Tài liệu Đảng với cuộc đấu tranh vừa đánh vừa đàm từ năm 1967 đến năm 1973

  • Số trang: 135 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 939 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Tham gia: 10/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ……………………………… Ơ LÊ THU TRÀ ĐẢNG VỚI CUỘC ĐẤU TRANH VỪA ĐÁNH VỪA ĐÀM TỪ NĂM 1967 ĐẾN NĂM 1973 Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Mã số: 60 22 56 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Mai Hoa Hà Nội – 2013 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ……………………………… Ơ LÊ THU TRÀ ĐẢNG VỚI CUỘC ĐẤU TRANH VỪA ĐÁNH VỪA ĐÀM TỪ NĂM 1967 ĐẾN NĂM 1973 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Hà Nội – 2013 2 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 7 1. Lý do chọn đề tài..................................................................................... 7 2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài .......................................... 8 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 12 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................ 12 5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ............................................ 13 6. Những đóng góp mới của luận văn ........................................................ 13 7. Bố cục đề tài ......................................................................................... 14 Chƣơng 1. ĐẢNG VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THỰC HIỆN SÁCH LƢỢC VỪA ĐÁNH, VỪA ĐÀM TỪ NĂM 1967 ĐẾN NĂM 1971 ......... 15 1.1. Quá trình hình thành chủ trƣơng, sách lƣợc vừa đánh, vừa đàm ........... 15 1.1.1. Nghệ thuật vừa đánh, vừa đàm trong lịch sử dân tộc .................... 15 1.1.2. Bƣớc phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc và chủ trƣơng vừa đánh, vừa đàm ............................................................... 23 1.2. Chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động quân sự trên chiến trƣờng và kéo địch vào bàn đàm phán.............................................................................. 37 1.2.1. Sự kiện Tết Mậu thân 1968 và những khởi động trên bàn đàm phán Hội nghị Paris ............................................................................... 37 1.2.2. Chiến thắng Đƣờng 9- Nam Lào và diễn biến của cuộc “Hòa đàm thế kỷ” ........................................................................................... 55 TIỂU KẾT CHƢƠNG .............................................................................. 71 Chƣơng 2. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH VỪA ĐÁNH, VỪA ĐÀM TỪ NĂM 1972 ĐẾN NĂM 1973 .................................................................................................... 73 2.1. Cuộc tiến công chiến lƣợc 1972 và bƣớc ngoặt trên bàn đàm phán Hội nghị Paris ........................................................................................... 73 2.1.1. Cục diện mới trên chiến trƣờng và chủ trƣơng mở cuộc tiến công chiến lƣợc 1972 ............................................................................. 73 5 2.1.2. Kết hợp giữa thắng lợi quân sự với đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán ........................................................................................ 82 2.2. Mƣời hai ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” và diến tiến trên bàn đàm phán Hội nghị Paris .................................................................... 89 2.2.1. Những nỗ lực cuối cùng của Mỹ và chủ trƣơng của Đảng ............ 89 2.2.2. Thắng lợi lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” và ký kết Hiệp định Paris ............................................................................................... 94 TIỂU KẾT CHƢƠNG .............................................................................. 99 Chƣơng 3. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ ............................... 101 3.1. Một số nhận xét cơ bản .................................................................... 101 3.1.1. Về ƣu điểm ................................................................................ 101 3.1.2. Về hạn chế ................................................................................. 112 3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ............................................................ 115 3.2.1. Kết hợp sức mạnh trong nƣớc và sức mạnh quốc tế, chủ động đƣa đối phƣơng vào thế vừa đánh, vừa đàm ......................................... 115 3.2.2. Nắm vững ý đồ của đối phƣơng, vận dụng sách lƣợc đánh – đàm phù hợp từng giai đoạn, từng bƣớc phát triển ............................... 118 3.2.3. Độc lập, tự chủ trong quan điểm, đƣờng lối, mềm dẻo, linh hoạt trong biện pháp, sách lƣợc ........................................................... 120 3.2.4. Tận dụng thế thắng trên chiến trƣờng, tạo những bƣớc đột phá thích hợp trên bàn đàm phán ................................................................ 123 KẾT LUẬN ............................................................................................... 126 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 128 PHỤ LỤC.................................................................................................. 137 6 DANH MỤC BẢNG CHỮ TẮT VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa VNCH : Việt Nam Cộng hòa CNTB : Chủ nghĩa tư bản CNXH : Chủ nghĩa xã hội XHCN : Xã hội chủ nghĩa ĐLĐVN : Đảng lao động Việt Nam BCHTƯĐ : Ban Chấp hành Trung ương Đảng CMLTCHMNVN : Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam CHMNVN : Cộng hòa miền Nam Việt Nam MTDTGPMNVN : Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam 4 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nằm ở một vị trí đặc biệt, lại có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nên ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc Việt Nam đã phải liên tục đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược và nhiệm vụ chống ngoại xâm đã trở thành nhiệm vụ thường trực trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chống lại thế lực xâm lược, gìn giữ, bảo tồn nền độc lập của dân tộc Việt Nam là một trong những trang sử hào hùng như thế. Để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến, ĐLĐVN không chỉ huy động tối đa sức mạnh toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, mà trong từng bước phát triển của cuộc kháng chiến còn luôn phân tích tình hình thực tiễn, đưa ra phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng phù hợp, trong đó đặc biệt phải kể đến là phương pháp kiên quyết tiến hành chiến tranh trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, kết hợp chặt chẽ giữa đánh và đàm, tạo ra những bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến, tạo đà tiến tới thắng lợi cuối cùng. Có thể thấy rằng, kế sách vừa đánh, vừa đàm được thực hiện khéo léo, vừa công khai, vừa bí mật, chọn đúng thời điểm và phương pháp linh hoạt là một trong những đảm bảo cho thắng lợi của cuộc kháng chiến. Hiện nay, trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vấn đề kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa các mặt xây dựng và bảo vệ; củng cố thực lực và đấu tranh ngoại giao… vẫn là những vấn đề nóng bỏng; do vậy, nhìn lại, đánh giá một cách thấu đáo những vấn đề tương tự trong lịch sử, soi rọi thực tiễn là việc làm hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Với những lý do đó, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề “Đảng với cuộc đấu tranh vừa đánh, vừa đàm từ năm 1967 đến năm 1973” làm đề tài luận văn cao học lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. 7 2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Về cuộc kháng chiến chống Mỹ và đấu tranh ngoại giao Việt Nam với đế quốc Mỹ, đã được rất nhiều những nhà khoa học trong nước, ngoài nước, nghiên cứu. Vì vậy, số lượng các công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc có liên quan về đề tài này là rất lớn. Tiêu biểu có thể kể đến các công trình sau: - Các công trình nghiên cứu chung về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của nhóm tác giả Đỗ Xuân Huy, Hồ Khang, Nguyễn Huy Thục, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Xuân Năng, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995; “Chiến Tranh Việt Nam - Được và Mất: Những Bài Học Từ Cuộc Chiến Tranh Việt Nam” của tác giả Nigel Cawthorne do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2007; “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 thắng lợi và bài học” nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; “Chiến tranh Việt Nam là thế đó 19651973” do Đào Tấn Anh và Nguyễn Đăng Nguyên dịch được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2007; “Việt Nam như tôi đã thấy 1960-2000” do Trần Thị Lan Anh, Vũ Thị Minh Hương và Tạ Thị Thúy dịch, nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2007; “Thắng lợi vĩ đại, tương lai huy hoàng” của tác giả Phạm Văn Đồng, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội năm 1964; “Cuộc kháng chiến chống Mỹ - Toàn thắng”, nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1991, của tác giả Văn Tiến Dũng; “Cuộc kháng chiến chống Mỹ - Bước ngoặt lớn”, của tác giả Văn Tiến Dũng, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1989; “Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng ta”, của tác giả Võ Nguyên Giáp, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970; “Những chặng đường lịch sử” của tác giả Võ Nguyên Giáp, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1975; “Chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc”, Võ Nguyên Giáp, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1979; “Thư vào Nam” của tác giả Lê Duẩn, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1989; “Pari – Sài Gòn – Hà Nội”; của Philippe Devillers, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1993… 8 Những công trình này đi sâu nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một cách tổng thể, tập trung vào những nội dung căn bản nhất của cuộc kháng chiến (xây dựng hậu phương miền Bắc; diễn biến đấu tranh quân sự trên chiến trường miền Nam; nguyên nhân thắng lợi…). Trong các công trình nêu trên, các tác giả đã trình bày về đường lối đối ngoại của Đảng, về đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Quá trình vận dụng sách lược đánh, đàm trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng đã được đề cập, nhưng còn khái lược. - Về ngoại giao Việt Nam có các tác phẩm như: “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Pari” của hai tác giả Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ do nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành, Hà Nội, 1996; “Cuộc đấu trí ở tầm cao trí tuệ Việt Nam” của tác giả Trần Nhâm, nhà xuất bản Lý luận Chính trị, 2008; “Tiếp xúc bí mật Việt Nam – Hoa Kỳ trước Hội nghị Pari” của Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ, Viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1990; “Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1965-1975)” của tác giả Nguyễn Duy Trinh, nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1979; “Nhìn lại thành tựu ngoại giao Việt Nam 55 năm qua” của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh, in trong sách Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; “Hiệp định Pari về Việt Nam những vấn đề pháp lý cơ bản”, Viện luật học, Ủy ban Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973; “Nhà ngoại giao xuất sắc Lê Đức Thọ”, in trong sách Nhớ về anh Lê Đức Thọ, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 … Bên cạnh đó, một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ của các ngành lịch sử, tâm lý, triết học cũng đã nghiên cứu về vấn đề này. Tiêu biểu như: Luận văn thạc sỹ của Phạm Trọng Hiếu với vấn đề “Tư tưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện giành thắng lợi quyết định của Đảng trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”; Luận án tiến sỹ của Lương Viết Sang với vấn đề ngoại giao chống Mỹ “Đảng lãnh đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari về Việt Nam”... 9 Ngoài ra, còn có các bài viết đăng trên tạp chí như: Phúc Nguyên: “Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam qua chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, tạp chí Tuyên giáo số 12-2007; Nguyễn Xuân Hoài: “Thắng lợi Mậu Thân 1968 với cuộc đàm phán sơ bộ ở Pari”, tạp chí Văn thu lưu trữ Việt Nam, số 2-2008; Xuân Thủy: “Một số vấn đề Hiệp định Pari”, tạp chí Lịch sử Đảng, số 1-2008; Nguyễn Đình Ước: “Đồng chí Lê Duẩn phát triển lý luận về chiến tranh nhân dân”, tạp chí Lịch sử Đảng, số 3-2007’ Hồ Khang: “Đồng chí Lê Duẩn với các bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)”, tạp chí Lịch sử Đảng, số 4-2002; Nguyễn Phúc Luân: “Nhìn lại trí tuệ Hồ Chí Minh trong giải pháp Pari 1973”, tạp chí Nghiên cứu quốc tế - số 72; Khắc Huỳnh: “Đối chọi giữa ngoại giao non trẻ Việt Nam với ngoại giao nhà nghề Mỹ”, Tạp chí Cộng sản, số 783, 1-2008; “Hiệp định Pari về Việt Nam những bài học ngoại giao”, Tạp chí Cộng sản, số 783, 1-2008; Hà Đăng: “Hiệp định Pari về Việt Nam và ý nghĩa lịch sử của nó”, Tạp chí Cộng sản, số 783, 1-2008… Đây là nhóm công trình khá phong phú, trong đó có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngoại giao kỳ cựu – những người từng tham gia đấu tranh trên mặt trận ngoại giao thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Nhìn chung, các công trình này tập trung trình bày chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam và các quan hệ ngoại giao của Việt Nam. Các công trình đã phân tích đường lối đối ngoại của Đảng, các sự kiện ngoại giao chủ yếu diễn ra từ sau khi Việt Nam giành độc lập; về phối hợp hoạt động ngoại giao hai miền, hình thành nên nền ngoại giao độc đáo “tuy hai mà một” chưa từng có trong lịch sử; về kết hợp đánh – đàm ở một số mốc lịch sử cụ thể, hoặc ở từng trận tiến công chiến lược riêng biệt. Các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng hết sức quan tâm nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, về ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ. Tiêu biểu là các công trình: “Việt Nam, The Ten Thousand Day War” (Việt Nam, cuộc chiến tranh mười ngàn ngày, Micheal Maclear, Nxb, Sự thật Hà Nội, 1990); “Cuộc chiến 10 tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam” (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự, Hà Nội, 1991); "Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam" (Đavitson. Ph, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Cuộc chiến tranh dài ngày nhất nước Mỹ” (G.C Herring, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Pierre Asselin: “Hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam và hiệp định Pari 1973 – Ngoại giao và thành tựu cách mạng Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 1-2008… Đa phần các công trình nghiên cứu này là của những nhà nghiên cứu người Mỹ. Qua các công trình này, có thể nhận thấy cái nhìn từ phía người Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam và quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris. Với cách tiếp cận khá độc đáo và nguồn tư liệu rất phong phú do các tác giả có điều kiện khai thác những nguồn tư liệu đa chiều, cả đã giải mật và chưa giải mật, nên các công trình này đã cung cấp thêm một số chi tiết, sự kiện, số liệu về quá trình kết hợp đấu tranh của ngoại giao với đấu tranh quân sự, về những thành công đánh - đàm của Việt Nam dưới góc nhìn của học giả nước ngoài. Một cách tổng quát, cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy chông gai của dân tộc và cả cuộc đấu tranh ngoại giao đầy bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, Chính phủ Việt Nam với Mỹ và các bên liên quan tại Hội nghị Paris là những sự kiện lịch sử tiêu biểu, thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều tác giả và nhóm tác giả, từ những sự kiện cụ thể cho tới những vấn đề chung của cuộc kháng chiến như: Đường lối kháng chiến của Đảng, phương thức tiến hành chiến tranh, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến….Tuy nhiên, vấn đề vừa đánh, vừa đàm phán với đối phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1967-1973 vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống, dưới góc độ lịch sử Đảng. Vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ như chủ trương đánh – đàm của Đảng, sự chỉ đạo kết hợp đấu tranh quân sự - ngoại giao của Đảng… đó là những nội dung cơ bản mà luận văn cố gắng làm sáng tỏ. 11 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện sách lược chiến tranh vừa đánh, vừa đàm của Đảng từ năm 1967 đến năm 1973 Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về quá trình Đảng lãnh đạo đấu tranh vừa đánh vừa đàm trong khoảng thời gian từ năm 1967 –mốc lịch sử đánh dấu chủ trương đánh – đàm được chính thức khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 của Đảng, đến năm 1973 – Hiệp định Paris được ký kết, kết thúc thắng lợi quá trình Đảng lãnh đạo đấu tranh đánh - đàm. Để có cái nhìn tổng thể, luận văn mở rộng thời gian trước năm 1967, khắc họa rõ nét hơn cơ sở, quá trình hình thành chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng. - Về không gian: Phương thức đấu tranh “vừa đánh, vừa đàm” là một vấn đề tương đối rộng. Phương thức đánh giặc này đã được vận dụng trong suốt chiều dài lịch sử các cuộc đấu tranh của dân tộc, từ những cuộc kháng chiến trước đây cho đến thời đại Hồ Chí Minh, trở thành một trong những nghệ thuật giữ nước đặc sắc của dân tộc. Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. - Về nội dung khoa học: Luận văn nghiên cứu những vấn đề, những nội dung chính, cơ bản nhất trong cơ sở, quá trình hình thành chủ trương, nội dung và sự chỉ đạo thực hiện vừa đánh, vừa đàm của Đảng, chứ không nghiên cứu mọi sự kiện, hoặc mọi quá trình lịch sử. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu - Phân tích và làm sáng tỏ chủ trương đánh - đàm của Đảng, quá trình Đảng chỉ đạo kết hợp các mũi tấn công, tạo thế và thực hiện thắng lợi sách lược vừa đánh vừa đàm giai đoạn 1967-1973. 12 - Đúc rút những kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo, vận dụng vào thời kỳ hiện tại. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài triển khai những nhiệm vụ nghiên cứu: - Phân tích bối cảnh lịch sử những năm 1967-1973; - Làm rõ quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về vấn đề vừa đánh, vừa đàm những năm 1967-1973; - Phân tích những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng đối với hình thành và thực hiện sách lược đánh – đàm; đúc rút những kinh nghiệm lịch sử chủ yếu. 5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Nguồn tư liệu - Những tác phẩm của Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng, về chiến tranh nhân dân toàn dân… - Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng đã được xuất bản hoặc lưu trữ tại kho lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng về kết hợp quân sự với chính trị, ngoại giao. - Các sách chuyên khảo, tham khảo, các đề tài nghiên cứu khoa học; các bài tạp chí…về quân sự, về ngoại giao, về kết hợp các mặt đấu tranh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn chủ yếu kết hợp sử dụng hai phương pháp lịch sử, logic để làm rõ những nội dung cơ bản, những bước phát triển của vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa… để làm rõ hơn những nội dung khác của luận văn. 6. Những đóng góp mới của luận văn - Trình bày một cách khách quan, tương đối toàn diện, có hệ thống và 13 làm sáng tỏ các quan điểm, chủ trương, cũng như sự chỉ đạo của Đảng đối với cuộc đấu tranh vừa đánh, vừa đàm những năm 1967 - 1973; trên cơ sở đó, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu phục vụ hiện tại. - Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, về đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đồng thời, phục vụ công tác giảng dạy lịch sử và những môn học có liên quan. - Nguồn tài liệu tham khảo mà luận văn sưu tầm, khai thác và giới thiệu là nguồn tư liệu có giá trị, có thể sử dụng phục vụ việc nghiên cứu về chiến tranh cách mạng Việt Nam, về đấu tranh ngoại giao của Đảng, Nhà nước Việt Nam. 7. Bố cục đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương, 6 tiết: Chương 1. Đảng với quá trình hình thành và thực hiện sách lược vừa đánh, vừa đàm từ năm 1967 đến năm 1971 Chương 2. Chủ trương và sự chỉ đạo đối với cuộc đấu tranh vừa đánh, vừa đàm của Đảng từ năm 1972 đến năm 1973 Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm 14 Chƣơng 1 ĐẢNG VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THỰC HIỆN SÁCH LƢỢC VỪA ĐÁNH, VỪA ĐÀM TỪ NĂM 1967 ĐẾN NĂM 1971 1.1. Quá trình hình thành chủ trƣơng, sách lƣợc vừa đánh, vừa đàm 1.1.1. Nghệ thuật vừa đánh, vừa đàm trong lịch sử dân tộc Việt Nam nằm ở cực đông bán đảo Đông Dương, phía Đông Nam lục địa Châu Á (toạ độ địa lý: 16’00N, 18 00E), có diện tích tự nhiên 330. 991,5km2. Phía Đông và Nam tiếp giáp Thái Bình Dương; nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, biên giới giáp với vịnh Thái Lan ở phía Nam, Bắc Bộ và Biển Đông ở phía Tây, Trung Quốc ở phía Bắc, Lào và Campuchia ở phía Tây. Việt Nam có hình chữ S, với khoảng cách từ Bắc đến Nam khoảng 1.650 km, vị trí hẹp nhất chiều Đông sang Tây là 50 km. Với đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo, Việt Nam có 12 hải lý gianh giới lãnh thổ. Việt Nam có địa hình đa dạng bao gồm rừng núi cao nguyên, trung du chiếm 3/4 lãnh thổ, nhiều sông ngòi kênh rạch. Việt Nam có 2 con sông lớn nhất là Sông Hồng và Sông MêKông bắt nguồn từ Tây Bắc lục địa châu Á chảy ra Biển Đông, tạo ra hệ thống giao thông đường thuỷ chiến lược rộng khắp; do vậy, có điều kiện để phát triển nền sản xuất nông nghiệp, là nơi gặp gỡ giao lưu của nhiều nền văn hóa khác nhau của Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc và sau này với các nền văn hóa phương Tây. Tuy nhiên, cũng vì vị trí chiến lược hết sức quan trọng, cửa ngõ đi vào lục địa Châu Á, đi ra Thái Bình Dương, điểm cắt nhau của đường thiên di Bắc Nam, Đông Tây nên Việt Nam luôn bị thiên tai địch họa, kẻ thù nhòm ngó, tiến công xâm lược. Với tinh thần tự lực, tự cường, ý thức dân tộc sâu sắc, ông cha ta đã biết dựa vào các yếu tố địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội để sáng tạo ra nghệ thuật đánh giặc độc đáo của một dân tộc “đất không rộng, người không đông”. Trải qua các triều đại phong kiến độc lập, nghệ thuật đánh giặc giữ nước ngày một phát triển rực rỡ. Tuy rằng kế sách đánh giặc mỗi thời mỗi khác, song tư tưởng chiến lược “tiến công” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình đánh thắng những đạo quân xâm lược. 15 Từ thời nhà Trần vào thế kỉ thứ XIII, trước sức mạnh của quân Nguyên - Mông, tư tưởng tích cực chủ động tiến công được thể hiện bằng việc không chấp nhận yêu sách của chúa Nguyễn, mà động viên nhân dân cả nước chuẩn bị vũ khí kháng chiến. Với ý chí “sát thát” thề giết giặc Nguyên – Mông, khi quân Nguyên Mông xâm lược đất nước, nhà Trần đã phát huy sức mạnh toàn dân, thế trận làng nước, chặn giặc phía trước, đánh giặc phía sau, triệt phá đường tiếp tế lương thực, cô lập địch, tập trung lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và rút lui, phản công chiến lược và kết quả cả ba lần đều đánh bại cuộc tiến công xâm lược của giặc Nguyên Mông. Đầu thế kỉ XV, trước sự xâm lăng của giặc Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Với lòng yêu nước thương dân, ý chí căm thù giặc của nghĩa quân Lam Sơn “không đội trời chung với giặc, thề không cùng sống chung với chúng” đã chuyển thành quyết tâm đánh giặc rất kiên cường của quân sĩ dù phải “Nằm gai nếm mật, vẫn bền gan chiến đấu”. Thời kỳ đầu khởi nghĩa, nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn. Nhiều lần bị kẻ địch vây hãm, Lê Lợi đã tổ chức cuộc tiến công phá thế bao vây phong tỏa của kẻ thù. Bằng lối đánh chủ động tiến công, lấy ít địch nhiều nghĩa quân Lam Sơn đã giành được những chiến thắng quyết định ở Chi Lăng-Xương Giang, Cần Trạm tiêu diệt hàng chục vạn viện binh giặc, cuối cùng quân đội Lam Sơn đã buộc giặc Minh trong các thành Ðông Quan, Tây Ðô, Cổ Lộng, Chí Linh phải đầu hàng. Khởi nghĩa Tây Sơn thế kỉ XVIII, do ba anh em nhà Nguyễn lãnh đạo: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, đã được nhân dân đồng lòng ủng hộ, lực lượng nghĩa quân ngày càng phát triển mạnh, với tư tưởng tích cực chủ động tiến công nghĩa quân đã giải phóng một vùng rộng lớn từ Quảng Nam đến Bình Thuận, đánh tan Chúa Nguyễn ở đàng trong, Chúa Trịnh ở đàng ngoài. Nghe tin gần 30 vạn quân Mãn Thanh sang xâm lược, Nguyễn Huệ đã tổ chức cuộc hành binh thần tốc, tập trung lực lượng mạnh, đánh bất ngờ, với sự hiệp đồng giữa quân thuỷ, kỵ binh, pháo binh và voi chiến đã đánh tan 16 quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút, tiêu diệt quân Mãn Thanh ở Ngọc Hồi Đống Đa. Những chiến thắng đó, chứng tỏ uy thế của đội quân dũng cảm, làm cho kẻ thù khiếp sợ mà bỏ chạy, đồng thời cũng chứng tỏ kế sách tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, ở vào điều kiện Việt Nam, một dân tộc nhỏ, để giữ hòa hiếu cho dân tộc, với tư tưởng nhân nghĩa, ngay cả vởi kẻ thù, dân tộc Việt Nam luôn giành cho chúng một con đường thoát thân, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công tiêu diệt địch với ngoại giao, binh vận hay nói theo cách khác là nghệ thuật "vừa đánh vừa đàm". “Đánh” nhưng kết hợp với “đàm”, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa tính cứng rắn về nguyên tắc và tính mềm dẻo về sách lược. Trong chiến tranh giữ nước, đó là một nét điển hình trong nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên. Việt Nam là một nước nhỏ, nằm sát một nước lớn là Trung Quốc, các triều đại phong kiến Việt Nam đều có sách lược bang giao mềm dẻo với các vương triều phong kiến Trung Quốc, song cũng kiên quyết chống trả những cuộc xâm lăng và không quên để cho kẻ xâm lược con đường thoát thân trong danh dự. Trong những năm 1075-1077, khi nhà Tống xâm lược Việt Nam, sau trận phản công chiến lược ở phòng tuyến sông Như Nguyệt vào mùa xuân năm 1077, tiêu diệt phần lớn quân chủ lực của quân Tống, địch đã lâm vào cảnh thế cùng lực kiệt. Biết rõ ý chí xâm lược của giặc đã bị đè bẹp, Lý Thường Kiệt chủ động đưa đề nghị “giảng hòa”, thực chất là mở lối thoát cho quân Tống để “không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”. Tháng 3-1077, quân Tống rút chạy về nước trong cảnh hỗn loạn. Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai thắng lợi hoàn toàn. Cuộc kháng chiến chống Tống đời nhà Lý, có vị trí đặc biệt trong lịch sử chiến tranh chống giặc ngoại xâm cũng như lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam. Lòng nhân ái khoan dung của dân tộc được thể hiện rõ rệt trong việc giải quyết giữa “đánh” và “đàm”. Đánh cho quân địch thiệt hại nặng, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng thì chủ động thương lượng kết thúc chiến tranh, 17 khôi phục nền độc lập. Truyền thống "vừa đánh, vừa đàm" trong chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt bắt đầu từ đây. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, phương thức đấu tranh này một lần nữa được Nguyễn Trãi và Lê Lợi sử dụng với chủ trương ban đầu là đánh vào lòng người. Khi gặp Lê Lợi chủ tướng của nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang, Nguyễn Trãi đã trao cho vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn bản Bình Ngô Sách nói đến kế sách dẹp giặc Ngô, tuy nhiên Nguyễn Trãi "không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói việc đánh vào lòng người" [112, tr.284], tức là thu phục nhân tâm. Đối với lực lượng kháng chiến, đánh vào lòng người tức là dựa vào lòng dân, là phát động sức mạnh tiềm tàng của nhân dân, bởi dân là “là cái gốc rễ sâu bền” hay “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phát trước lo trừ bạo”. Trong mười năm kháng chiến, đã có nhiều lần Việt Nam "vừa đánh, vừa đàm" với giặc. Đó là lần đánh bại cuộc càn quét của quân Minh ở Khôi huyện, nhằm tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, nghĩa quân và giặc đi đến hòa hoãn trong hai năm. Với trận thắng Tốt Động – Chúc Động, nghĩa quân tiếp tục dồn địch vào tình thế cực kỳ nguy ngập, bị động, tướng giặc là Vương Thông buộc phải sai người sang nghị hòa. Trong những bức thư gửi cho Vương Thông, Nguyễn Trãi cũng chỉ rõ, hòa nghị thành, chiến tranh kết thúc, điều đó có lợi cho nhân dân cả hai nước: "Không những sinh linh nước tôi được khỏi lầm than, mà binh sĩ Trung Quốc cũng khỏi nỗi khổ gươm đao". Đây thực chất là cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao nhằm vạch trần bản chất phi nghĩa, ngoan cố của kẻ thù, vận động thuyết phục chúng, đồng thời mở sẵn lối thoát cho triều Minh khi kết thúc chiến tranh. Đó là chủ trương mà trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi gọi là: "Ngã Mưu phạt chi tâm công, bất chiến tự khuất" (ta mưu trí đánh dẹp bằng cách đánh vào lòng người, khiến không đánh mà quân giặc phải tự khuất phục). Tuy nhiên, đáp trả lại thiện chí của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, Vương Thông lại "bội ước thất tín", tiếp tục nhờ quân tiếp viện mở một số cuộc phản kích, uy hiếp tinh thần nghĩa quân. Trước hành động mới của quân thù, biết rằng không thể 18 dùng hòa nghị để chiến thắng, nghĩa quân tiếp tục chủ trương vừa vây hãm vừa dụ hàng, nghĩa là kết hợp giữa tiến công quân sự và địch vận. Cả nước đã chuẩn bị sẵn sàng để bước vào cuộc chiến có ý nghĩa quyết định tiêu diệt viện binh nhà Minh. Sau những ngày tháng chiến đấu gian khổ kết hợp với dụ hàng địch, nghĩa quân đã giành được chiến thắng vang dội ở Chi Lăng Xương Giang. Đây là chiến thắng oanh liệt của trận quyết chiến chiến lược, đập tan những cố gắng phản kích cuối cùng của quân Minh có ý nghĩa định đoạt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Tướng giặc, số thì bị chết, số thì xin hàng, điển hình như Liễu Thăng bị giết tại trận, Mộc Thạnh vì khiếp sợ mà đem quân tháo chạy, đô đốc Thôi Tụ, Hoàng Phúc phải nộp mình... đòn tiến công quân sự và “đánh vào lòng người” đã có tác dụng lớn. Nguyễn Trãi lại tiếp tục viết bảy bức thư gửi cho Vương Thông nhắc lại “cái họa Liễu Thăng” và chỉ cho Vương Thông tình thế lúc này: “Nhà lớn gần xiêu, một cây gỗ khôn hay chống đỡ, đê dài sắp vỡ, một tấc đất khó thể chi trì. Nếu không biết lượng sức mà cứ cưỡng làm thì ít khi không thất bại”. Với giọng điệu sắc bén, Nguyễn Trãi đã bác bỏ mọi lí lẽ trì hoãn việc đầu hàng của quân Minh và trấn an những lo lắng của Vương Thông. Ngày 10-12-1427, hội thề lịch sử đã được tổ chức tại phía nam thành Đông Quan giữa phái đoàn của nghĩa quân Lam Sơn và phái đoàn quân Minh do Vương Thông cầm đầu. Trong hội thề, Vương Thông đã cam kết rút quân, 10 vạn quân địch được an toàn trở về quê hương xứ xở. Cuộc kháng chiến chống quân Minh giành thắng lợi hoàn toàn. Hội thề Đông Quan 1427 cũng thể hiện cách kết thúc chiến tranh sáng tạo, mềm dẻo, nhân đạo của nghĩa quân Lam Sơn. Đến thời Quang Trung – Nguyễn Huệ, sau trận đại phá hai mươi vạn quân Thanh vào mùng 5 tết Kỷ Dậu (1789), đập tan hoàn toàn mộng tưởng xâm chiếm Việt Nam của quân giặc, vua Quang Trung mới chủ động tiến hành ngoại giao với triều đình nhà Thanh, “đàm” hoàn toàn trên thế mạnh. Trong chiến tranh, các nhà quân sự Việt Nam đều lấy tiến công quân sự làm đầu, sau đó dùng tư tưởng nhân nghĩa để thu phục quân địch. Kế sách 19 "vừa đánh, vừa đàm" luôn được thực hiện khi đã giành được những thắng lợi lớn về quân sự, hoặc khi dùng sức mạnh quân sự để tiến đánh quân thù. Tuy nhiên trong lịch sử dân tộc, có triều đại đã không vận dụng đúng đắn kế sách này dẫn đến họa mất nước mà tấm gương điển hình chính là nhà Nguyễn, vì không biết tận dụng những thắng lợi giành được để tiến hành đàm phán với giặc trên thế mạnh, lại đi vào con đường thỏa hiệp, nhượng bộ, mà từng phần của Đại Nam lần lượt rơi vào tay giặc. Với Hòa ước 1884, Đại Nam hoàn toàn mất độc lập, bị xóa tên trên bản đồ thế giới, trở thành thuộc địa của Pháp, bị Pháp đô hộ. Kế sách "vừa đánh, vừa đàm" đã không được nhà Nguyễn sử dụng khôn khéo vì thế mất nước là một hệ quả tất yếu. Nhìn nhận lại toàn bộ lịch sử dưới các triều đại phong kiến, những thắng lợi hay những thất bại trước sự xâm lăng của kẻ thù, thấy được rằng việc vận dụng sách lược đánh – đàm là cả một nghệ thuật của người cầm quân. Bước vào thế kỷ XX, để chống lại sự can thiệp và xâm lược quân sự của Pháp và Mỹ vào Đông Dương, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã áp dụng sách lược "vừa đánh, vừa đàm". Không lâu sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH (2-9-1945), ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Giữa lúc tiếng súng kháng chiến vang lên ở Nam Bộ, cuộc kháng chiến đang sôi sục, Chính phủ nước VNDCCH đã kí với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-91946). Hai văn kiện có tác dụng dành thêm thời gian quý báu để chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến. Mặt khác, việc Chính phủ VNDCCH ký kết hai văn kiện này còn nhằm tỏ rõ thiện ý hòa bình của dân tộc Việt Nam trước nhân dân toàn thế giới nói chung và nhân dân Pháp nói riêng. Từ sau sự kiện 1912-1946, cục diện "vừa đánh, vừa đàm" đã không thể duy trì do phía Chính phủ Pháp cố giữ lập trường thực dân, không đáp lại thiện chí đề nghị “lập lại sự giao hảo” của Chính phủ VNDCCH. Chính phủ Pháp quyết tâm dùng sức mạnh quân sự để tái lập chế độ thuộc địa cũ ở Việt Nam và Đông Dương. 20 Trong những ngày đầu của cuộc chiến, Chính phủ Pháp luôn tuyên truyền về chiến thắng nhằm bưng bít sự thật. Năm 1947, trước khi mở cuộc tiến công lên Việt Bắc, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Coste Floret tuyên bố: “Không còn vấn đề quân sự Đông Dương. Thắng lợi của quân đội ta là hoàn toàn” [102, tr.266]. Năm 1952, khi Tướng Đờlát Đờ Taxinhi (DeLattre de Tassigry) mở tiến công ra Hòa Bình, Bộ trưởng các quốc gia liên kết Jean Letourneau khẳng định: “Chiến thắng quân sự đang đến gần” [89, tr.266]. Đến tháng 1-1954, khi đã xây dựng xong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo kế hoạch Nava, Tướng Cogny, Chỉ huy trưởng chiến trường Bắc Bộ tuyên bố với báo chí: “Bộ Chỉ huy Pháp chắc chắn sẽ giáng cho Việt Minh một thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ. Chúng tôi sẽ thắng” [102, tr.267]. Nhưng ngày 7-5 -1954, Điện Biên Phủ thất thủ, thất bại của đội quân viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ làm “chấn động địa cầu”, hé mở khả năng đàm phán hòa bình kết thúc chiến tranh. Ngày 8-5-1954, một ngày sau khi quân và dân Việt Nam tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Hội nghị Giơnevơ chính thức được khai mạc. Hội nghị diễn ra từ 8-5 đến 21-7-1954, với tổng cộng 31 phiên họp cấp Trưởng đoàn. Ngày 21- 7 -1954, sau 75 ngày đấu tranh, Hiệp định Giơnevơ đã được ký kết. Đó là một kết quả vượt quá sức mong chờ của Pháp. Trong báo cáo trước Bộ Ngoại giao Pháp ngày 30 -7 1954, Jean Chauvel, Phó trưởng phái đoàn Pháp tại Hội nghị thừa nhận: “Vĩ tuyến 13 gần với sự thật hơn vĩ tuyến 17 mà chúng ta đã chọn” [102, tr.273]. Kết quả Hội nghị Giơnevơ không phản ánh đầy đủ những thành quả mà nhân dân Việt Nam đã đạt được trong 9 năm kháng chiến, cũng không đáp ứng những yêu cầu do Đoàn đại biểu Việt Nam đưa ra, nhưng đó là một kết quả logic trong điều kiện kháng chiến của Việt Nam vào thời điểm đó. Tuy nhiên, điều quan trọng đạt được ở Hội nghị Giơnevơ là lần đầu tiên trong lịch sử, các nước đế quốc đã phải thừa nhận về mặt pháp lý những quyền căn bản (độc lập, chủ quyền dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ) của một dân tộc. Đây cũng là là cơ sở pháp lý quan trọng cho nhân dân Việt Nam đấu 21
- Xem thêm -