huống nhất ñịnh. Nguồn, theo cách gọi ở ñây, là tất cả mọi khía cạnh hệ thống thông tin có sẵn cho các thành viên của một cộng ñồng sử dụng ñể tiến hành sự diễn xướng. Có thể kể ra ñó là các khóa cho sự diễn xướng, các thể loại, hành ñộng, sự kiện và các quy tắc nền tảng cho việc tiến hành diễn xướng tạo nên một hệ thống có cấu trúc của sự diễn xướng quy ước hóa cho cộng ñồng. Mục ñích của người tham gia bao gồm những cái thuộc bản chất của sự diễn xướng – sự thể hiện trình ñộ, sự tập trung chú ý vào bản thân mình như một 20 Ket-noi.com Kho tai Ket-noi.comDiễn Kho tai lieu lieu mien mien phi phi xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) người biểu diễn, sự nâng cao vốn sống – cũng như những mục ñích cuối cùng mà người ta mong muốn sự diễn xướng ñem lại; những cái sai sẽ mang nặng tính văn hóa và ñặc thù tình huống. Như vậy, năng lực tương ñối phải ñi cùng khả năng thành thục tương ñối trong việc tiến hành diễn xướng. Các biến cố diễn xướng thường ñược lên lịch, ñược dàn dựng và chuẩn bị trước, ñồng thời chúng có giới hạn về thời gian, với thời ñiểm bắt ñầu và kết thúc xác ñịnh; có giới hạn về không gian, nghĩa là diễn ra trong một không gian ñã ñược lựa chọn một cách tượng trưng, tạm thời hoặc vĩnh viễn. Khi ñó, cuộc diễn xướng văn hóa ñược lên chương trình với kịch bản hoặc cấu trúc cụ thể. Các cuộc diễn xướng thường hấp dẫn bởi chúng có tính phản ánh lối biểu ñạt văn hóa. Trước hết ñó là sự phản ánh hình thức ý – ý nghĩa vào ý nghĩa- bởi nó gây ra sự chú ý vào các ñặc tính hình thức của hệ thống thông tin (như ñiệu múa, ngôn ngữ, âm ñiệu trong lời hát…), làm cho người xem ít nhất cũng có ý thức về các công cụ của nó. Ngoài ra, người ta còn xem diễn xướng như một công cụ văn hóa (gọi là siêu văn hóa - metacultural) ñể thể hiện cụ thể và mở ra cho một dạng văn hóa khảo sát kỹ lưỡng, bởi văn hóa là một hệ thống gồm các hệ thống ý nghĩa. Bên cạnh tính phản ánh hình thức, diễn xướng còn có tính phản ánh theo nghĩa tâm lý – xã hội học. Bởi khi biểu diễn, diễn giả như một ñối tượng của diễn xướng, khi ñó ñang ñóng vai người khác và nhìn lại bản thân mình từ góc ñộ ñó. Qua ñó, người ta có thể thâm nhập vào thái ñộ và kinh nghiệm của các cá nhân khác. 1.5 Diễn xướng trong mắt các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam Người nghiên cứu ñã tìm hiểu trong những cuốn từ ñiển như Từ ñiển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê, Từ ñiển Tiếng Việt thông dụng tác giả Nguyễn Như Ý, Từ ñiển Việt – Hán của Giáo sư ðinh Gia Khánh, Từ ñiển Tiếng Việt 21
- Xem thêm -