Tài liệu Dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 59 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Tham gia: 27/07/2015

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRIỆU SƠN KINH NGHIỆM DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Người thực hiện : Trịnh Thị Hà Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Kinh nghiệm thuộc môn: Toán THANH HÓA, NĂM 2019 MỤC LỤC Nội dung I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận 2. Thực trạng 3. Các giải pháp trong dạy giải toán có lời văn cho học sinh 3.1. Trong quá trình dạy kiến thức mới 3.2. Trong quá trình dạy các bài vận dụng thực hành 3.2.1. Quy trình chung cách giải bài toán có lời văn 3.2.2. Giải pháp cụ thể cho từng đơn vị kiến thức 3.2.2.1. Dạng toán “Tìm số trung bình cộng” 3.2.2.2 . Dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” 3.2.2.3. Dạng toán “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó” 3.2.2.4. Dạng toán “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó” 3.2.2.5. Dạng toán liên quan đến yếu tố hình học 3.2.2.6. Dạng toán “Tìm phân số của một số” 4. Hiệu quả của sáng kiến III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 1. Kết luận 2. Đề xuất Trang 1 1 1 2 2 2 3 3 4 4 5 5 7 8 11 12 13 15 15 16 I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách của con người và đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông. Để đạt được mục tiêu trên, nhà trường tiểu học đã dạy học các môn học, trong đó có môn Toán. Hoạt động toán học đối với học sinh là làm toán; hoạt động cơ bản nhất của người làm toán là giải toán. Cho nên, giải toán rất quan trọng trong dạy học toán. Trong giải toán ở Tiểu học phải kể đến giải toán có lời văn, nó chiếm một lượng lớn và được đan xen xuyên suốt trong từng mảng kiến thức, từng lớp học, từ lớp 1 đến lớp 5. Tuy nhiên, đối với nhận thức của học sinh tiểu học nói chung, của lớp tôi chủ nhiệm nói riêng, các em đa số giải toán có lời văn yếu do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, các em thường vội vàng hấp tấp, ngại đọc, ngại suy nghĩ, đọc lướt, đọc vẹt, đôi khi chưa hiểu rõ đề bài đã làm dẫn đến kết quả nhiều lúc bị sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đầy đủ; do đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học, các em thường gặp khó khăn trong tư duy trừu tượng, thích làm bài dạng tính toán, ngại suy nghĩ logic và lí luận; do các em không nắm vững bản chất của vấn đề, thiếu tự tin vào bản thân, thích giống bài của bạn hoặc mang máng bài đã làm trước đó dẫn đến làm bài sai. Vì vậy, cùng một vấn đề do giáo viên đưa ra, có em nắm bắt rất nhanh, say sưa hứng thú bắt tay ngay vào việc tìm hiểu và giải quyết vấn đề nhưng cũng có em thì ngồi đó với tâm trạng hờ hững, thờ ơ do không nắm được bản chất của bài toán hoặc làm bài qua loa đại khái cho xong chuyện, rồi sinh ra chán nản, kết quả học tập giảm sút rất nhiều. Đó là một thực tế mà người giáo viên đứng lớp ai cũng gặp phải, nhất là trong quá trình dạy giải toán có lời văn. Chính vì, dạy học giải toán có lời văn cho học sinh là một việc làm hết sức quan trọng có tác động tích cực trong bổ sung kiến thức về giải toán, nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn toán cho học sinh, để góp phần tích cực, có hiệu quả vào việc này tôi đã chọn và thực hiện đề tài “ Dạy học giải toán có lời văn lớp 4 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát thực trạng giải toán có lời văn của học sinh, từ đó làm cơ sở để định hướng các giải pháp dạy học giải toán có lời văn cho các em. 3. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp dạy giải toán có lời văn ở lớp 4 nhằm phù hợp với các nhóm đối tượng học sinh để khuyến khích và phát huy được tối đa năng lực của người học. 4. Phương pháp nghiên cứu 1 - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, rút ra vấn đề cấp thiết phải điều chỉnh. - Phương pháp nghiên cứu lí thuyết để thu thập tài liệu có liên quan nhằm làm cơ sở lí luận cho việc rút ra kinh nghiệm dạy học. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu để tổng kết, đánh giá. Từ đó đề ra những giải pháp có tính khả quan. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận - Về bản chất, quá trình giải một bài toán là dãy suy luận và củng cố, nghĩa là rèn luyện tư duy. Vì vậy, với từng đối tượng học sinh khác nhau, khả năng tư duy khác nhau, cần được học giải toán theo đúng năng lực của mình để phát huy hết khả năng của các em. - Tích cực trong hoạt động học tập biểu hiện ở sự cố gắng cao nhiều mặt trong hoạt động nhận thức. Tích cực lĩnh hội tri thức đồng thời tìm kiếm, khám phá ra những hiểu biết mới cho bản thân. Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nhận thức thông qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình. Tích cực biểu hiện ở các cấp độ: - Bắt chước: Cố gắng thực hiện theo mẫu. - Tìm tòi: Độc lập giải quyết vấn đề, tìm các cách giải quyết khác nhau. - Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới hữu hiệu. 2. Thực trạng Ngay đầu năm học, tôi tiến hành điều tra, khảo sát, đàm thoại với các em. Tôi đã nhận thấy ngoài một số em làm bài tốt vẫn còn nhiều em hay sai sót khi làm bài. Tồn tại và nguyên nhân như sau: - Một số học sinh không xác định được dạng bài điển hình nên không có hướng giải quyết yêu cầu bài toán. - Học sinh đọc lướt, đọc vẹt không suy nghĩ kĩ dẫn đến xác định sai dạng bài hoặc nhầm lẫn các đại lượng dẫn đến bài làm sai. - Học sinh xác định được dạng bài nhưng không nhớ cách giải do nắm không vững kiến thức đã học. -Không sinh không kiểm tra lại bài sau khi làm để những sai sót nhỏ dẫn đến bài làm sai hoặc chưa hoàn chỉnh. - Một số em chỉ giải được bài toán ở mức độ áp dụng công thức chứ chưa linh hoạt trong vận dụng kiến thức vào làm bài. 2 Sau đây là kết quả khảo sát 36 học sinh trong lớp 4D tôi giảng dạy về giải toán có lời văn: Mức độ hiểu bài và vận dụng Số lượng Tỉ lệ% Chưa hoàn thành Hoàn thành ở mức độ nhớ kiến thức cơ bản Hoàn thành ở Hoàn thành ở mức biết vận mức vận dụng dụng linh hoạt kiến thức 14em 11 em 8em 3em 38,9 30,5 22,2 8,3 3. Các giải pháp trong dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 3.1. Trong quá trình dạy kiến thức mới Ở lớp 4, ngoài việc tiếp tục vận dụng kiến thức giải các bài toán có lời văn đã học ở lớp dưới, học sinh còn được học khá nhiều về dạng bài toán giải điển hình ở Tiểu học. Đồng thời mức độ vận dụng kiến thức giải toán cũng yêu cầu cao hơn, cần hiểu sâu và linh hoạt hơn, số lượng bài tập cũng nhiều hơn. Xuyên suốt các mạch kiến thức hầu như tiết học nào cũng có bài toán giải. Để cho học sinh có thể vận dụng kiến thức hoàn thành nội dung học tập là vô cùng cần thiết. Muốn vậy, điều đầu tiên là giáo viên giúp học sinh hiểu rõ bản chất và nắm vững từng dạng toán giải. Tôi xác định, với mỗi dạng bài lí thuyết Toán nói chung và đặc biệt toán giải nói riêng, việc dạy phần lí thuyết cho các em, ở bài kiến thức mới, ở tiết học đầu tiên khi học sinh được tiếp cận với dạng toán, các em phải được tìm tòi, phát hiện và lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, tích cực. Có như thế học sinh mới hiểu rõ bản chất vấn đề và nhớ lâu. Trong quá trình dạy phần này, tôi vận dụng các phương pháp gợi mở, vấn đáp để giúp các em cùng tham gia vào quá trình tìm ra công thức hay cách giải bài toán, tuyệt đối không dạy tắt hay áp đặt công thức cho học sinh. Khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức đã có để tìm cách giải quyết vấn đề, gợi mở và liên hệ, tổng hợp để tìm ra công thức hay phương pháp giải mới, Từ đó giúp các em hiểu bản chất của bài toán, dạng toán. Ví dụ minh họa bài “ Tìm số trung bình cộng”: Bài toán: Số học sinh của ba lớp lần lượt là 25 học sinh, 27 học sinh, 32 học sinh. Hỏi trung bình mỗi lớp có bao nhiêu học sinh? -Trước tiên tôi cho HS hiểu khái niệm “ trung bình” là một phần trong số các phần được chia đều ( bằng nhau). -HS giải bài toán ( theo cách làm được hướng dẫn từ bài toán 1 của sách giáo khoa) Bài giải Tổng số học sinh của 3 lớp là: 3 25 +27 +32 = 84 (học sinh) Trung bình mỗi lớp có số học sinh là: 84 : 3 = 28 (học sinh) Đáp số: 28 học sinh. - Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào hai bước giải trên nêu tóm tắt lại phép tính đã làm để tìm ra số trung bình cộng. ( học sinh nêu ( 25 + 27 + 32) :3) - Giáo viên sử dụng phương pháp vấn đáp, lật lại vấn đề để HS tự nêu lên được cách tìm số trung bình cộng: ( 25+ 27+32) chính là số liệu nào trong bài toán? ( tổng số HS của 3 lớp); Số 3 trong phép tính trên chỉ đối tượng nào trong bài toán ( là chỉ ba lớp) . Vậy ta đã tìm được số trung bình cộng như thế nào? Từ đó giáo viên giúp học sinh tự phát biểu và trình bày cách tìm số TBC: “ Muốn tìm số TBC của nhiều số ta tính tổng các số đó rồi chia cho số các số hạng.” -Đối với học sinh có năng lực học toán tốt, tôi sẽ đặt ra vấn đề cho các em: Nếu cho số TBC và biết số số hạng ta tìm tổng như thế nào? ( Tổng = TBC nhân với số các số hạng). -Tóm lại, bước hình thành kiến thức mới là bước rất quan trọng để học sinh nhớ lâu và hiểu bản chất vấn đề, giáo viên cần có phương pháp linh hoạt và phù hợp để phát huy tính tích cực chủ động tìm tòi, phát hiện và xây dựng kiến thức ở học sinh. 3.2. Trong quá trình dạy các bài vận dụng thực hành. 3.2.1. Quy trình chung cách giải các bài toán có lời văn. Bước 1: Nhận dạng bài toán. Thường xuyên cho học sinh đọc đề bài nhiều lần trước khi làm bài, (yêu cầu bắt buộc đối với một số em là đọc tối thiểu từ 3 đến 5 lần), đọc chậm và kĩ từng câu, vừa đọc vừa suy ngẫm. Từ đó các em hình thành thói quen đọc kĩ bài trước khi giải. Khi giải toán đố, tôi thường xuyên cho học sinh tóm tắt. Trước khi tóm tắt thường hướng dẫn cho các em cách tóm tắt bài bằng hệ thống các câu hỏi gợi mở, giúp học sinh nhận biết dạng toán điển hình. Từ đó, học sinh có hướng tóm tắt bài toán cho đúng với yêu cầu của từng loại bài, nhận dạng bài toán chính xác để vận dụng đúng phương pháp giải. - Bước 2: Phân tích bài toán. Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp gợi mở cho học sinh, đi ngược từ câu hỏi của bài toán trở lại điều kiện của đầu bài đó cho. - Bước 3: Giải bài toán. Từ ba bước trên, giúp học sinh hiểu kĩ đầu bài, từ đó học sinh định hướng, tư duy và tìm ra cách giải bài toán đó. 4 - Bước 4: Thử lại kết quả. Sau khi giải xong, cho các em thử lại kết quả. Bước này giúp học sinh có cơ sở lí luận, tin tưởng vào cách làm bài của mình. Đối với học sinh có năng lực hạn chế tôi làm kĩ hai bước đầu để HS hiểu rõ bản chất của đề bài, có như vậy các em mới làm tốt được bài toán đã cho. Đối với học sinh tiểu học, việc luyện tập thường xuyên các kiến thức toán học sẽ tạo cho học sinh các kĩ năng giải toán có ý thức. Sẽ rất có hiệu quả nếu ta tạo cho học sinh các kĩ năng giải toán một cách có ý thức. Muốn vậy ta cần phải giảng dạy cho học sinh hiểu thật kĩ lưỡng về các dạng toán. Cần phải lật đi, lật lại các vấn đề nhằm tránh cho học sinh lối tư duy một chiều, suy luận máy móc trong khi giải toán. Đối với học sinh có năng lực học toán tốt nếu chỉ dừng ở 4 bước trên thì mới chỉ giúp học sinh tìm được lời giải và đáp số của từng bài tập cụ thể mà chưa phát huy được tối đa năng lực học tập của các em. Do đó, sau khi học sinh luyện thành thạo 4 bước cần tạo cho học sinh có thói quen làm tiếp một bước nữa đó là khai thác và phát triển bài toán. Đây chính là bước rèn luyện trí thông minh và óc sáng tạo của học sinh. Bởi vậy, sau khi học sinh giải xong bài toán và thử lại đúng kết quả, tôi hướng dẫn học sinh có cách giải khác không và từ bài toán này có thể đặt ra các bài toán khác như thế nào và cách giải chúng ra sao. Việc đi sâu vào tìm hiểu nhiều cách giải khác nhau có vai trò rất lớn trong việc rèn kĩ năng, củng cố kiến thức, phát triển trí thông minh và óc sáng tạo cho học sinh. Trong khi cố gắng tìm ra các cách giải khác nhau học sinh hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm. Học sinh sẽ lựa chọn được cách giải hay hơn và tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm để giải toán. Biết tự đặt thêm bài toán mới là một biện pháp giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng và những quan hệ bản chất trong mỗi bài toán. Từ đó mà học sinh hiểu bài hơn rất nhiều. Để hình thành cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảo “giải toán có lời văn” theo năm bước trên, tôi thực hiện thường xuyên, liên tục và tỉ mỉ. 3.2.2. Giải pháp cụ thể cho từng đơn vị kiến thức Trong chương trình môn Toán lớp 4 có rất nhiều dạng toán có lời văn như: - Bài toán về tìm số trung bình cộng của nhiều số. - Bài toán về tìm hai số khi biết tổng- hiệu, tổng- tỉ, hiệu- tỉ của hai số. - Bài toán tính chu vi và diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi, hình bình hành. - Bài toán vận dụng tìm phân số của một số. Sau đây là một số ví dụ cụ thể ở các dạng toán giải lớp 4: 3.2.2.1. Dạng toán “Tìm số trung bình cộng” Bài toán 5 Một tổ sản xuất ngày đầu làm được 50 sản phẩm, ngày thứ hai làm được 60 sản phẩm, ngày thứ ba làm được 70 sản phẩm. Hỏi trung bình mỗi ngày tổ đó làm được bao nhiêu sản phẩm? Giáo viên hướng dẫn giải Bước 1: Đọc kỹ đề và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. 50 SP 60 SP 70 SP SP làm trong 3 ngày TB một ngày? SP Bước 2: Nhìn trên sơ đồ để tìm quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết. Tìm tổng số sản phẩm đã sản xuất trong 3 ngày. Tìm số trung bình cộng của ba số. Bước 3: Giải Số sản phẩm làm được trong ba ngày là: 50 + 60 + 70 = 180 (sản phẩm) Trung bình mỗi ngày làm được số sản phẩm là: 180 : 3 = 60 (sản phẩm) Đáp số : 60 sản phẩm Bước 4: Kiểm tra kết quả: 60 x 3 = 50 + 60 + 70 = 180 Bước 5: Có thể cho HS giải bài toán ngược lại: Một tổ sản xuất, trung bình cả 3 ngày làm được 60 sản phẩm. Ngày thứ nhất làm được 50 sản phẩm, ngày thứ hai làm được 60 sản phẩm . Hỏi ngày thứ ba làm được bao nhiêu sản phẩm? Chú ý: Với học sinh năng lực còn hạn chế không phân tích được sơ đồ để giải như trên thì giáo viên có thể giúp các em lập kế hoạch giải: Giáo viên Học sinh - Hỏi: Bài toán cho biết gì? - Ngày đầu làm: 50 SP Ngày thứ hai làm: 60 SP Ngày thứ ba làm: 70 SP - Hỏi: Bài toán bắt tìm gì? - Trung bình mỗi ngày làm được 6 bao nhiêu SP? - Hỏi: Muốn tìm TBC của nhiều - Lấy tổng các số hạng chia cho số ta phải làm gì? số các số hạng. - Hỏi: Muốn tìm TB mỗi ngày - Lấy tổng số sản phẩm làm trong làm được bao nhiêu sản phẩm ta phải 3 ngày chia cho 3. làm gì? - Trung bình mỗi ngày làm được - Hướng dẫn đặt lời giải số sản phẩm là: 3.2.2.2. Dạng toán “ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” Bài toán: Tìm hai số khi biết tổng hai số bằng 456 và hiệu hai số là 24. Giáo viên hướng dẫn giải Bước 1 Đọc kỹ bài toán và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. ? Số lớn: 456 Số bé: 24 Bước 2 ? Nhìn trên sơ đồ để tìm quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết. + Tìm hai lần số lớn (hoặc hai lần số bé). + Tìm số lớn, số bé. Bước 3 Giải Số bé là: (456 – 24) : 2 = 216. Số lớn là: 216 + 24 = 240. Bước 4 Kiểm tra 216 + 240 = 456 240 -216 = 24 Bước 5: (Dành cho học sinh có khả năng học tốt ) Có thể yêu cầu HS làm các dạng bài ẩn tổng, ẩn hiệu. Ví dụ: Tổng của hai số là số lớn nhất có 3 chữ số chia hết cho 5. Biết nếu thêm vào số bé 35 đơn vị thì ta được số lớn, tìm hai số đó. Chú ý: 7 Với học sinh khả năng học toán còn hạn chế giáo viên có thể giúp các em lập kế hoạch giải như sau: Giáo viên Học sinh - Hỏi: Bài toán cho biết gì? - Tổng hai số là: 456 Hiệu hai số là: 24 - Bài toán hỏi gì? Tìm số lớn và số bé. - Muốn tìm được số bé ta phải làm gì? - Tìm hai lần số bé: Tổng – Hiệu - Muốn tìm được số bé ta phải làm gì? - Số bé = (Tổng – Hiệu) : 2 Bằng cách nào? -Muốn tìm được số lớn ta phải làm gì? - Số lớn = Số bé + Hiệu = Tổng – Số bé Lập kế hoạch giải tương tự với cách giải số 2. Sai lầm học sinh có thể mắc phải: - Học sinh không biết tóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng. - Học sinh sai lầm trong cách tính. Ví dụ: Không tìm hai lần số bé mà lấy thẳng tổng chia 2 để tìm số bé rồi lại lấy số bé cộng hiệu ra lớn. - Học sinh quên không đóng ngoặc khi viết ( tổng – hiệu) hoặc (tổng + hiệu) Cách khắc phục: Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề, tóm tắt bài và xác định rõ dạng toán. Hướng dẫn học sinh lập kế hoạch giải theo qui tắc: + Số bé = (Tổng – Hiệu): 2 hoặc + Số lớn = ( Tổng + Hiệu) : 2 + Số lớn = Tổng – Số bé + Số bé = Tổng – Số lớn 3.2.2.3. Dạng toán “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó” Bài toán: Lớp 4A có 35 học sinh, trong số đó số học sinh nữ bằng 3/4 số học sinh nam. Hỏi lớp 4A có bao nhiêu học sinh nữ, bao nhiêu học sinh nam? Giáo viên hướng dẫn cách giải: Bước 1: Đọc kỹ đề bài và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. ? Số học sinh nữ: Số học sinh nam: ? 35 học sinh Ở bước này, tôi hướng dẫn các em kĩ cách vẽ sơ đồ và yêu cầu chi tiết từ cách bắt đầu vẽ: điểm bắt đầu của hai sơ đồ phải cùng nằm trên một đường kẻ thẳng 8 của vở ô li, các phần chia phải bằng nhau,nếu các phần không bằng nhau thì sẽ không đúng, cách vẽ vạch biểu thị tổng, biểu thị số cần tìm. Đồng thời tôi lưu ý học sinh đối với dạng toán này, sơ đồ là một phần của bài giải, các em lưu ý trình bày trong bài giải, nếu các em cẩu thả, vẽ sơ đồ không chính xác thì bài làm sẽ sai. Bước 2: Nhìn sơ đồ để tìm mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết. Tìm số phần bằng nhau tương ứng với 35 học sinh. -Tìm số học sinh nam và số học sinh nữ. Bước 3: Giải Tổng số phần bằng nhau là: 3 + 4 = 7 (phần) Số học sinh nam của lớp 4A là: 35:7 x 4 = 20 (học sinh) Số học sinh nữ của lớp 4A là: 35 – 20 = 15 (học sinh) Đáp số : 20 học sinh nam; 15 học sinh nữ Bước 4; Kiểm tra 14 + 20 = 35 15 : 20 = 3 4 -Nếu học sinh năng lực còn hạn chế không giải được như trên giáo viên có thể giúp các em lập kế hoạch giải như sau: Giáo viên Học sinh - Bài toán cho biết gì? - Cho biết tổng số học sinh là 35. Tỉ số giữa học sinh nữ và nam là 3/4 - Bài toán yêu cầu gì? - Số học sinh nam và học sinh nữ. - Giá trị một phần. - Muốn biết được số học sinh nam và số học sinh nữ ta phải biết được giá trị mấy phần trước? - Lấy tổng số học sinh chia cho số - Muốn tìm giá trị một phần ta làm thế phần đoạn thẳng. nào? - Lấy giá trị một phần nhân với số - Làm thế nào để tìm số học sinh nữ? phần học sinh nữ. - Lấy giá trị một phần nhân với số - Làm thế nào để tìm số học sinh nam? phần học sinh nam ( hoặc lấy tổng trừ 9 đi số học sinh nữ). Bước 5: Với những học sinh có năng lực học tốt hướng dẫn thêm các em dạng bài toán dạng ẩn tổng hoặc ẩn tỉ số. Ví dụ: Tìm hai số có trung bình cộng là 92 và thương của chúng là 3. Sai lầm học sinh có thể mắc phải: - Nhầm lẫn khi xác định số bé, số lớn dẫn đến vẽ sơ đồ sai và làm bài kết quả sai. - Không biểu diễn được sơ đồ đoạn thẳng. - Không tìm được tổng só phần bằng nhau. - Khi tìm số bé, số lớn không nhân với số phần. Cách khắc phục: -Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài. -Xác định đâu là số bé, số lớn dựa vào tỉ số để xác định số phần tương ứng của mỗi đoạn thẳng biểu thị trên sơ đồ. Phần này với những học sinh có năng lực còn hạn chế, tôi hướng dẫn các em mẹo để xác định hai số như sau: Trong bài toán, khi cho tỉ số thì số được nhắc đến trước tương ứng với phần tử số ( hoặc số bị chia), số được nhắc đến sau tương ứng phần mẫu số. Ví dụ: ‘ số gà bằng 4/5 số vịt’ thì số gà là 4 phần, số vịt là 5 phần. hoặc “ Tỉ số giữa số gạo nếp và gạo tẻ là 2/5 ( hoặc là 2:5)” thì số gạo nếp là 2 phần, số gạo tẻ là 5 phần. -Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, dựa vào tỉ số để vẽ sơ đồ. .-Dựa vào sơ đồ đoạn thẳng để phân tích bài toán, xác định tổng số phần bằng nhau. ( đếm số phần bằng nhau được chia trong sơ đồ) - Nhớ các bước khi giải bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số”: + Đọc đề và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. + Tìm tổng số phần đoạn thẳng bằng nhau. + Tìm giá trị ứng với một phần. + Tìm số lớn và số bé. 3.2.2.4. Dạng toán “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó’’ Bài toán Mẹ hơn con 28 tuổi. Tìm tuổi mỗi người biết tuổi mẹ gấp 5 lần tuổi con. Giáo viên hướng dẫn giải: Bước 1:Đọc kỹ đầu bài và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. 10 ? Tuổi mẹ: 28 Tuổi con: ? ( Bước này tôi cũng yêu cầu khắt khe với các em cách vẽ sơ đồ như dạng toán “Tổng – Tỉ” trên) Bước 2: Tìm mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết dựa vào sơ đồ đoạn thẳng. Tìm số phần tương ứng với 28 tuổi. Tìm giá trị một phần (hay tuổi con) Tìm tuổi mẹ. Bước 3: Giải Theo sơ đồ, hiệu số phần bằng nhau là: 5 – 1 = 4 (phần) Tuổi con là: 28 : 4 = 7 (tuổi) Tuổi mẹ là: 28 + 7 = 35 (tuổi) Đáp số: mẹ 35 tuổi, con 7 tuổi. Bước 4: Kiểm tra: 35 – 7 = 28 35 : 5 = 7 Bước 5: (dành cho năng lực học tốt toán): Cho HS phát triển bài toán dạng ẩn tổng, ẩn hiệu. VD: -Mẹ hơn con 28 tuổi. Tìm tuổi mỗi người biết 3 năm trước đây tuổi mẹ gấp năm lần tuổi con. - Tìm một số tự nhiên biết khi viết thêm ( hoặc xóa bớt ) đi một chữ số a ở bên phải số đó thì được số mới hơn ( hoặc kém) số đó .... đơn vị. Chú ý: Với những học sinh khả năng còn hạn chế, không giải được như trên giáo viên có thể giúp các em lập kế hoạch giải như sau: Giáo viên - Bài toán cho biết gì? Học sinh - Hiệu của tuổi mẹ và tuổi con là 28. Tỉ số giữa tuổi mẹ và con là 5:1 - Bài toán yêu cầu tìm gì? - Tìm tuổi mẹ, tuổi con - Tìm được tuổi ai trước? Bằng - Tuổi con. Bằng cách lấy 28 11 cách nào? - Muốn tìm tuổi mẹ ta làm thế nào? chia cho hiệu số phần bằng nhau. - Lấy số tuổi con nhân với 5 hoặc lấy tuổi con cộng với hiệu. Sai lầm học sinh có thể mắc phải: - Không biểu thị được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng. Dẫn đến không tìm được hiệu số phần bằng nhau tương ứng với bao nhiêu. - Lời giải còn lủng củng. - Xác định sai số bé số lớn. - Hay nhầm lẫn giữa tổng số phần và hiệu số phần. Cách khắc phục: - Hướng dẫn học sinh đọc đề và phân tích để xác định được dữ kiện bài toán. ( Lưu ý tương tự dạng Tổng _ Tỉ ) - Hướng dẫn học sinh dựa vào tỉ số để vẽ sơ đồ. - Phân biệt hai dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số” và “Tìm hai biết khi biết hiệu và tỉ số”. - Rút ra các bước khi giải dạng toán “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó” : + Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng. + Tìm hiệu số phần đoạn thẳng bằng nhau. + Tìm giá trị ứng với một phần đoạn thẳng. + Tìm số lớn, số bé. 3.2.2.5. Dạng toán liên quan đến yếu tố hình học Các bài toán có nội dung hình học ở lớp 4 những bài toán xác định cạnh từ đó tính chu vi, diện tích của hình. Nội dung này được lồng ghép trong các mạch kiến thức khác nhau. Đối với tôi, trong các tiết hình thành và xây dựng bài mới là tiết rất quan trọng nhằm giúp các em có một biểu tượng, một cách hiểu đúng đắn về bản chất của dạng toán đó, nắm được đúng ý nghĩa các khái niệm, các danh từ trong Toán học của bài toán, dạng toán đó. Ví dụ như: Các em phải hiểu khái niệm chu vi chính là số đo độ dài các cạnh cộng lại (với hình có các cạnh ) hay chiều rộng bằng 2/3 chiều dài có nghĩa là chiều dài được chia thành 3 phần bằng nhau thì chiều rộng chiếm 2 phần như thế ... Trong tiết hình thành bài mới thì các bài tập của tiết đó chỉ xoay quanh luyện kiến thức vừa đưa ra, giáo viên cần phải giải quyết triệt để tất cả các bài tập này. Bắt đầu hình thành kiến thức về một dạng toán, bao giờ sách giáo khoa 12 cũng đưa ra những bài toán với những số liệu rất đơn giản cụ thể. Đối với tiết bài mới tôi đã thực hiện như sau: - Yêu cầu các em đọc kĩ bài toán, xác định được cái bài toán hỏi, những gì bài toán đã cho. -Tìm hiểu bản chất của những vấn đề đã cho . Ví dụ : Chu vi, tổng, hiệu,.. Ví dụ: Một hình chữ nhật có chiều dài hơn chiều rộng 12 m. Tính chu vi và diện tích của hình chữ nhật đó, biết chiều dài bằng 7/4 chiều rộng. - Bài toán hỏi gì ? ( Tìm chu vi và diện tích) - Bài toán đã cho biết những gì ? ( Chiều dài hơn chiều rộng 12 m, chiều dài bằng 7/4 chiều rộng ) - Vậy theo em chiều dài bằng 7/4 chiều rộng có nghĩa là thế nào ? ( Chiều dài bằng 7/4 chiều rộng có nghĩa là chiều dài chia thành 7 phần bằng nhau thì chiều rộng là 4 phần như thế. ) -Muốn tính được chu vi và diện tích ta phải tìm được gì? ( Chiều dài và chiều rộng) Sau một bài tập giáo viên lại đặt câu hỏi chốt lại kiến thức mà các em vừa lĩnh hội được sau bài tập đó. Ví dụ : Muốn tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó em làm như thế nào? 3.2.2.6. Dạng toán “ Tìm phân số của một số” Dạng toán này học sinh học trong mạch kiến thức về phân số nó không phải dạng toán điển hình nhưng lại được lồng ghép, tích hợp trong các bài tập điển hình khác. Bài toán: Một lớp học có 16 học sinh nam và số học sinh nữ bằng 9/8 số học sinh nam. Hỏi lớp có bao nhiêu học sinh? Bước 1: Học sinh đọc kĩ bài toán và xác định dạng. - Số học sinh nam 16. Phân số biểu thị số học sinh nữ so với học sinh nam 9/8. - Bước 2: - Vận dụng kiến thức tính số học sinh nữ. Tính số học sinh cả lớp. Bước 3: Giải: Số học sinh nữ của lớp là: 16 x 9/8 =18 ( Học sinh) Số học sinh cả lớp là: 16 + 18 = 34 ( Học sinh) Đáp số: 34 học sinh Bước 4: 18: 16 = 18/16 = 9/8 13 Bước 5: Đối với Hs có năng lực học toán tốt, tôi hướng dẫn thêm các em dạng bài “ Cho giá trị phân số của 1 số, tìm số đó” . Ví dụ: 4/9 số học sinh của một đội thể dục là 20 em. Hỏi đội thể dục đó có bao nhiêu em? Đối với dạng toán cơ bản tìm phân số của một số, tôi giúp các em hiểu bản chất của vấn đề, phân số là a/b có nghĩa là chia làm b phần bằng nhau và số cần tìm chiếm a phần. Từ đó các em kết hợp kiến thức về phân số tìm ra và ghi nhớ cách làm. Đối với dạng toán nâng cao ở bước 5 thì tôi sẽ hướng dẫn các em hiểu vấn đề và làm phép tính khác dạng cơ bản trong sách giáo khoa. Những nhầm lẫn học sinh hay mắc phải: Dạng toán này học sinh rất hay nhầm phép nhân thành phép chia. Lỗi này do ở lớp 3 các em học toán dạng “ Tìm một trong các phần bằng nhau của 1 số” ( 1/2 đến 1/9). Cách khắc phục: Khi dạy bài mới tôi đã liên hệ với dạng toán lớp 3 để phân tích cho các em hiểu và tránh nhầm lẫn. Ví dụ tôi đưa ra hai bài toán: Bài 1: Một đàn gà có 45 con gà mái. Biết số con gà trống bằng 1/5 số con ngà mái, tính số con gà trống. Bài 2: Một đàn gà có 45 con gà mái. Biết số gà trống bằng 4/5 số con gà mái, tính số con gà trống. Tôi giúp học sinh phân tích để phân biệt : + Bài toán 1 ( Tìm một trong các phần bằng nhau của 1 số - toán lớp 3) : số gà trống bằng 1/5 số gà mái, có nghĩa là số con gà mái được chia thành 5 phần bằng nhau thì số con gà trống tương ứng bằng 1 phần. Vì vậy, ta lấy số con gà mái chia 5 là ra số con gà trống. + Bài toán 2 ( tìm phân số của 1số): số con gà mái được chia thành 5 phần bằng nhau, số con gà trống tương ứng với 4 phần. Vì vậy, số con gà trống là 45 chia 5 phần rồi nhân 4 là ra 4 phần. Theo đề bài toán, cho tỉ số tương ứng 4/5, theo cách tính với phân số và tính chất của phân số thì lấy 36 nhân 4/5 ( chính là chia 5 nhân 4). Với cách so sánh này thì học sinh hiểu bản chất vấn đề và các em không còn nhầm lẫn phép nhân thành phép chia trong dạng toán “Tìm phân số của 1 số” nữa. 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. Với sự chỉ đạo của nhà trường, sự cố gắng của bản thân, sau khi thực hiện các giải pháp như trên, nửa học kì I của năm học 2018 – 2019 lớp của tôi có được kết quả đáng khích lệ. Tôi thấy áp dụng phương pháp này phù hợp với mục tiêu của giáo dục tiểu học là phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh và chất lượng học tập được nâng lên một cách rõ rệt. Trong quá trình học toán học sinh đã chiếm lĩnh được kiến thức rất tốt, các em yêu thích và tích cực học toán hơn. Sự tiến bộ của học sinh được thể hiện qua điểm số bài được đánh giá hoàn 14 thành và điểm số cuối kì). Cha mẹ học sinh yên tâm hơn, tin tưởng vào chương trình, kiến thức không quá khó với học sinh. Phần đông phụ huynh tích cực ủng hộ việc dạy học của nhà trường, của giáo viên. Tôi đã tiếp tục áp dụng cho tới thời điểm hiện tại. Sau đây là kết quả khảo sát về toán có lời văn giữa kì II: Thời gian Giữa kì II Chưa thành hoàn Hoàn thành ở Hoàn thành ở Hoàn thành ở mức độ nhớ mức độ biết mức độ vận kiến thức vận dụng dụng linh hoạt, sáng tạo SL % SL % SL % SL % 5 13,9 15 41,6 10 27,7 6 16,6 Trên đây mới chỉ là kết quả khiêm tốn nhưng cũng đủ để chứng minh được rằng: khi học sinh nắm vững kiến thức, hiểu rõ bản chất của vấn đề, được tự xây dựng và hình thành kiến thức mới, nắm được phương pháp giải toán có lời văn, kết quả học tập của các em sẽ được nâng lên. III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Thông qua việc thực hiện, giải quyết vấn đề đã được nêu trên, tôi đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 như sau: - Luôn động viên, khuyến khích học sinh đào sâu suy nghĩ, tìm tòi kiến thức để phát huy năng lực của học sinh. Không trách phạt, phê bình khi các em làm bài sai dẫn đến việc các em sẽ mất bình tĩnh, rối trí trong quá trình giải toán mà tìm ra nguyên nhân để có cách giúp các em hoàn thành tốt nội dung học tâp. - Sử dụng triệt để những đồ dùng dạy học khi dạy toán để lôi cuốn, gây hứng thú cho học sinh đối với môn học được coi là khô khan nhất này. - Trong các giờ dạy trên lớp, giáo viên phải sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực hóa hoạt động của học sinh. Chú trọng bước hình thành kiến thức giúp học sinh khắc sâu kiến thức về dạng toán. - Thường xuyên kiểm tra việc nắm các bước giải toán có lời văn của học sinh để củng cố khắc sâu cho các em kiến thức ở các giờ luyện tập, thi giải toán nhanh trong giờ sinh hoạt vui chơi. - Giải toán có lời văn là dạng toán khó đối với đa số học sinh, giáo viên cần kiên nhẫn và tỉ mỉ để giúp các em có thể tránh sai sót khi làm bài. 15 - Đối với đối tượng HS khả năng còn hạn chế cần yêu cầu HS đọc nhiều lần đề toán, phân tích gợi mở cho các em một cách chi tiết, rõ ràng. Thường xuyên động viên các em mỗi khi các em tiến bộ dù là rất nhỏ. Giúp các em tự tin hơn vào khả năng của mình. - Với đối tượng HS có năng lực học tập tốt cần phát huy khả năng của học sinh tạo cơ hội cho các em bộc lộ mình bằng cách cho các em phát triển bài toán, trình bày cách giải khác. Cho các em được làm "thầy" những bạn có năng lực còn hạn chế hơn ở lớp bằng cách xây dựng phong trào "Đôi bạn cùng tiến" để các em giúp nhau trong học tập. Trên đây là một số vấn đề tôi đã suy nghĩ, học hỏi và thể hiện trong quá trình giảng dạy môn Toán. Tôi rất mong được sự nhận xét, góp ý của các đồng chí, đồng nghiệp để giúp đỡ tôi hoàn thành tốt hơn nữa trọng trách của người giáo viên trong “ Sự nghiệp trồng người”. 2. Đề xuất - Trong sinh hoạt chuyên môn ở nhà trường cần có các chuyên đề sinh hoạt về việc giúp học sinh làm tốt các dạng toán nói chung và giải toán có lời văn nói riêng để giáo viên học hỏi lẫn nhau. - Đối với giáo viên, ngay từ lớp 1, lớp 2 cần hết chú trọng việc hướng dẫn học sinh kĩ năng phân tích đề toán có lời văn và kĩ năng làm bài giải. - Tăng cường đầu sách trong thư viện để giáo viên có đủ tư liệu tham khảo. Do còn hạn chế về năng lực và điều kiện khách quan nên tôi mong nhận được sự góp ý quý báu của các bạn đồng nghiệp và Hội đồng Khoa học các cấp. Tôi xin chân thành cảm ơn ! XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 20 tháng4 năm 2019 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Trịnh Thị Hà ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. 16 .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách toán 4. 2. Vở bài tập thực hành 4 3. Phương pháp dạy toán Tiểu học. 4. Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học. 5. Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Toán lớp 4. 17 18
- Xem thêm -