Tài liệu đặc trưng ngôn ngữ văn hóa việt qua thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc (so sánh với tiếng anh)

  • Số trang: 230 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1073 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trương Thị Sương Mai ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA VIỆT QUA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ CÓ TỪ CHỈ MÀU SẮC (SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS ĐẶNG NGỌC LỆ Thành phố Hồ Chí Minh - 2012 LỜI CẢM ƠN Với sự làm việc nghiêm túc của bản thân và sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của thầy cô, gia đình, bạn bè, luận văn này đã được hoàn thành. Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS. TS Đặng Ngọc Lệ, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô, những người đã chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu; xin chân thành cảm ơn phòng Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn. Người viết đã nỗ lực hết mình để hoàn thành luận văn. Tuy nhiên, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Người viết mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn. Xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i MỤC LỤC .................................................................................................................. ii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................... iv DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN .....................................................v DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ................................................................................. vii MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài ...............................................................................................1 2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................2 3. Lịch sử vấn đề: ..................................................................................................2 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................7 5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................8 6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn ........................................9 Chương 1: Tổng quan về thành ngữ, tục ngữ ...........................................................10 1.1.1. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ .....................................................................10 1.1.2. Khái quát thành ngữ và tục ngữ có từ chỉ màu sắc .....................................14 Chương 2: Từ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếngViệt (so sánh với tiếng Anh) ...........................................................................................................................33 2.1. Nguồn ngữ liệu ...................................................................................................33 2.1.1. Số lượng khảo sát ............................................................................................33 2.1.2. Nhận xét chung ................................................................................................33 2.1.3. Nhận xét về trường hợp thành ngữ trong tục ngữ...........................................33 2.2. Nhận xét về từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh ............................................................................................................................35 2.2.1. Tên, tần số xuất hiện và khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (So sánh với tiếng Anh) .......................................................35 2.2.2. Nghĩa sở thị của từ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh ............................................................................................................................50 2.3. Tiểu kết...............................................................................................................53 Chương 3: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (so với tiếng Anh) .......................................................................54 3.1. Những giá trị biểu trưng về con người ...............................................................54 3.1.1. Đối tượng..................................................................................................54 3.1.2. Thuộc tính, tính chất.................................................................................67 3.1.3. Trạng thái, tâm trạng ...............................................................................83 3.1.4. Tình trạng sức khoẻ ..................................................................................91 3.1.5. Thời vận ....................................................................................................96 3.2. Những giá trị biểu hiện của từ chỉ màu sắc về hiện tượng xã hội....................101 3.3. Những giá trị biểu hiện của từ chỉ màu sắc về hiện tượng tự nhiên ................109 3.4. Tiểu kết.............................................................................................................116 KẾT LUẬN .............................................................................................................118 TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................122 PHỤ LỤC ................................................................................................................131 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TNTN: Thành ngữ tục ngữ YTMS: Yếu tố màu sắc YTKH: Yếu tố kết hợp YT: Yếu tố MS: Màu sắc TN: Từ ngữ BPCT: Bộ phận cơ thể HV: Hán Việt ĐT: Động từ ĐV: Động vật TV: Thực vật CT: Cấu trúc DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN STT Tên bảng Trang 1 Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt 39 2 Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh 43 3 Các yếu tố màu sắc cùng xuất hiện trong cả hai ngôn ngữ 47 4 Sự trùng hợp trong phạm vi biểu vật của một số YTMS 52 trong TNTN tiếng Việt và tiếng Anh 5 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi đối 55 tượng trong TNTN tiếng Việt 6 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi đối 63 tượng trong TNTN tiếng Anh 7 Khoảng trống biểu trưng của YTMS trong TNTN tiếng 66 Anh so với tiếng Việt (phạm vi đối tượng) 8 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 68 Việt thuộc phạm vi thuộc tính, tính chất bên ngoài 9 Tên và tần số xuất hiện của YTMS biểu trưng cho 74 thuộc tính bên trong trong TNTN tiếng Việt 10 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 78 Anh thuộc phạm vi thuộc tính, tính chất 11 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 83 Việt thuộc phạm vi trạng thái, tâm trạng 12 Tên và tần số xuất hiện của cặp màu tham gia biểu trưng 85 cho trạng thái, tâm trạng của con người trong cấu trúc ẩn dụ hóa đối xứng 13 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 86 Anh thuộc phạm vi trạng thái, tâm trạng 14 Khả năng biểu trưng của YTMS về phạm vi trạng thái, tâm trạng trong TNTN tiếng Việt và tiếng Anh 90 15 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 91 Việt thuộc phạm vi tình trạng sức khỏe 16 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 93 Anh thuộc phạm vi tình trạng sức khỏe 16 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 96 Việt thuộc phạm vi thời vận 17 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 98 Anh thuộc phạm vi thời vận 18 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng 102 Việt thuộc phạm vi xã hội 19 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi xã hội 106 trong TNTN tiếng Anh 20 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi tự 110 nhiên trong TNTN tiếng Việt 21 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi tự nhiên trong TNTN tiếng Anh 113 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ STT 1 Tên hình Hình 2.1: Tỷ lệ xuất hiện của các nhóm màu trong Trang 45 TNTN tiếng Việt và tiếng Anh 2 Hình 2.2: Tỷ lệ các yếu tố màu sắc cùng xuất hiện trong TNTN của cả hai ngôn ngữ 47 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội ngày càng phát triển và trong xu thế đổi mới, hội nhập của đất nước, vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc được quan tâm sâu sắc, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tuỳ theo góc nhìn, văn hoá và bản sắc văn hoá của dân tộc được nghiên cứu trong mối quan hệ liên ngành khác nhau, trong đó có mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá. Mối quan hệ này ngay từ đầu đã được đông đảo giới nghiên cứu trên toàn thế giới quan tâm và nhìn nhận khác nhau: như Humboldt với lý thuyết Ngôn ngữ và linh hồn dân tộc; E. Sapir và Whorf với quan niệm về tính tương đối ngôn ngữ (linguistic relativity), mà Carroll đã gọi là giả thuyết Sapir - Whorf; và cả những giả thuyết của Weisberger và Tiber, Boas, Kroeber… Những vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ngày càng được xem xét ở diện rộng hơn nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi. Thật sự ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ gắn bó với nhau, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, không chỉ là công cụ để tư duy mà còn là quan niệm của chính con người với tư cách là chủ thể tri nhận và phân cắt hiện thực bằng mã ngôn ngữ. Để làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, việc nghiên cứu lớp thành ngữ và tục ngữ, một trong những đơn vị cấu thành và chứa đựng văn hoá, là điều đáng được chú ý. Đặc trưng văn hoá của dân tộc không chỉ thể hiện qua những quan niệm về nhân sinh, về thế giới và kinh nghiệm đúc kết trong thành ngữ, tục ngữ mà nó còn thể hiện thông qua những hình ảnh biểu trưng, những tính chất, sắc thái của hình ảnh mang biểu tượng. Và thông qua thế so sánh đối chiếu với dân tộc khác, ta mới nhận ra được nét đặc trưng riêng biệt và những điểm tương đồng trong cách tri nhận và phân cắt thực tại giữa các cộng đồng thông qua mã ngôn ngữ. Ngôn ngữ phản ánh nền văn hoá dân tộc, do đó, xuất phát từ những cứ liệu ngôn ngữ mang đậm dấu ấn văn hoá dân tộc, ta có thể giả định rằng có sự khác nhau đáng kể về đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh. Chính vì thế người viết đã chọn đề tài: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt qua thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc (so sánh với tiếng Anh). 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này, người viết hướng đến những mục đích sau: - Tìm ra mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hoá dựa trên cứ liệu là thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và góp phần làm rõ vấn đề hàm nghĩa văn hoá thể hiện qua ngôn ngữ. - Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của người Việt dựa trên cứ liệu là thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc, trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Anh. 3. Lịch sử vấn đề: Bàn về vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa, có nhiều khuynh hướng khác nhau. Chẳng hạn như E.B Tylor (1871) nghiên cứu về văn hoá nguyên thuỷ, V.Ia Prop bàn về Folklore và thực tại, V.M Rodin (1998) tìm hiểu các trường phái văn hoá học thế giới, R. Lado (1957) tìm hiểu ngôn ngữ học qua các nền văn hoá...Và dưới góc độ liên ngành, vấn đề bản sắc văn hoá của dân tộc cũng đang được giới nghiên cứu quan tâm. Ở Việt Nam cũng như trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, trong đó vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong mối quan hệ với ngôn ngữ cũng đáng được chú ý. Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa và theo Wardhaugh có thể quy thành ba điểm chính: thứ nhất là cấu trúc của một ngôn ngữ quyết định cách nhìn thế giới của người nói ngôn ngữ đó; thứ hai là văn hóa của một dân tộc tìm thấy sự phản ánh trong ngôn ngữ mà họ sử dụng; và thứ ba là không có mối quan hệ nào cả giữa ngôn ngữ và văn hóa. Về quan niệm thứ nhất có thể kể đến các nhà ngôn ngữ Đức: Humboldt, Weisberger và Triber, các nhà ngôn ngữ Mỹ: Boas, Sapir và Whorf. Với lý thuyết của mình, Humboldt cho rằng ngôn ngữ là sức mạnh hình thành nên tinh thần, ông nhấn mạnh vào khả năng sáng tạo ngôn ngữ trong đầu từng người nói, lời nói của con người là tinh thần của họ, tinh thần của họ là lời nói của họ. Còn L.Weisgerber công nhận rằng ngôn ngữ trong bất kì trạng thái nào cũng tạo nên một thế giới quan trọn vẹn; mỗi ngôn ngữ gắn với một dân tộc và mỗi ngôn ngữ thể hiện một quan niệm về thế giới và dĩ nhiên thế giới được bộc lộ một cách khác nhau. Sapir và Whorf quan niệm về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá có thể được tóm tắt như sau: ngôn ngữ quyết định tư duy và quá trình nhận thức của con người, quyết định văn hoá và hành vi xã hội, thế giới quan và toàn bộ bức tranh thế giới xảy ra trong ý thức... Như vậy theo họ, văn hoá và tư duy lệ thuộc vào ngôn ngữ, Sapir đã từng nói ngôn ngữ là “chỉ dẫn cho hiện thực xã hội” và là “chỉ dẫn mang tính biểu trưng cho văn hoá” (Dẫn theo Stern 1983). Còn Whorf thì đưa ra ví dụ sống động về cách mà người Eskimo diễn đạt khác nhau cho một từ “snow” (tuyết). Ngoài ra, Whorf còn cho rằng việc nghiên cứu các phạm trù ngữ pháp của các ngôn ngữ sẽ dẫn đến những hiểu biết sâu sắc về văn hoá. Về khuynh hướng đề cao vai trò của văn hoá có thể kể đến Malinowski. Tác giả cho rằng văn hoá đóng một vai trò rất quan trọng, “ngôn ngữ nhất thiết có nguồn gốc từ hiện thực của nền văn hoá” và “không thể giải thích nó được nếu không quy chiếu liên tục vào những ngữ cảnh rộng hơn của phát ngôn bằng lời” (Dẫn theo Stern, 1983). Ngược lại với hai quan điểm trên, đại diện cho quan điểm thứ ba có thể tính đến quan điểm trong công trình “Cấu trúc và chức năng trong xã hội nguyên thuỷ”, Radcliffe - Brown cho rằng dù có một mối quan hệ nào đó rất tổng quát giữa cấu trúc xã hội và ngôn ngữ, nhưng không có mối quan hệ trực tiếp giữa những đặc trưng của cấu trúc xã hội của một cộng đồng và ngôn ngữ mà cộng đồng đó nói. Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu không có nhiều ý kiến trái ngược như vậy. Hầu như những ai quan tâm nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ đều khẳng định mối quan hệ nhất định nào đó giữa chúng nhưng theo những khuynh hướng khác nhau. Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá như Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Lai, Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê, Đỗ Hữu Châu, Lý Toàn Thắng, Đào Thản, Trần Trí Dõi, Nguyễn Đức Tồn, Phạm Đức Dương, Nguyễn Văn Nở,… Một số nhà văn hoá có đề cập đến ngôn ngữ như Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vượng… Tuy đã có nhiều hướng, nhiều kết quả nghiên cứu về văn hoá, đã có những công trình đề cập đến các biểu hiện của văn hoá trên nhiều phương diện, nhưng việc làm rõ đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ, đặc biệt là trên dẫn liệu tục ngữ và thành ngữ thì đang còn là một vấn đề cần phải được phân tích và hệ thống hoá một cách đầy đủ và toàn diện hơn. Khi bàn đến sự thể hiện của văn hoá, người ta nói đến những biểu hiện của văn hoá qua các phương tiện khác nhau như: qua âm thanh, màu sắc, hình khối, đường nét, và nhiều phương tiện biểu hiện khác. Một trong những phương tiện quan trọng để tìm hiểu văn hoá, giải mã văn hoá là ngôn ngữ: ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ trong sáng tác dân gian… Các công trình khoa học cũng đã ít nhiều nói đến vấn đề này. Các hướng nghiên cứu gồm: Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ thi pháp học: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ (Phan Thị Đào, 2001; Tục ngữ Việt Nam - Cấu trúc và thi pháp (Nguyễn Thái Hòa). Từ góc độ ngôn ngữ - văn hoá: Thành ngữ tiếng Việt nhìn từ góc độ bản sắc văn hóa dân tộc (Nguyễn Xuân Hòa), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao người Việt (Nguyễn Nhã Bản, 2005)… Nhiều công trình nghiên cứu văn hoá từ góc độ ngôn ngữ: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá (Nguyễn Tài Cẩn, 2005), Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hoá (Nguyễn Quang, 2008), Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc qua ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Nguyễn Đức Tồn, 2002)… Bên cạnh những khuynh hướng nghiên cứu, những công trình trên còn nhiều bài viết, luận văn, luận án liên quan đến vấn đề, có thể kể đến một số công trình và bài viết: - Với đề tài “Ngữ nghĩa của từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)”, Nguyễn Thị Bảo đã làm rõ ngữ nghĩa văn hoá của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt trong thế so sánh với tiếng Anh. - Nguyễn Thanh Tùng nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của nhóm từ chỉ động thực vật trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) (luận án Tiến sĩ). Thông qua cứ liệu là nhóm từ chỉ động thực vật của cả tiếng Việt và tiếng Anh, người viết đã tìm ra được những nét đặc trưng ngôn ngữ văn hoá tương đồng và dị biệt trong tiếng Việt so với tiếng Anh. - Với đề tài “Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh), Nguyễn Thị Phượng đã xác lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, trên cơ sở là những thành ngữ có chứa bộ phận cơ thể người của tiếng Việt và tiếng Anh, và phân tích được những đặc trưng ngôn ngữ văn hóa đặc trưng trên cứ liệu tiếng Việt trong thế so sánh với tiếng Anh. Còn về vấn đề nghiên cứu tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt có nhiều công trình, có thể kể đến một số bài viết và công trình sau: - Trần Thị Thu Huyền có bài viết “Hoa cỏ và màu sắc trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt”, Ngôn ngữ và đời sống, số 12, 2001. Không dẫn ra nguồn và số lượng ngữ liệu, tác giả chỉ nêu ra những nhận xét mang tính khái quát từ những điểm tương đồng về hình thức đến những điểm tương đồng và dị biệt trong nhận thức của hai dân tộc về “màu sắc, hoa, cỏ” trong thành ngữ - tục ngữ. Ưu điểm của bài viết là không những nêu ra được những điểm tương đồng của thành ngữ tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh có chứa “hoa”, “cỏ”, “màu sắc” cả về vần điệu và thủ pháp ngữ nghĩa và một vài điểm đồng nhất trong nhận thức của cả hai dân tộc thông qua ý nghĩa biểu trưng của nó mà còn thấy được những điểm dị biệt trong nhận thức do xuất phát từ hai nền văn hóa khác nhau. Tuy nhiên những nhận xét rút ra chưa được phân tích và chứng minh đúng mức nên bài viết chỉ dừng lại ở những luận điểm mang tính nhận xét chung chung. Kết thúc bài viết, tác giả khẳng định: qua mảng từ ngữ này ta có thể hiểu thêm về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa của hai dân tộc. Nhưng cách hiểu như thế nào thì chưa được tác giả phân tích rõ trong toàn bài viết. - Trong bài viết “Vài nét đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua các từ chỉ màu sắc”, Ngôn ngữ và đời sống, số 6, 2006, từ việc khẳng định từ vựng của một ngôn ngữ là nơi bộc lộ rõ nét nhất bản sắc văn hóa dân tộc, Lê Thị Vy đã bước đầu chứng minh đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nét trong việc chọn ý nghĩa biểu trưng của màu sắc trong từng nền văn hóa. Từ đó tác giả nêu lên mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tại khách quan, ngôn ngữ và văn hóa. Ngôn ngữ là công cụ cấu trúc hóa, mô hình hóa thực tại khách quan; giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau. Nhưng tác giả lại nêu ra một luận điểm cần phải bàn luận thêm: cách cảm nhận và hệ thống từ vựng chỉ màu sắc trong mỗi ngôn ngữ thực sự đã ủng hộ cho giả thuyết Sapir Whorf về mối quan hệ qua lại giữa tư duy, ngôn ngữ và văn hóa. Nhìn chung bài viết chỉ dừng lại ở những vấn đề cơ bản, chưa đi sâu vào từng biểu hiện cụ thể. - Trịnh Thị Minh Hương có công trình “Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt” (Luận văn Thạc sĩ NNH), 2009. Dựa trên cứ liệu là các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương, người viết đã nêu bật được ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt. Bên cạnh đó, người viết còn dành một chương để so sánh ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, dù ngữ liệu thành ngữ dẫn ra không nhiều nhưng người viết đã nêu được một số điểm tương đồng và khác biệt trong cách tri nhận về các nhóm màu và hàm nghĩa biểu trưng được thể hiện trong từ ngữ chỉ màu sắc trong phạm vi hoạt động là thành ngữ. Với mục đích hướng vào tính biểu trưng của từ chỉ màu sắc, nên người viết không đi sâu vào bình diện ngôn ngữ văn hóa của từ, cũng như chưa đi vào nghiên cứu bình diện ngữ nghĩa văn hóa của thành ngữ tục ngữ. Với số liệu thành ngữ hạn chế và hạn định trong một chương, dù đã nêu được cơ bản những điểm tương đồng và dị biệt trong tính biểu trưng của màu sắc nhưng người viết chưa khái quát và đi sâu phân tích cách tri nhận màu sắc cũng như sự tương đồng và khác biệt về đặc trưng ngôn ngữ văn hóa của hai dân tộc. Những bài viết và công trình nghiên cứu trên là những cơ sở trực tiếp cho người viết thực hiện đề tài: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt qua thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc (so sánh với tiếng Anh). 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Về đối tượng của luận văn, người viết chỉ tìm hiểu những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ chỉ màu sắc chính danh trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt trong thế so sánh với tiếng Anh. Về phạm vi nguồn ngữ liệu, người viết dựa vào các tài liệu sau: - Thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam (Việt Chương) [6, 7]. - Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên) [14]. - Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên chủ biên) [15]. - Thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt (Vũ Dung chủ biên) [17]. - Từ điển tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Đức Dương) [19]. - Kho tàng tục ngữ người Việt, tập 1 và tập 2 (Nguyễn Xuân Kính) [45, 46]. - Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân) [49, 50]. - Từ điển tục ngữ thế giới (Gerd de Ley (Lê Thành dịch)) [51]. - Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực chủ biên) [54]. - Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực) [55]. - Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan) [66]. - Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) [67]. - Từ điển thành ngữ tiếng Việt phổ thông (Nguyễn Như Ý) [101]. - Từ điển thành ngữ Việt Nam (Nguyễn Như Ý chủ biên) [103]. - Thành ngữ tục ngữ Việt Nam (Du Yên) [104]. - Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt - Anh tường giải (Bùi Phụng) [68]. - Thành ngữ trong tiếng Anh (Lê Thành Tâm, Lê Ngọc Phương Tâm) [71]. - Oxford dictionary of English idioms (Cowie A.P., Mackin R., Mc Caig I.R) [108]. - The Oxford encyclopedic English dictionary (Judith Pearsall, Bill Trumble) [110]. - English idioms (J. Seidl and W. McMordie) [111]. - A dictionary of American idioms (Maxine Tull Boat, John Eward Gates) [113]. - English idioms in use (Michael McCarthy, Felicity O&Dell) [114]. - Idiom - Dictionary for leaners of English [117]. - The idiom of the people (Reeves, James) [118]. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thống kê - miêu tả: Người viết tìm ra những thành ngữ, tục ngữ có chứa những từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh, sau đó thống kê số lượng từ chỉ màu sắc trong từng ngôn ngữ. Từ ngữ liệu đó, người viết thống kê và xác định tần số xuất hiện của từng màu cụ thể trong thành ngữ và tục ngữ của hai ngôn ngữ. - Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân tích ngữ nghĩa cũng như nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ. - Phương pháp so sánh - đối chiếu: Nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ - văn hoá của hai ngôn ngữ thông qua đặc trưng văn hoá ngôn ngữ của từ chỉ màu sắc và của thành ngữ, tục ngữ. Phương pháp hệ thống: Khi tập hợp các từ chỉ màu sắc, người viết sắp xếp chúng theo những tiêu chí nhất định về ý nghĩa biểu trưng và khả năng kết hợp. Kết hợp với những phương pháp trên, người viết còn đưa ra giả thuyết: Xuất phát từ hai loại hình văn hoá khác nhau, văn hoá người Việt thì gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp còn văn hoá Anh thì gắn liền với du canh du cư… từ đó hình thành nên những đặc trưng tư duy khác nhau, nên người viết đưa ra giả thuyết về tính khác biệt đáng kể trong cách vận dụng màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ và cả trong cách mỗi cộng đồng tư duy và gửi gắm yếu tố văn hoá trong đó. Giả thuyết đó sẽ được kiểm chứng dựa trên cứ liệu thực tế. Cách giải thích và kết luận của luận văn đều dựa trên những cứ liệu thu thập được. 6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn Việc nghiên cứu đề tài có những ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau: - Đóng góp vào việc tìm hiểu những khác biệt về ngôn ngữ do đặc trưng văn hóa, tư duy quy định. - Cung cấp thêm tư liệu nghiên cứu về bản sắc văn hóa của hai dân tộc và góp phần trực tiếp vào việc giảng dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài và ngược lại. Chương 1: Tổng quan về thành ngữ, tục ngữ 1.1. Khái quát về thành ngữ và tục ngữ 1.1.1. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ Thành ngữ, tục ngữ là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau, do đó việc xác định khái niệm thành ngữ, tục ngữ là một công việc khó khăn. Tùy theo góc nhìn mà thành ngữ, tục ngữ được hiểu bằng những nội hàm khác nhau. Ngay dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, thành ngữ, tục ngữ cũng được xem xét và kiến giải khác nhau… Người viết chỉ đề cập đến quan niệm thành ngữ, tục ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ tán thành để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. 1.1.1.1. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong tiếng Việt, thành ngữ được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ các nhà nghiên cứu văn học dân gian đến các nhà ngôn ngữ học. Dưới góc độ ngôn ngữ học, thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ thuộc cụm từ cố định. Và theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” [100, tr. 271]. Trong bài “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Cù Đình Tú đã quan niệm: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động.” [92, tr.39]. Nguyễn Văn Mệnh trong “Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt” quan niệm: “Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn. Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế.” [58, tr.12]. Nguyễn Thiện Giáp thì định nghĩa: “Thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ các ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó. Ngay cả khi nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cụm từ đó… Thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa nhưng lại có tính chất tách biệt của các thành tố trong kết cấu, do đó nó hoạt động trong câu với tư cách tương đương với một từ cá biệt…” [26, tr.391]. Tóm lại, có thể hiểu một cách cơ bản, thành ngữ là cụm từ cố định có tính chất gợi hình, nghĩa của thành ngữ là nghĩa của toàn khối, nó là sự miêu tả một hình ảnh, một hành động, một tính chất hoặc một trạng thái. Nó mang chức năng định danh chứ không nêu lên một thông báo. Đối với thành ngữ tiếng Anh, nó cũng mang những điểm cơ bản tương tự như thành ngữ tiếng Việt nói riêng và thành ngữ của các ngôn ngữ trên thế giới nói chung. Trong công trình “English idioms”, J. Seidl và W. McMordie quan niệm: “thành ngữ có thể định nghĩa là một số các từ, khi đi với nhau, có nghĩa khác với nghĩa của mỗi từ riêng lẻ” [108] (An idioms can be defined as a number of words which, when taken together, have a different meaning from the individual meanings of each word). Còn các tác giả trong “English idioms in use” cũng cho rằng: “thành ngữ là những cụm từ cố định mà nghĩa của chúng không được trực tiếp nhận ra từ nghĩa của các từ riêng lẻ trong thành ngữ” [111] (Idioms are fixed of expressions whose meaning is not immediately obvious from looking at the individual words in the idiom). Trong tiếng Anh, thành ngữ có nhiều dạng và nhiều cấu trúc khác nhau. Một thành ngữ có thể có cấu trúc mang tính có quy tắc hoặc không có quy tắc, thậm chí là không đúng câu trúc ngữ pháp. Sự rõ ràng về nghĩa của thành ngữ không phụ thuộc vào “tính đúng ngữ pháp”. Chẳng hạn: - Hình thức bất quy tắc, nghĩa rõ ràng như trong give some to understand, do some proud, do the dirty on some one… - Hình thức có quy tắc, nghĩa mơ hồ như have a bee in one’s bonnet, cut no ice, bring the house down… - Hình thức bất quy tắc, nghĩa mơ hồ như trong be at large, go great guns, be at dangers drawn… Theo hai tác giả này thì thành ngữ tiếng Anh đa số là thuộc nhóm có quy tắc nhưng nghĩa không rõ ràng. Họ cũng cho rằng không thể thay đổi bất kì thành phần nào trong thành ngữ, chỉ trừ một vài thành ngữ có biến thể. Ví dụ trong thành ngữ eat one’s word (rút lại lời đã nói) thì không thể nói eat one’s sentences hoặc swallow one’s word… Còn John Saeed thì định nghĩa: thành ngữ được xem như những từ tập hợp lại để trở nên gắn liền với nhau đến khi chúng trở thành một kết cấu bền vững (“Idiom” as words collocated that became affixed to each other until metamorphosing into a fossilised term) [Dẫn theo Wikipedia]. Các tác giả “Từ điển thành ngữ tiếng Anh” (English idiom - Longman) cho rằng thành ngữ là cụm từ mà nghĩa của nó khác với nghĩa của từng từ riêng biệt cộng lại (a group of words that have a different meaning from the usual meaning of the separate words). Tóm lại, cũng như thành ngữ tiếng Việt, thành ngữ tiếng Anh là một cụm từ mang chức năng định danh, gợi hình, mà nghĩa của nó không phải là tổng cộng ý nghĩa của từng từ trong thành ngữ đó và nó đa dạng về cấu trúc. 1.1.1.2. Khái niệm tục ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh Từ điển bách khoa Wikipedia đã định nghĩa về tục ngữ: Một câu tục ngữ (từ tiếng La tinh: proverbium) là một câu đơn giản và cụ thể được nhiều người biết đến và lặp đi lặp lại, nó thể hiện một sự thật, dựa trên ý nghĩa thông thường hoặc kinh nghiệm thực tế của nhân loại. Chúng thường mang nghĩa ẩn dụ. (A proverb (from Latin: proverbium) is a simple and concrete saying popularly known and repeated, which expresses a truth, based on common sense or the practical experience of humanity. They are often metaphorical). Tục ngữ của các dân tộc trên thế giới đều có những điểm tương đồng. Tuy vậy, do đặc điểm tâm lý dân tộc khác nhau và các ngôn ngữ không giống nhau nên tục ngữ của mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng của nó. Hoàng Trinh trong “Từ kí hiệu học đến thi pháp học” đã từng nhận xét rằng: “Ngay một số nhà tục ngữ học vào loại hàng đầu cũng phải thừa nhận là không một định nghĩa nào có thể cho phép xác định rõ ràng như thế nào là một câu tục
- Xem thêm -