Tài liệu Đánh giá thực trạng tài chính và các giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
kenhht

Tham gia: 06/11/2018

Mô tả:

Đánh giá thực trạng tài chính và các giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính MỤC LỤC MỤC LỤC i DANH MỤC BẢNG BIỂU iii DANH MỤC VIẾT TẮT: iv LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 3 1.1. Tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp 3 1.1.1. Tài chính doanh nghiệp và các quyết định tài chính doanh nghiệp 3 1.1.2. Quản trị tài chính doanh nghiệp 7 1.2. Đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp 13 1.2.1. Khái niệm, mục tiêu đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp 13 1.2.2. Nội dung đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp 15 CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ TẠO BƠM HẢI DƯƠNG TRONG THỜI GIAN QUA 33 2.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương 33 2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển 33 2.1.2. Đặc điểm hoạt động của công ty 34 2.2. Đánh giá thực trạng tài chính tại công ty CP Chế tạo Bơm Hải Dương. 41 2.2.1. Đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp 41 2.2.2. Đánh giá tình hình đầu tư và sử dụng vốn của công ty 49 2.2.3. Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn bằng tiền của công ty 59 2.2.4. Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của công ty 66 2.2.5. Đánh giá hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của công ty 75 2.2.6. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty 84 1 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 2.3. Đánh giá chung về thực trạng tài chính tại công ty CP Chế tạo Bơm Hải Dương 92 2.3.1. Những mặt tích cực 92 2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 92 Chương III: Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương 94 3.1. Mục tiêu định hướng phát triển chung của công ty trong thời gian tới 94 3.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội 94 3.1.2. Mục tiêu và định hướng phát triển của công ty 95 3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty 95 3.2.1. Quản lý giám sát chặt chẽ chi phí giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Tích cực áp dụng các biện pháp tiết kiệm các khoản mục chi phí này làm tăng lợi nhuận 95 3.2.2. Tăng cường các biện pháp quản lý hàng tồn kho và có kế hoạch dự trữ hàng tồn kho hợp lý 97 3.2.3. Quản lý chặt chẽ các khoản phải trả, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật thanh toán 97 3.2.4. Thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, tăng doanh thu và lợi nhuận 98 3.3. Điều kiện thực hiện 98 3.3.1. Về phía Nhà nước và Bộ , ngành liên quan 98 3.3.2. Về phía công ty 99 KẾT LUẬN 102 2 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Các đơn vị và chắc năng, nhiệm vụ của từng đơn vị Bảng 2.2: Tình hình cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn Bảng 2.3: Các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn Bảng 2.4: Phân tích cơ cấu và biến động nguồn vốn theo thời gian Bảng 2.5: Cơ cấu và sự biến động tài sản Bảng 2.6: Chi tiết các khoản phải thu ngắn hạn Bảng 2.7: Chi tiết các khoản mục hàng tồn kho Bảng 2.8: Tình hình tăng, giảm Tài sản cố định theo nguyên giá Bảng 2.9: Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản của công ty Bảng 2.10: Sự biến động vốn bằng tiền Bảng 2.11: Diễn biến nguồn tiền và sử dụng tiền Bảng 2.12:Đánh giá tình hình diễn biến nguồn tiền và sử dụng tiền năm 2015 Bảng 2.13:Quy mô công nợ của công ty Bảng 2.14:Các chỉ tiêu đánh giá tình hình công nợ của công ty Bảng 2.15:Các hệ số khả năng thanh toán của công ty Bảng 2.16: Đánh giá khái quát Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2015-2014 Bảng 2.17: Các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí Bảng 2.18. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh Bảng 2.19: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của công ty Bảng 2.20: Bảng phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới ROE Bảng 2.21: So sánh các hệ số tài chính với trung bình ngành 3 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính DANH MỤC VIẾT TẮT: CP: Cổ phần PX: Phân xưởng NVL: Nguyên vật liệu CCDC: Công cụ, dụng cụ TGNH: Tiền gửi ngân hàng XĐKQ: Xác định kết quả TSCĐ: Tài sản cố định TSLĐ: Tài sản lưu động TSNH: Tài sản ngắn hạn TSDH: Tài sản dài hạn NVNH: Nguồn vốn ngắn hạn NVDH: Nguồn vốn dài hạn HTK: Hàng tồn kho KNTT: Khả năng thanh toán DT: Doanh thu DTT: Doanh thu thuần BH&CCDV: Bán hàng và cung cấp dịch vụ GVHB: Giá vốn hàng bán CPBH: Chi phí bán hàng CPQLDN: Chí phí quản lý doanh nghiệp CPLV: Chi phí lãi vay VCĐ: Vốn cố định VLĐ: Vốn lưu động VKD: Vốn kinh doanh VCSH: Vốn chủ sở hữu LNST: Lợi nhuận sau thuế LNTT: Lợi nhuận trước thuế 4 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Trước những biến đổi sâu sắc của nền kinh tế toàn cầu hóa,cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế, điều này tất yếu buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phát triển trong quá trình sản xuất kinh doanh mà còn phải phát huy tối đa tiềm lực của mình để đạt hiệu quả cao nhất. Vì thế các nhà quản trị doanh nghiệp phải luôn nắm rõ được tình hinh sản xuất kinh doanh và thực trạng tài chính của doanh nghiệp mình, từ đó đề ra những chiến lược, kế hoạch phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp. Để làm được điều đó, các nhà quản trị phải đi sâu đánh giá hoạt động tài chính hiện tại cũng như dự báo và định hướng bộ mặt tài chính tương lai, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trong tình hình thực tế hiện nay, với nền kinh tế có nhiều những diễn biến phức tạp, đã không có ít doanh nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề huy động vốn và sử dụng vốn, sản xuất kinh doanh kém hiệu quảm thậm chí không bảo toàn được vốn ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đặc biệt hơn nữa, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay thì vấn đề mình bạch trong tình hình tài chính càng được nhiều đối tượng quan tâm, do đó đối với mỗi nhà quản lý tài chính doanh nghiệp vấn đề này càng phải được quan tâm chú ý và đươc nghiên cứu kỹ lưỡng hơn bao giờ hết. Xuất phát từ ý nghĩa của đánh giá thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp, và sau gần 3 tháng thực tập tại Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương cho thấy công ty vẫn còn một số tòn tại về chính sách tài chính ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả kinh doanh, đó là lý do tác giả thực hiện đề tài sau :“ Đánh giá thực trạng tài chính và các giải pháp cải thiện tình hình tài 5 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính chính tại Công ty cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương”. 2. Đối tượng nghiên cứu Bài viết đi sâu tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp từ lý luận chung cho đến các chỉ tiêu đánh giá thực trạng tài chính của Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương. 3. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Nghiên cứu về tình hình tài chính và biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương. - Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng tài chính của công ty từ năm 2013 đến năm 2015, định hướng năm 2016. 4. Mục đích nghiên cứu - Làm rõ những vấn đề lý luận chung về tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp. - Trên cơ sở phân tích, làm rõ thực trạng tài chính của công ty để xác định những mặt tồn tại trong chính sách tài chính của công ty - Đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính công ty trong giai đoạn tới. 5. Phương pháp nghiên cứu Các biện pháp nghiên cứu sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn: - Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, phân tích thống kê kết hợp công thức, bảng biểu để tính toán, minh họa, so sánh rút ra kết luận. - Phương pháp kế thừa những nghiên cứu đã có, thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu. 6 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Tài chính doanh nghiệp và các quyết định tài chính doanh nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời. Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có các yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất như:Tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa, đem về lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa vì vậy các yếu tố trên đều được biểu hiện bằng tiền. Hay nói cách khác, để có các yếu tố đầu vào cần thiết, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, và tùy theo loại hình doanh nghiệp mà có các phương thức huy động vốn khác nhau. Từ số vốn tiền tệ ban đầu đó, doanh nghiệp mua sắm tài sản, trang thiết bị, nguyên vật liệu... phục vụ cho quá trình sản xuất. Sản phẩm của quá trình sản xuất được tung ra thị trường nhờ quá trình tiêu thụ, đây chính là giai đoạn mà doanh nghiệp bán sản phẩm và thu tiền từ bán hàng. Doanh thu bán hàng sau khi bù đắp các chi phí, doanh nghiệp sẽ thu được một khoản lợi nhuận, với số lợi nhuận đó doanh nghiệp sẽ tiếp tục phân phối một cách hợp lý. Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh 7 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính nghiệp.Trong quá trình đó làm phát sinh và tạo ra sự vận động của dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Mặt khác, sự vận động của vốn tiền tệ không chỉ bó hẹp trong một chu kỳ sản xuất, mà sự vận động đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng). Nhờ sự vận động của tiền tệ mà hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị đã phát sinh ở các khâu trong quá trình tái sản xuất trong nên kinh tế thị trường. Những quan hệ đó tuy chứa đựng nội dung kinh tế khác nhau, song chúng đều có những đặc trưng kinh tế giống nhau mang bản chất của tài chính doanh nghiệp. Các quan hệ kinh tế bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp dưới hình giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp bao gồm: ● Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (nộp thuế). Mặt khác ngân sách Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước và có thể cấp vốn đối với công ty liên doanh, mua cổ phần..cấp trợ giá cho các doanh nghiệp khi cần thiết. ● Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và tổ chức xã hội khác. Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể cso quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội… 8 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính ● Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động. Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương, tiền công, thực hiện thưởng phạt vật chất đối với người lao động. ● Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp. Mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện góp vốn đầu tư hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. ● Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch toán nội bộ doanh nghiệp. Như vậy, Xét về mặt hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của mình. 1.1.1.2. Các quyết định tài chính của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, có rất nhiều vấn đề nảy sinh đòi hỏi các nhà quản trị phải đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn cho doanh nghiệp, đó là các vấn đề liên quan đến việc tìm nguồn vốn cần thiết cho mua sắm tài sản và hoạt động của doanh nghiệp, phân bổ có giới hạn các nguồn vốn cho những mục đích sử dụng khác nhau đồng thời đảm bảo cho các nguồn vốn được sử dụng một cách hữu hiệu và hiệu quả để đạt mục tiêu đề ra. Tài chính doanh nghiệp thực chất quan tâm nghiên cứu ba quyết định chủ yếu, đó là quyết định 9 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính đầu tư, quyết định tài trợ (nguồn vốn) và quyết định phân phối lợi nhuận. ● Quyết định đầu tư Là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sảncố định và tài sản lưu động). Quyết định đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm: - Quyết định đầu tư tài sản lưu động: Quyến định tồn quỹ, quyết định tồn kho, quyết định chính sách bán chịu hàng hóa, quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn… - Quyết định đầu tư tài sản cố định: Quyết định mua sắm tài sản cố định mới, quyết định thay thế tài sản cố định cũ, quyết định đầu từ dự án, quyết định đầu từ tài chính dài hạn… - Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và tài sản cố định, bao gồm: Quyết định sử dụng đòn bẩy hoạt động, quyết định điểm hòa vốn… Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trong các quyết định tài chính doanh nghiệp vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Một quyết định đầu tư đúng sẽ góp phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, qua đó gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu. Ngược lại, một quyết định đầu tư sai sẽ là tổn thất giá trị doanh nghiệp, do đó sẽ làm thiệt hại tài sản cho chủ doanh nghiệp. ● Quyết định nguồn vốn Quyết định này gắn liền với quyết định lựa chọn loại nguồn vốn nào cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, nên dùng vốn vay ngắn hạn hay dài hạn. Các quyết định nguồn vốn bao gồm: - Quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn, bao gồm: Quyết định vay ngắn hạn hay quyết định sử dụng tín dụng thương mại, quyết định vay ngắn hạn ngân hàng hay sử dụng tín phiếu công ty. 10 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính - Quyết định huy động nguồn vốn dài hạn, bao gồm: Quyết định nợ dài hạn hay vốn cổ phần, quyết định vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty, quyết định sử dụng vốn cổ phần thông hay vốn cổ phần ưu đãi, quyết định vay để mua hay thuê tài sản… Những quyết định về nguồn vốn nêu trên đang là một thách thức không nhỏ đối với các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp. Để có thể có các quyết định nguồn vốn đúng đắn, các nhà quản trị tài chính phải nắm vững những điểm lợi, bất lợi của việc sử dụng các công cụ huy động vốn, đồng thời phải căn cứ vào tình hình hiện tại và dự báo tương lai để ra quyết định phù hợp với từng thời điểm cụ thể. ● Quyết định phân chia lợi nhuận Đây là quyết định gắn liền với chính sách cổ tức của doanh nghiệp.Trong quyết định này, nhà quản trị tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức hay là giữ lại để tái đầu tư. Những quyết định này liên quan đến việc doanh nghiệp nên theo chính sách cổ tức nào và liệu chính sách cổ tức có tác động gì đến giá trị của doanh nghiệp hay giá cổ phiếu trên thị trường của doanh nghiệp hay không. Như vậy, trong mỗi một quyết định tài chính, các nhà quản trị tài chính luôn phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời.Một quyết định tài chính khôn ngoan là quyết định có thể tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp, có nghĩa là quyết định đó phải đảm bảo tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa tỷ suất sinh lời cho chủ sở hữu. 1.1.2. Quản trị tài chính doanh nghiệp 1.1.2.1. Khái niệm và nội dung ● Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp 11 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy thực chất, quản trị tài chính doanh nghiệp là việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu hoạt động. Do các quyết định tài chính của doanh nghiệp đều gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy có thể nói quản trị tài chính doanh nghiệp là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ để đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp. ● Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp Thứ nhất, tham gia việc đánh giá, lựa chọn quyết định đầu tư. Quyết định đầu tư dài hạn là quyết định có tính chiến lược của doanh nghiệp. Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư, vì quyết định đầu tư ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp trong một thời gian dài, chi phối quy mô kinh doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong tương lai. Để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt về kinh tế, kỹ thuật và tài chính. Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và dự tính thu nhập trong tương lai, hay nói cách khác đó là xem xét dòng tiền liên quan đến khoản đầu tư, từ đó đánh giá và ra quyết định đầu tư. Thứ hai, xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp. Vốn là yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Nhà quản trị cần phải xác định các 12 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ, từ đó tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ, có lợi cho các hoạt động doanh nghiệp. Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều khía cạnh như: Kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi, bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí sử dụng mỗi nguồn vốn… Thứ ba, sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nhà quản trị phải tìm mọi biện pháp huy động vốn tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán và thu hồi tiền bán hàng cùng các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi vốn bằng tiền đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Thứ tư, thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp. Sau khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ tiến hành phân phối số lợi nhuận đó. Việc phân phối lợi nhuận sẽ không làm cho số lợi nhuận thay đổi, mà nó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể trong quá trình phân chia. Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần người lao động trong doanh nghiệp, giải quyết hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. Thứ năm, kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp 13 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hằng ngày, các báo cáo tài chính, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính mà các nhà quản trị có thể kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, từ những đánh giá, phân tích tình hình tài chính định kỳ mà doanh nghiệp biết được hiệu quả sử dụng vốn, điểm mạnh - điểm yếu trong quản lý, dự báo tình hình tài chính tương lai để đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp trong kỳ tới. Thứ sáu, thực hiện kế hoạch hóa tài chính. Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính.Có kế hoạch tài chính tốt thì mới có thể đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn để thực hiện mục tiêu doanh nghiệp.quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình chủ động đưa ra các giải pháp hữu hiệu khi thị trường có sự biến động. 1.1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp khác nhau thì công tác quản trị tài chính doanh nghiệp cũng không giống nhau.Đó là vì giữa các doanh nghiệp có sự khác biệt về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của ngành kinh doanh và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. ● Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, ở nước ta hiện nay có các loại hình doanh nghiệp sau đây: - Doanh nghiệp tư nhân - Công ty hợp danh - Công ty trách nhiệm hữu hạn - Công ty cổ phần Các loại hình doanh nghiệp khác nhau chi phối đến việc tổ chức, huy động vốn cũng như việc phân chia lợi nhuận cũng khác nhau. Chẳng hạn như 14 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính với doanh nghiệp tư nhân thì vốn là do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra, cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay. Loại doanh nghiệp này không được phép phát hành một loại chứng khoán nào trên thị trường để tăng vốn. Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu và sử dụng của chủ doanh nghiệp. Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn điều lệ của công ty là do các thành viên đóng góp. Trong quá trình hoạt động vốn có thể tăng nên nhờ kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc đi vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán. Việc phân chia lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định, mức lợi nhuận các thành viên nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp… Do vậy, khi phân tích đánh giá và lựa chọn các quyết định tài chính, nhà quản trị không thể bỏ qua hình thức pháp lý của doanh nghiệp, bởi với mỗi hình thức pháp lý khác nhau sẽ có sự khác nhau trong việc lựa chọn các quyết định tài chính. ● Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh Tổ chức tài chính doanh nghiệp còn dựa vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh.Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật riêng. Những đặc điểm đó đã ảnh hưởng đến cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp (ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vốn cố định chiếm tỷ trọng khác nhau trong tổng số vốn kinh doanh); ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn (tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp sản xuất chậm hơn tốc độ luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tính chất thời vụ khác với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh liên tục…). ● Môi trường kinh doanh 15 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, việc tổ chức tài chính doanh nghiệp phải tính đến tác động của môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh bao gồm: sự ổn định về kinh tế, thị trường, lãi suất, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, chính sách kinh tế, tài chính của nhà nước… Sự ổn định của nền kinh tế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế biến động có thể gây nên những rủi ro cho kinh doanh, những rủi ro đó ảnh hưởng tới các khoản chi phí đầu tư, ảnh hưởng nhu cầu về vốn, ảnh hưởng tới thu nhập của doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế phát triển cũng ảnh hưởng đến tiết kiệm chi phí trong kinh doanh… 1.1.2.3. Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị tài chính daonh nghiệp là một bộ phận và là nội dung quan trọng hàng đầu của quản trị doanh nghiệp, nó có quan hệ chặt chẽ tới tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt là hiện nay khi mà nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tự chủ hoàn toàn về sản xuất kinh doanh và tài chính, đồng thời phải đương đầu với nhiều thách thức do cạnh tranh khốc liệt và sự biến động khôn lường của thị trường thì vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau: Một là, huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục. Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp.Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp thường xuyên nảy sinh các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động động kinh doanh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển doanh nghiệp.Nếu không kịp thời huy động đủ vốn sẽ 16 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính làm gián đoạn hoạt động doanh nghiệp. Do vậy, việc đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp. Hai là, tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Với việc lựa chọn các dự án đầu tư tối ưu trên cơ sở cân nhắc so sánh giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức rủi ro của dự án đầu tư… mà nhà quản trị tài chính đã tạo tiền đề cho việc sử dụng vốn tiết kiệm và đạt hiệu quả cao. Việc tổ chức huy động vốn kịp thời, đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp. Việc lựa chọn hình thức và các phương pháp huy động vốn thích hợp, đảm bảo cơ cấu vốn tối ưu có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí sử dụng vốn, góp phần tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Mặt khác, với việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giúp doanh nghiệp tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay, từ đó giảm được tiền trả lãi vay, góp phần tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Ba là, kiềm tra, giám sát một cách toàn diện các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vận động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ. Vì vậy thông qua việc xem xét tình hình thu, chi tiền tệ hằng ngày và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp mà các nhà quản trị tài chính có thể kiểm soát kịp thời và toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó chỉ ra những tồn tại và tiềm năng chưa được khai thác nhằm đưa ra các quyết định thích hợp, điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp. 17 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1.2. Đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm, mục tiêu đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là quá trình thu thập và phân tích các thông tin tài chính, tính toán các chỉ số để đối chiếu xem hoạt động của doanh nghiệp có đat được mục tiêu, kết quả tương xứng với nguồn lực (chi phí) bỏ ra hay không. Thông thường, đánh giá nhằm phân tích sự phù hợp, tính hiệu quả của tài chính doanh nghiệp. Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là một khâu rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ những kết quả đánh giá, các nhà quản trị sẽ căn cứ vào đó mà đưa ra các quyết định tài chính cho phù hợp. Đánh giá càng tôt thì việc đưa ra quyết định càng đúng đắn, đồng thời cần phải được tiến hành thường xuyên và có hệ thống. - Đánh giá chính xác tình hình tài chính doanh nghiệp trên các khía cạnh khác nhau như cơ cấu nguồn vốn, tài sản, khả năng thanh toán, lưu chuyển tiền tệ, hiệu quả sử dụng tài sản, khả năng sinh lãi, rủi ro tài chính… nhằm đáp ứng thông tin cho tất cả các đối tượng quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp (nhà đầu tư, nhà cung cấp, nhà quản lý, cơ quan thuế, người lao động…). - Định hướng các quyết định của các đối tượng quan tâm theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như: quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi nhuận… - Trở thành cơ sơ cho dự báo tài chính, giúp dự đoán được tiềm năng tài chính của doanh nghiệp trong tương lai. - Là công cụ để kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở kiểm tra, đánh giá các chỉ tiêu kết quả đạt được so với các chỉ tiêu kế hoạch, dự toán, định mức… từ đó xác định được những điểm mạnh và điểm 18 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính yếu trong hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp có được những quyết định và giải pháp đúng đắn đảm bảo kinh doanh đạt hiệu quả cao. Mục tiêu này đặc biệt quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp. Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm. 1.2.2. Nội dung đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp 1.2.2.1. Đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp a) Đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp Vốn là yếu tố và là tiền đề cần thiết cho sự hình thành và phát triển doanh nghiệp.Để thực hiện được mục tiêu kế hoạch, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhằm hình thành nên các tài sản cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp.Để huy động vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn khác nhau.Về cơ bản, chúng được chia thành nguồn vốn chủ sở hữu và các nguồn vốn vay. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao, thông thường doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp hoạt động, tùy thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp. Mục tiêu của việc đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp là để thấy được doanh nghiệp đã huy động vốn từ những nguồn nào? Quy mô nguồn vốn tăng hay giảm? Cơ cấu nguồn vốn tự chủ hay phụ thuộc? Từ đó điều chỉnh chính sách huy động vốn phù hợp với từng thời kỳ cụ thể. Sự biến động của nguồn vốn được thực hiện bằng cách so sánh cả tổng số và từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ để xác định 19 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính chênh lệch tuyệt đối và chênh lệch tương đối của tổng số cũng như từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn. Đánh giá cơ cấu nguồn vốn bằng cách tiến hành xác định tỷ trọng từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn chiếm trong tổng của nó ở cuối kỳ và đầu kỳ.Căn cứ vào kết quả so sánh, có thể đánh giá được cơ cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn. Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn được xác định theo công thức: Tỷ trọng từng loại nguồn vốn b) = Giá trị từng chỉ tiêu nguồn vốn Tổng giá trị nguồn vốn x 100% Đánh giá hoạt động tài trợ của doanh nghiệp Hoạt động tài trợ của doanh nghiệp được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu: Nguồn vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động. Xem xét sự cân đối giữa nguồn tài trợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn, giữa nguồn tài trợ dài hạn so với tài sản dài hạn. Từ đó đánh giá xem doanh nghiệp đã đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính hay chưa? Ngoài ra cũng cần xem xét tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh bằng cách xác định nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn lưu động thường xuyên của DN Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn = Tổng tài sản – Nợ ngắn hạn Nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC) = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn = Nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên liên tục. Trong quá trình đó luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn lưu động cần thiết để đáp ứng các yêu cầu mua sắm vật ưu dự trữ, bù đắp chênh lệch các khoản phải thu, phải trả giữa doanh nghiệp với khách hàng, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường, 20 Sv: Nguyễn Trung Nhân Lớp:CQ50/11.09
- Xem thêm -