Tài liệu đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại trong kháng chiến chống mỹ, cứu nước (1954 1975)

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 455 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Tham gia: 10/08/2015

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA LỊCH SỬ ====== PHẠM THỊ THẢO ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1954 – 1975) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Lịch sử Đảng HÀ NỘI - 2016 LỜI CẢM ƠN Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Trần Thị Vui, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài khóa luận. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, các thày cô trong bộ môn Lịch sử Đảng trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội II, đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận của mình. Do lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên đề tài nghiên cứu khóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận đƣợc sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thày cô và các bạn sinh viên để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn. Hà Nội, tháng 5 năm 2016 Sinh viên Phạm Thị Thảo LỜI CAM ĐOAN Khóa luận tốt nghiệp này đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn của TS. Trần Thị Vui. Em xin cam đoan rằng: Đây là kết quả nghiên cứu của riêng em. Nếu sai em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Hà Nội, tháng 5 năm 2016 Sinh viên Phạm Thị Thảo MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 CHƢƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1954-1975) ............. 7 1.1. Tình hình quốc tế và trong nƣớc tác động tới hoạt động đối ngoại của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc(1954-1975) ........................ 7 1.2 Chủ trƣơng của Đảng về công tác đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975) ......................................................................... 10 CHƢƠNG 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1954-1975). ................................................................... 19 2.1. Hoạt động đối ngoại của Đảng đáp ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954-1975) ................................................................... 19 2.2. Hoạt động đối ngoại của Đảng phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc (1954-1975) ................................ 29 CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM .......................... 56 3.1. Nhận xét ............................................................................................... 56 3.2. Một số kinh nghiệm ............................................................................. 64 KẾT LUẬN .................................................................................................. 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 70 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cách mạng tháng Tám thành công, nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đƣợc thành lập, Nhà nƣớc dân chủ nhân dân ra đời. Trong điều kiện trực tiếp lãnh đạo chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoạch định đƣờng lối ngoại giao với các nội dung: Mục tiêu ngoại giao là góp phần đƣa nƣớc nhà đi tới độc lập hoàn toàn vĩnh viễn. Nguyên tắc đối ngoại: lấy nguyên tắc Hiến chƣơng Đại Tây Dƣơng làm nền tảng. Kể từ đó tới nay, nhất quán những nội dung trên, nền ngoại giao Việt Nam dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giành đƣợc những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc, nâng cao hơn vị thế của dân tộc trên trƣờng quốc tế. Đƣờng lối đối ngoại của Đảng đã đƣợc thực hiện qua các giai đoạn khác nhau và hình thái khác nhau rất sinh động và sáng tạo mà giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ là một tiêu biểu. Cuộc chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam của đế quốc Mỹ là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất thế kỷ này. Xét về quy mô lực lƣợng tham gia, phƣơng tiện chiến tranh hiện Đại đƣợc huy động và tính chất ác liệt theo chiều hƣớng ngày càng tăng suốt 21 năm, đây là cuộc đụng đầu lịch sử giữa đế quốc Mỹ với nhân dân Việt Nam - một cuộc đụng đầu, xét về mặt vật chất, là không cân sức. Bởi vì nƣớc Mỹ, một trong những nƣớc lớn nhất và mạnh nhất hành tinh đi xâm lƣợc nƣớc Việt Nam nhỏ và nghèo, lại bị tàn phá trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, chƣa kịp hồi phục. Quân đội Mỹ trong vòng 200 năm kể từ khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thành lập đã tiến hành và tham gia 8 cuộc chiến tranh lớn, nhƣng chƣa lần nào bại trận. Trong cuộc chiến tranh 1 xâm lƣợc Việt Nam, Mỹ đã ứng dụng những thành tựu khoa học-kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất, mới nhất (trừ vũ khí nguyên tử), sử dụng tối đa sức mạnh và tiềm lực của nƣớc Mỹ chống Việt Nam. Ngoài ra còn có các nƣớc đồng minh của Mỹ tham gia đóng góp lƣơng thực, thuốc men, trang bị kỹ thuật và huấn luyện..., giúp Mỹ tiến hành chiến tranh. Với sức mạnh “không thể tƣởng nổi” của nƣớc Mỹ, giới cầm quyền Nhà Trắng, Lầu Năm Góc tin chắc sẽ chiến thắng một cách dễ dàng. Họ muốn chứng minh cho thế giới thấy rằng Mỹ đã tham chiến thì không có một lực lƣợng chống đối nào mà không bị đè bẹp và tiêu diệt. Lúc đầu, nhiều ngƣời cho rằng trong cuộc chiến đấu không cân sức này, nhân dân Việt Nam khó có thể đứng vững. Cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ gây ra cho nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao, văn hóa. Đồng thời với việc lãnh đạo kháng chiến về quân sự, hoạt động đối ngoại của Đảng trở thành một bộ phận của kháng chiến - kiến quốc. Với đƣờng lối đối ngoại đúng đắn, Đảng đã xây dựng đƣợc một mặt trận đoàn kết rộng rãi thu hút đông đảo lực lƣợng nhân dân tham gia và nhận đƣợc sự ủng hộ giúp đỡ về vật chất và tinh thần to lớn của các nƣớc xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam. Chính vì vậy, cách mạng Việt Nam phát huy đƣợc sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại, đánh thắng “đế quốc to” trên thế giới. Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nƣớc. Với tinh thần muốn hiểu biết thấu đáo đƣờng lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và biến động (1954-1975), tôi chọn đề tài "Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử Đảng. 2 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề ngoại giao Việt Nam nói chung, chính sách của Đảng trong đấu tranh ngoại giao nói riêng đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Cho tới nay có nhiều công trình nghiên cứu nền ngoại giao Việt Nam hiện đại từ nhiều góc độ khác nhau, khẳng định nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại của Việt Nam. Năm 1985, Học viện Quan hệ quốc tế xuất bản cuốn sách: “thắng lợi có tính thời đại và cuộc đấu tranh trên mặt trận đối ngoại của nhân dân ta”. Cuốn sách đề cập đến quá trình đấu tranh ngoại giao của nhân dân ta trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Năm 1996, Học viện Quan hệ quốc tế xuất bản cuốn sách “Bác Hồ nói về ngoại giao”. Cuốn sách nêu rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về công tác ngoại giao trong đấu tranh cách mạng. Năm 2001, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho in cuốn sách “Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945-1975)” do Nguyễn Phúc Luân (chủ biên), cuốn sách trình bày vai trò mặt trận ngoại giao hiện đại trong sự nghiệp đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ giành độc lập dân tộc. Năm 2005, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho xuất bản cuốn sách “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000”. Cuốn sách này trình bày quá trình phát triển của ngành ngoại giao Việt Nam, từ khi sau nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trải qua hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ xâm lƣợc và thời kỳ đổi mới cho đến năm 2000 Năm 2007, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm đã cho in cuốn sách “Lịch sử ngoại giao Việt Nam” của TS Vũ Quang Vinh. Cuốn sách nêu rõ quá trình 3 phát triển ngành ngoại giao Việt Nam từ những ngày đầu dựng nƣớc và giữ nƣớc cho đến thời kỳ đổi mới. Năm 2013, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho in cuốn sách “đối ngoại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (1945-2012) của PGS.TS. Đinh Xuân Lý. Cuốn sách nêu lên chủ trƣơng chính sách đối ngoại của Đảng thực hiện trong cuộc đấu tranh với Pháp, Mỹ và thời kỳ đổi mới. Năm 2015, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội xuất bản cuốn “Quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940-2010)” của GS.Vũ Dƣơng Ninh với nội dung trình bày chủ trƣơng của Đảng về quan hệ đối ngoại qua các thời kỳ trong giai đoạn 1940-2010 làm rõ tiến trình thực hiện đƣờng lối đối ngoại và kết quả đạt đƣợc Ngoài ra còn khá nhiều những bài viết khác đƣợc đăng trên tạp chí lịch sử Đảng: Chu Văn Chúc (2011) số 7, “Ngoại giao Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc (Giai đoạn 1965-1975)”; Phạm Hồng Chƣơng (2000), số 2, “Hơn nửa thế kỉ chính sách ngoại giao nhất quán”; Nguyễn Thị Hoa Mai (2011), số 9, “Chính sách đối ngoại của Đảng những năm sau cách mạng Tháng tám”; Nguyễn Duy Niên (2006), số 2, (Ngoại giao Việt Nam vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Vũ Dƣơng Ninh (2005), số 8, “Quan hệ đối ngoại Việt Nam trên chặng đƣờng 60 năm” . Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào trình bày một cách hệ thống quá trình đấu tranh ngoại giao của Việt Nam từ khi kí hiệp định Giơnevơ về Đông Dƣơng đến khi Việt Nam hoàn toàn đánh thắng đế quốc Mỹ, thống nhất đất nƣớc. Vì vậy đề tài: “ Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975)” sẽ tổng kết lại quá trình lãnh đạo của Đảng trên mặt trận ngoại giao kết hợp với quân sự, chính trị làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, oanh liệt và hào hùng buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và tạo điều kiện để đi tới hiệp định Pari, buộc 4 Mỹ rút hết quân về nƣớc, Việt Nam hoàn toàn độc lập tiến tới thống nhất nƣớc nhà. 3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3.1. Mục đích Nghiên cứu đƣờng lối và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác đối ngoại của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975) 3.2. Nhiệm vụ Tìm hiểu chủ trƣơng của Đảng về công tác đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975) Tìm hiểu quá trình thực hiện chủ trƣơng của Đảng về hoạt động đối ngoại trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975) Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng, bƣớc đầu rút ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác đối ngoại của Đảng. 3.3. Phạm vi nghiên cứu Đề tài đƣợc nghiên cứu trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1975. 4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Nguồn tư liệu Nguồn tƣ liệu là các bài báo, các bài nghiên cứu trên tạp chí Lịch sử Đảng. Những cuốn sách về mặt trận ngoại giao trong thời kỳ 1945-2000. Mặt trận ngoại giao, đối ngoại trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ 1954-1975. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, sử dụng các phƣơng pháp của ngành khoa học lịch sử: Lịch sử, logic và sự kết hợp giữa hai phƣơng pháp đó, so sánh phân tích, tổng hợp, thống kê.... 5 5. Đóng góp của khóa luận Khóa luận khẳng định vai trò quan trọng của chủ trƣơng đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ cũng nhƣ những đƣờng lối, chính sách đúng đắn của Đảng trong giai đoạn này nhằm từng bƣớc đƣa nền ngoại giao nƣớc nhà thoát khỏi sự cô lập trên trƣờng quốc tế. Qua việc tìm hiểu về đƣờng lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn này giúp ta hiểu hơn về sự sáng suốt của Đảng trong việc họach định đƣờng lối đối ngoại qua những thăng trầm, biến cố lịch sử. Qua đó, rút ra những đặc điểm và vai trò của hoạt động đối ngoại trong thời đại ngày nay khi mà đa phƣơng hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế đang là xu thế trên toàn thế giới. Ngày nay khi mà tình hình thế giới có nhiều thay đổi nhƣng những bài học rút ra từ sự lãnh đạo của Đảng trong việc đề ra đƣờng lối đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ vẫn giữ một vai trò quan trọng, làm nền tảng cho đƣờng lối đối ngoại trong thời kỳ xây dựng đất nƣớc. 6. Kết cấu khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận có 3 chƣơng. Chƣơng I: Chủ trƣơng của Đảng về công tác đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975) Chƣơng II: Quá trình thực hiện chủ trƣơng của Đảng về hoạt động đối ngoại trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975) Chƣơng III: Nhận xét và một số kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo đƣờng lối đối ngoại 6 CHƢƠNG 1 CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1954-1975) 1.1. Tình hình quốc tế và trong nƣớc tác động tới hoạt động đối ngoại của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc(1954-1975) 1.1.1. Tình hình thế giới Các nước xã hội chủ nghĩa: Trong thời gian này Liên Xô đạt đƣợc nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng kinh tế, các kế hoạch năm năm đều hoàn thành. Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử (1949), và bom khinh khí (1953), phá vỡ thế độc quyền hạt nhân của Mỹ, làm tƣơng quan lực lƣợng giữa hai bên thay đổi. Trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ, năm 1957 Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo trái đất, năm 1960, phóng tàu vũ trụ đầu tiên với nhà du hành I.Gagarin. Liên Xô và các nƣớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã thành lập Hội đồng tƣơng trợ kinh tế xã hội chủ nghĩa (SEV-1949) và khối hiệp ƣớc quân sự Warsaw (1955). Nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sau khi thành lập (10/1949) đã bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nƣớc. Trong mƣời năm đầu (1949-1959), Trung Quốc đã đạt đƣợc nhiều thành tựu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Từ năm 1959, Chủ tịch Mao Trạch Đông đƣa ra đƣờng lối “Ba ngọn cờ hồng” là đại nhảy vọt, công xã nhân dân và học thuyết xã hội chủ nghĩa nhằm đƣa Trung Quốc nhanh chóng vƣợt qua thời kỳ quá độ, tiến lên xã hội chủ nghĩa. Nhƣng tƣ tƣởng nóng vội, chủ quan muốn đốt cháy giai đoạn đã gây ra nhiều hậu quả, nạn đói tràn lan, kinh tế trì trệ, nội bộ Đảng bị phân hóa. 7 Từ năm 1956, sau Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, mâu thuẫn Xô-Trung dần dần bộc lộ và ngày càng nghiêm trọng. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng bất đồng là sự đánh giá khác nhau về công lao của nhà lãnh đạo J.Stalin. Trƣớc tình hình ngày càng căng thẳng giữa hai đảng lớn và hai nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa, tháng 11-1957 đã diễn ra hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế bàn về nội dung thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tƣ bản lên chủ nghĩa xã hội, về vấn đề chiến tranh và hòa bình, phân tích những quy luật chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa, kêu gọi gìn giữ quan hệ đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân. Tháng 12-1960, Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và công nhân họp tại Ma Cao đã tranh luận gay gắt những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy kí kết đƣợc bản tuyên bố chung nhƣng không giải quyết căn bản vấn đề. Đây không còn là sự bất đồng giữa hai đảng mà dẫn tới sự phân hóa nghiêm trọng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tình hình điều này hết sức bất lợi cho Việt Nam khi phải đƣơng đầu với đế quốc Mỹ. Các nước tư bản chủ nghĩa: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, vị thế của Mỹ đối với thế giới ngày càng tăng, chiếm vị trí lãnh đạo các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa. Mỹ đóng vai trò quan trọng rất quan trọng đối với các Tây Âu thông qua hai công cụ chính là kế hoạch Marshall phục hƣng kinh tế và khối quân sự Bắc Đại Tây Dƣơng (NATO). Kinh tế các nƣớc châu Âu sau thời gian phục hồi đã phát triển nhanh chóng, bắt đầu thành lập các tổ chức liên kết hợp tác, năm 1957 thành lập Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC). Đồng thời, Mỹ thiết lập các liên minh quân sự và đóng quân ở nhiều nơi trên thế giới tạo thành vành đai bao vây các nƣớc xã hội chủ nghĩa nhƣ: Hiệp ƣớc Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn, Khối quân sự Đông Nam Á, Khối Trung Đông, và khối ANZUS. 8 Trong khối NATO, mâu thuẫn Mỹ - Pháp ngày càng bộc lộ, nhất là từ khi De Gaulle lên là thủ lĩnh phong trào kháng chiến giải phóng nƣớc Pháp, khỏi sự chiếm đóng của phát xít Đức, có uy tín trong nhân dân, không muốn lệ thuộc theo Mỹ nên đã rút khỏi NATO, điều đó làm cho mối quan hệ giữa hai nƣớc ngày càng rạn nứt, trong vấn đề chiến tranh ở Việt Nam. Phong trào giải phóng dân tộc: Ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, Inđônêxia; Việt Nam và Lào là những nƣớc đầu tiên trong hệ thống thuộc địa đứng lên tuyên bố độc lập. Tiếp đó, diễn ra quá trình “phi thực dân hóa”, nhiều quốc gia độc lập ở Châu Á ra đời dƣới hình thức và mức độ khác nhau. Mỹ tuyên bố trao trả độc lập cho Philipin (1946), Ấn Độ (1947), Miến Điện (1948), Mã Lai (1957)…sự thành lập của hai nhà nƣớc lớn ở Châu Á là Cộng hòa Ấn Độ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949) có ảnh hƣởng tới phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1960, đƣợc coi là “năm Châu Phi” với 17 nƣớc châu Phi giành đƣơc độc lập, về cơ bản hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ cơ bản bị sụp đổ. Đây là thắng lợi vĩ đại của dân tộc bị áp bức, chấm dứt chế độ thực dân 500 năm, tác động tích cực và to lớn đến cục diện chính trị thế giới. 1.1.2. Tình hình trong nước Sau khi hiệp định Giơnevơ đƣợc kí kết, chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại. Tình hình Việt Nam có nhiều thay đổi: Nƣớc Việt Nam bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc Việt Nam đƣợc hoàn toàn giải phóng, sau giai đoạn phục hồi kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thƣơng nghiệp tƣ bản tƣ nhân; xác định miền Bắc bƣớc vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, trở thành bộ phận của phe xã hội chủ nghĩa. Mỹ gạt Pháp khỏi Đông Dƣơng, áp dụng chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, xây dựng căn cứ miền Nam thành căn cứ quân sự, âm 9 mƣu chia cắt Việt Nam lâu dài và nhƣ, chính quyền Mỹ tuyên bố, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á. Ngày 8-9-1954, tại Manila, Mỹ thành lập Tổ chức Hiệp ƣớc Đông Nam Á (SEATO), gồm tám thành viên: Hoa Kỳ; Anh; Pháp; Pakixtan; Thái Lan; Philipin, Ôtrâylia; Niu Dilân. Trong hiệp ƣớc có điều khoản đặt miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia dƣới “ô bảo hộ” của tổ chức này. Mỹ tuyên bố không ràng buộc bởi hiệp định Giơnevơ, phá hoại môt cách trắng trợn vào hệ thống Hiệp định Giơnevơ, mở rộng ảnh hƣởng ở Lào và Campuchia, Ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm, do Mỹ dựng lên, ra sức phá hoại hiệp định Giơnevơ. Để tranh thủ Mỹ và củng cố địa vị của mình, trong chuyến thăm Mỹ năm 1957, Ngô Đình Diệm trắng trợn tuyên bố “Biên giới nƣớc Mỹ kéo dài đến vĩ tuyến 17”. Đặc điểm tình hình thế giới và trong nƣớc tác động đến chủ trƣơng và hoạt động đối ngoại của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. 1.2 Chủ trƣơng của Đảng về công tác đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975) Giai đoạn 1954-1964: “tiếp tục củng cố quan hệ với các nƣớc xã hội chủ nghĩa, các nƣớc đang phát triển và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân các nƣớc đối với việc tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân các nƣớc đối với việc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ và cuộc kháng chiến chống “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ” [33; tr.90]. Ngày 5-9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới về nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng. Bộ Chính trị nhận định tình hình sau khi đình chiến điều kiện trong nƣớc cũng nhƣ điều kiện ngoài nƣớc để có lợi để củng cố hòa bình, kiến thiết miền Bắc, tiến tới thực hiện thống nhất, độc lập, dân chủ trong toàn quốc. Nhƣng mặt khác, Bộ Chính trị cũng cho rằng, Mỹ thất bại trong âm mƣu kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dƣơng càng ra 10 sức đẩy mạnh việc lập “khối phòng thủ chung Đông Nam Á” xúc tiến việc lập “khối liên minh phòng thủ sông Cửu Long” hòng phá hoại đình chiến, phá hoại hòa bình ở Đông Dƣơng. Vì vậy, nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc chƣa phải đã hoàn thành. Cuộc đấu tranh đó còn tiếp tục, nhƣng phƣơng thức đấu tranh cần thay đổi. Căn cứ vào tình hình cụ thể, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ chung của Đảng là: đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mƣu phá hoại hiệp định đình chiến củng cố hòa bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cƣờng xây dựng quân đội nhân dân để củng cố Miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, củng cố hòa bình, thực hiện hòa bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc. Bộ Chính trị nhận định thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ làm cho nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thêm những khả năng mới để mở rộng quan hệ với nƣớc ngoài. Bộ Chính trị xác định mục tiêu chính sách đối ngoại của Việt Nam là: “chống chính sách chiến tranh của đế quốc Mỹ, chống Mỹ và khối tổ chức xâm lƣợc Đông Nam Á, củng cố hòa bình ở Đông Dƣơng, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và toàn thế giới” [4; tr.304], đồng thời đề ra chính sách ngoại giao với mục tiêu xây dựng và phát triển quan hệ ngoại giao với bất cứ nƣớc nào dựa theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi và tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền của nhau. Mối quan hệ giữa nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nƣớc Pháp cần tiếp tục dùng hình thức thƣơng lƣợng và đàm phán để điều chính, tránh quá găng để đến nỗi tan vỡ; chủ trƣơng rộng quan hệ kinh tế, mậu dịch với Pháp trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi; quan hệ với nhân dân nƣớc Pháp 11 cần đƣợc tăng cƣờng; xây dựng hội Việt - Pháp hữu hảo ở Việt Nam và PhápViệt hữu hảo ở Pháp để tăng cƣờng thêm sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nƣớc Việt-Pháp. Làm cho nhân dân hai nƣớc liên hợp chặt chẽ với nhau hơn nữa để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất đất nƣớc, phản đối và ngăn ngừa sự gây hấn của phe Mỹ và thân Mỹ. Đối với các nƣớc Đông Nam Á, Bộ Chính trị nhấn mạnh việc mở rộng mối quan hệ với các nƣớc nhƣ Ấn Độ, Nam Dƣơng, Miến Điện… Làm cho chính phủ các nƣớc đó đồng tình ủng hộ với nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hoặc có thiện cảm với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Còn sự liên hệ giữa nhân dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Với nhân dân các nƣớc đó nên hết sức mở rộng với điều kiện đƣợc chính phủ các nƣớc đó đồng ý. Đối với các nƣớc Đông Dƣơng, mối quan hệ nƣớc Việt Nam dân chủ Cộng hòa với Lào và Cao Miên đặt trên năm nguyên tắc lớn là “tôn trọng cùng có lợi, sống chung trong hòa bình”; tìm mọi cách tăng cƣờng tình hữu nghị giữa nƣớc ta và hai nƣớc Lào và Cao Miên, tăng cƣờng đoàn kết giữa nhân Việt Nam, Khơme, Lào. Coi việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị với Cao Miên, Lào là một điều kiện quan trọng để củng cố hòa bình ở Đông Dƣơng và tranh thủ độc lập thống nhất của Việt Nam. “Tiếp tục phát triển và củng cố tình hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nƣớc Dân chủ nhân dân khác” [4; tr.304]. Xuất phát từ tình hình thực tiễn mối quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam với các đảng cộng sản khác ngày càng phát triển, cần phải có một tổ chức chuyên trách giúp Trung ƣơng quản lý công tác đối ngoại với các Đảng ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa cũng nhƣ ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa; ngày 166-1958, Ban Bí thƣ ra nghị quyết số 44-NQ/TW, về việc thành lập Ban Đối Ngoại của Trung ƣơng. Theo Nghị quyết Ban đối ngoại có nhiệm vụ: 12 - Giúp Trung ƣơng nghiên cứu và theo dõi tình hình các Đảng anh em để học tập các kinh nghiệm lớn về cách mạng vô sản và về xây dựng xã hội chủ nghĩa của các đảng anh em. - Giúp Trung ƣơng thực hiện sự liên lạc với các Đảng anh em về mặt trao đổi các văn kiện nội bộ - “Giúp Trung ƣơng liên lạc với các đảng anh em các nƣớc chƣa giành đƣợc chính quyền để tùy khả năng mà giúp đỡ cần thiết” [8; tr.220]. Vào năm 1960, hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu phát triển vƣợt bậc, trở thành nhân tố quan trọng trong sự vận động của quan hệ quốc tế. Ở Miền Bắc, trong gần mƣời lăm năm nhân dân ta giành đƣợc những thắng lợi lịch sử. Tuy nhiên, ở miền Nam, Mỹ hất cẳng Pháp, biến miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, phá hoại sự nghiệp hoà bình thống nhất nƣớc nhà của nhân dân ta; do đó cách mạng Việt Nam hiện tại có hai nhiệm vụ thuộc hai chiến lƣợc khác nhau. Trong hoàn cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III họp (9/1960). Đại hội xác định nhiệm vụ của nhân dân cả nƣớc là: tăng cƣờng đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nƣớc nhà trên cơ sở độc lập và tự chủ, xây dựng một nƣớc Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cƣờng phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới. “Đảng khẳng định chính sách ngoại giao của Việt Nam mang bản chất hòa bình. Mục tiêu ngoại giao của Việt Nam là đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp thống nhất nƣớc nhà của nhân dân ta” [10;tr. 627]. 13 Cuối năm 1963, tình hình cách mạng thế giới có những thay đổi nhanh chóng theo hƣớng có lợi cho nhân dân các nƣớc, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đƣợc thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai không ngừng lớn mạnh và thu đƣợc nhiều thắng lợi quan trọng. Ở trong nƣớc, quân và dân miền Nam đã vƣợt qua khó khăn, làm thất bại từng bƣớc chiến lƣợc “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Trƣớc tình hình đó, tháng 12-1963, tại Hà Nội, Trung ƣơng Đảng đã triệu tập Hội nghị lần thứ chín, ban hành Nghị quyết Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng. Ban Chấp hành Trung ƣơng đề ra những chủ trƣơng và nhiệm vụ đối ngoại cụ thể: - Khôi phục và tăng cƣờng đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế. - Tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. - Tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh vì dân chủ và chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa. - “Góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới” [13; tr.744]. Đƣờng lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn 1954-1964 đã hạn chế tối đa sự chia rẽ bất đồng trong phe xã hội chủ nghĩa, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ về vật chất và tinh thần của các nƣớc xã hội chủ nghĩa, của nhân dân thế giới, và đạt nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của dân tộc là đế quốc Mỹ. Đối ngoại giai đoạn 1965-1975: Nêu cao lập trƣờng chính nghĩa của cách mạng miền Nam; đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận ngoại giao buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán. Sự phá sản của chiến lƣợc “chiến tranh đặc biệt”, đã buộc Mỹ phải bị động chuyển sang chiến lƣợc “chiến tranh cục bộ” đƣa quân Mỹ tham chiến 14 trực tiếp ở miền Nam với quy mô ngày càng lớn, và thực hiện đánh phá miền Bắc, mở rộng chiến tranh ra cả nƣớc Việt Nam. Ngày 27-12-1965, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng lần thứ 12, Ban hành nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ mới, Trung ƣơng yêu cầu quán triệt quan điểm: nắm vững phƣơng châm dựa vào sức mình là chính, nhƣng đồng thời hết sức tranh thủ đồng tình, ủng hộ và viện trợ quốc tế. Tranh thủ đến cao độ đồng tình, ủng hộ của các nƣớc xã hội chủ nghĩa, của các nƣớc dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh và của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ. “Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề mở rộng và tăng cƣờng mặt trận nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lƣợc, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam; đồng thời chỉ rõ, mặt trận đó phải tập hợp đƣợc tất cả các lực lƣợng tiến bộ trên thế giới và lấy các nƣớc trong phe xã hội chủ nghĩa làm chỗ dựa vững chắc; đi đôi với đấu tranh quân sự cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao, góp phần củng cố vào sự đoàn kết của phe xã hội chủ nghĩa, luôn luôn giữ thế chủ động, nắm vững và nêu cao ngọn cờ độc lập và hòa bình” [15; tr.638-641]. Ban Bí thƣ đề ra phƣơng hƣớng hoạt động tuyên truyền đối ngoại nhƣ: - Dựa vào tất cả các nƣớc xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là dựa vào Trung Quốc và Liên Xô; - Tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta; - Cô lập triệt để đế quốc Mỹ, phân hóa bọn đế quốc. Ngày 27-1-1967, Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 13 của Đảng ra nghị quyết Về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nƣớc của nhân dân ta. Nội dung cơ bản của Nghị quyết thể hiện đƣờng lối độc lập, tự chủ và chủ động tiến công địch trên mặt trận đối ngoại; khẳng định đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích 15 cực. Đảng chủ trƣơng: “Đi đôi với đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về ngoại giao, sự phối hợp với hai mặt trận đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa” [17; tr.174]. Nghị quyết chỉ rõ: đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trƣờng, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao…tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trƣờng, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực chủ động. Trong đấu tranh ngoại giao, Đảng yêu cầu nắm giữ các phƣơng châm: - Phát huy thế mạnh, thế thắng của ta; - Chủ động tiến công địch; - “Giữ vững tính độc lập, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các nƣớc xã hội chủ nghĩa anh em” [17; tr.174]. Mục đích cuộc tiến công ngoại giao đƣợc Đảng xác định là nhằm tố cáo mạnh mẽ hơn nữa những tội ác dã man của bọn xâm lƣợc Mỹ, vạch trần thủ đoạn “hòa bình” bịp bợm của chúng. Về phƣơng châm và phƣơng pháp đấu tranh ngoại giao Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 13 chỉ rõ: “cần vận dụng sách lƣợc ngoại giao một cách khôn khéo, linh hoạt, nhằm khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa Mỹ và các nƣớc đế quốc khác; phân hóa nội bộ bọn cầm quyền Mỹ, quân chƣ hầu, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam giành thắng lợi” [17;tr175]. “Nghị quyết Hội nghị trung ƣơng lần thứ 13 có ý nghĩa nhƣ là một cƣơng lĩnh về đấu tranh ngoại giao của Đảng, nhằm góp phần đƣa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi. Thực tế cho thấy là lần đầu tiên Đảng khẳng định đấu tranh ngoại giao là một mặt trận” [33; tr.109-110]. 16
- Xem thêm -