Tài liệu đặc điểm ngôn ngữ tên đề tiểu thuyết việt nam hiện đại giai đoạn 1996 - 2006 (theo quan điểm diễn ngôn)

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 967 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ MINH HẠNH ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TÊN ĐỀ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN 1996 - 2006 (THEO QUAN ĐIỂM DIỄN NGÔN) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC MÃ SỐ: 60 22 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐẠT HÀ NỘI 5 / 2009 MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng trong luận văn Danh mục các biểu đồ trong luận văn Mở đầu .................................................................................................... 1 Chƣơng 1: Cơ sở lí luận 1.1. Lý luận về nghiên cứu diễn ngôn ................................................. 4 1.1.1. Khái niệm Diễn ngôn và Phân tích diễn ngôn ...................... 4 1.1.2. Những đặc tính của diễn ngôn và việc phân loại diễn ngôn ............................................................................... 6 1.1.3. Phương pháp và đường hướng phân tích diễn ngôn ............. 10 1.2. Tên đề tiểu thuyết ........................................................................... 14 1.2.1. Một vài vấn đề về tiểu thuyết ................................................. 14 1.2.2. Khái niệm tên đề tiểu thuyết .................................................. 16 1.2.3. Chức năng của tên đề tiểu thuyết .......................................... 17 1.2.4. Đặc điểm của tên đề tiểu thuyết ............................................ 19 1.2.5. Đặc điểm của tên đề tiểu thuyết theo hướng phân tích diễn ngôn......................................................................... 19 1.2.6. Phân tích tên đề tiểu thuyết theo phương pháp phân tích diễn ngôn........................................................................................ 20 1.3. Mối quan hệ của tên đề với các bộ phận khác của tiểu thuyết ............................................................................................... 21 1.3.1. Về mặt hình thức.................................................................... 21 1.3.2. Về mặt nội dung ..................................................................... 21 Chƣơng 2: Đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của tên đề tiểu thuyết 2.1. Đặc điểm cấu trúc của tên đề tiểu thuyết .................................... 23 2.1.1. Số lượng âm tiết..................................................................... 23 2.1.2. Về quan hệ cú pháp ............................................................... 26 2.2. Các đặc điểm về ngữ nghĩa của tên đề tiểu thuyết ...................... 43 2.2.1. Ý nghĩa tự thân của tên đề .................................................... 44 2.2.2. Ý nghĩa của tên đề trong mối liên hệ với phần còn lại của văn bản tiểu thuyết .......................................................... 53 2.3. Một vài vấn đề về việc chuẩn hoá tên đề tiểu thuyết................... 64 2.3.1. Tên đề tiểu thuyết trước tiên phải là một tên đề đúng. ........ 64 2.3.2. Tên đề tiểu thuyết không chỉ cần đúng mà cần phải hay ...... 64 Chƣơng 3. Mối quan hệ của tên đề với phần mở đầu và nội dung tiểu thuyết 3.1. Mối quan hệ của tên đề với phần mở đầu .................................... 68 3.1.1. Tên đề liên quan trực tiếp với phần mở đầu ......................... 68 3.1.2. Tên đề có liên quan gián tiếp với phần mở đầu .................... 76 3.1.3. Nhận xét ................................................................................. 79 3.2. Mối quan hệ của tên đề với các yếu tố nội dung .......................... 80 3.2.1. Nội dung của tác phẩm văn học ............................................ 80 3.2.2. Quan hệ giữa tên đề với nhân vật chính ............................... 83 3.2.3. Quan hệ giữa tên đề và hình tượng của tác phẩm ................ 89 3.2.4. Quan hệ giữa tên đề với cốt truyện ....................................... 94 Kết luận .................................................................................................. 99 Tài liệu tham khảo DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CỦA LUẬN VĂN DT : Danh từ DN : Danh ngữ ĐT : Động từ ĐN : Động ngữ Nxb HNV : Nhà xuất bản Hội nhà văn Nxb TN : Nhà xuất bản Thanh niên Nxb QĐND : Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Nxb CAND : Nhà xuất bản Công an nhân dân Nxb VH : Nhà xuất bản Văn học Nxb LĐ : Nhà xuất bản Lao động Nxb PN : Nhà xuất bản Phụ nữ TT : Tính từ TN : Tính ngữ DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN Tên bảng STT Trang 1 Các kiểu tên đề 26 2 Tên đề có cấu tạo là từ 29 3 Các thành tố phụ của danh ngữ 35 4 Các thành tố phụ của động ngữ 36 5 Các thành tố phụ của tính ngữ 37 6 Tình hình sử dụng tên đề thuộc nhóm A 39 7 Các kiểu quan hệ của tên đề là ngữ 41 8 Tên đề có sử dụng phương thức hàm ẩn 52 9 Mối quan hệ giữa kiểu T và G (chủ đề chiến tranh) 56 10 Mối quan hệ giữa kiểu T và G (chủ đề tình yêu) 57 11 Mối quan hệ giữa kiểu T và G (chủ đề số phận con người) 59 12 Các kiểu tương hợp của tên đề và nội dung tiểu thuyết 63 (trong 118 tên đề 4 âm tiết) DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN STT 1 Tên biểu đồ Đặc điểm cấu trúc của tên đề tiểu thuyết Trang 27 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tên đề tiểu thuyết là một bộ phận của diễn ngôn nghệ thuật từ trước đến nay chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết. Trong một số công trình, Trịnh Sâm mới chỉ nêu một cách sơ lược các đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa của tên đề tiểu thuyết trong mảng văn xuôi nghệ thuật như "Tiêu đề văn bản tiếng Việt" [36], "Cấu trúc tiêu đề văn bản tiếng Việt trong phong cách ngôn ngữ văn chương" [34]. Hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa tiêu đề và nội dung tác phẩm ngoài bài viết "Về mối quan hệ giữa đầu đề và tác phẩm" [5] của Phan Mậu Cảnh. Đây là bài viết về mối quan hệ của tên đề và tác phẩm văn xuôi nói chung chứ không đi sâu phân tích tên đề tiểu thuyết. Có thể nói, tên đề tiểu thuyết, một bộ phận quan trọng của văn bản nghệ thuật rất cần được chúng ta nghiên cứu một cách cụ thể, hệ thống hơn nữa. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ tên đề tiểu thuyết Việt Nam hiện đại giai đoạn 1996 - 2006" (theo quan điểm diễn ngôn) làm hướng nghiên cứu cho luận văn. 2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2.1. Mục đích Mục đích của luận văn là đưa ra các đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa của tên đề tiểu thuyết, tìm hiểu mối quan hệ giữa tên đề với phần còn lại của văn bản nghệ thuật. Từ những kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi sẽ chỉ ra sự tác động của tên đề với việc tiếp nhận văn bản. 2.2. Nhiệm vụ Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi đặt ra cho mình các nhiệm vụ sau: 1) Chỉ ra các đặc điểm hình thức của tên đề. 2) Chỉ ra các đặc điểm về ngữ nghĩa của tên đề. 3) Chỉ ra mối quan hệ giữa tên đề và phần mở đầu của tác phẩm. 4) Chỉ ra mối quan hệ giữa tên đề và nội dung của tác phẩm. 2.3. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 350 tên đề tiểu thuyết đã được xuất bản trong 7 nhà xuất bản: Nxb VH, Nxb HNV, Nxb QĐND, Nxb CAND, Nxb LĐ, Nxb TN, Nxb PN trong thời gian 10 năm trở lại đây (1996 2006). 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ đã đặt ra, trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn và phương pháp miêu tả. Trong phương pháp miêu tả chúng tôi sử dụng các thủ pháp chính là: thủ pháp thống kê, thủ pháp lôgic - tâm lí, thủ pháp thay thế. 4. Đóng góp của luận văn về mặt khoa học Những kết quả nghiên cứu trong luận văn là sự đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ giữa tên đề và nội dung của văn bản nghệ thuật cũng như đặc điểm phong cách nhà văn. 5. Ý nghĩa của đề tài Về mặt lí luận: Đề tài góp phần bổ sung cho việc nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trên phương diện phân tích diễn ngôn. Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng để phân tích, giảng dạy về ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật và phân tích tác phẩm nghệ thuật nói chung. 6. Bố cục luận văn Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Ngoài ra, luận văn còn có mục lục và danh sách tài liệu tham khảo. Phần mở đầu: Ở phần này, chúng tôi nêu ra các mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ nghiên cứu và các phương pháp tiến hành trong việc khảo sát miêu tả ngữ liệu. Phần nội dung gồm 3 chương: Chƣơng một : Cơ sở lý luận. Chƣơng hai: Đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của tên đề tiểu thuyết. Chƣơng ba: Mối quan hệ của tên đề với phần mở đầu và nội dung tiểu thuyết. Phần kết luận: Nêu những nhận định khái quát về những kết quả đã đạt được. Ngoài ra, luận văn còn nêu ra một số dự kiến về việc nghiên cứu trong tương lai. CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. 1. Lý luận về nghiên cứu diễn ngôn 1.1.1. Khái niệm Diễn ngôn và Phân tích diễn ngôn Diễn ngôn là một khái niệm được rất nhiều tác giả bàn luận từ trước đến nay. Ở nước ngoài, lí luận về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn được đề cập đến từ năm 1952 với công trình của Harriz - "Discourse analysis". Ông đã đề xuất khái niệm diễn ngôn là "văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu" [trích theo 24, 15]. Tiếp sau đó là quan niệm của rất nhiều tác giả như Cook, Crystal, Brown & Yule... Crystal coi diễn ngôn là "một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lí lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay chuyện kể" [trích theo 24, 32]. Cook cho diễn ngôn là "các chuỗi ngôn ngữ cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích" [trích theo 24, 33]. Còn Brown và Yule coi "văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn" [trích theo 24, 33]. Cụ thể hơn Nunan cho rằng: "diễn ngôn chỉ việc hiểu một sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh" [trích theo 24, 33]. Widdonson cũng có cùng quan điểm với Brown và Yule, Nunan, ông cho rằng "Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp. Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản" [trích theo 24, 34]. Vấn đề phân tích diễn ngôn cũng là một vấn đề hết sức thời sự. Harriz coi "Phân tích diễn ngôn như là một hệ phương pháp hình thức phân tích văn bản thành các đơn vị nhỏ hơn" [trích theo 24, 25]. Còn Faslold lại nhận định "Nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu mọi khía cạnh sử dụng của ngôn ngữ" [trích theo 24, 27]. Brown và Yule thì cho rằng: "Phân tích diễn ngôn nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức. Như vậy, không thể giới hạn nó ở việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ tách biệt với các mục đích hay chức năng mà các hình thức này được sinh ra để đảm nhận trong xã hội loài người" [trích theo 24, 28]. Ở Việt Nam, phân tích diễn ngôn bắt đầu được chú ý từ những năm đầu thập kỉ 80. Trần Ngọc Thêm đặt vấn đề phân tích diễn ngôn khi thực hiện công trình "Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt". Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu... quan tâm tới diễn ngôn dưới góc độ ngữ dụng học. Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn "Dụng học Việt ngữ" [20] và "Giáo trình ngôn ngữ học" [21] đã đề cập đến một loạt các vấn đề như: ngữ cảnh và ý nghĩa, lý thuyết hành động ngôn từ, phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn trong đó đề cập tới các vấn đề như văn bản và diễn ngôn, mạch lạc và liên kết, ngữ vực, phân tích diễn ngôn và phân tích hội thoại, diễn ngôn và văn hóa... Tác giả Diệp Quang Ban cũng có khá nhiều các bài biết về phân tích diễn ngôn. Gần đây xuất hiện công trình "Phân tích diễn ngôn - Một số vấn đề lí luận và phương pháp" của tác giả Nguyễn Hoà. Đây là một công trình bàn đến các lý luận phân tích diễn ngôn một cách khá đầy đủ và chi tiết. Bởi vậy đây cũng là công trình được chúng tôi tham khảo để xây dựng phương hướng lý thuyết cho việc thực hiện xử lý ngữ liệu của đề tài. Quan điểm của Nguyễn Hòa về diễn ngôn cụ thể là: Ông coi diễn ngôn là "sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể" [24, 34]. Ở đây với tư cách là "Sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh" diễn ngôn phải có tính chủ đề, từ chủ đề bộ phận đến chủ đề chung, có mạch lạc. Để tạo nên mạch lạc, theo ông, "diễn ngôn không những phải thể hiện sự liên kết trên nhiều phương diện mà còn là sự tổ chức một cách hợp lí các yếu tố quan yếu (có giá trị giao tiếp) theo quy tắc cần và đủ". Còn "hoàn cảnh giao tiếp cụ thể" mà tác giả nói tới ở đây là tác động của các yếu tố tình huống ngoài ngôn ngữ đối với sự hoạt động của ngôn ngữ như các yếu tố văn hóa, yếu tố dụng học. Theo quan điểm của Nguyễn Hòa phân tích diễn ngôn thực chất là phân tích mạch lạc, phân tích các hành động nói cũng như việc sử dụng kiến thức nền trong quá trình sản sinh và hiểu diễn ngôn. Cách xử lí diễn ngôn có thể đi từ dưới lên hoặc đi từ trên xuống. 1.1.2. Những đặc tính của diễn ngôn và việc phân loại diễn ngôn 1.1.2.1. Đặc tính của diễn ngôn Đặc tính của diễn ngôn bao gồm: tính giao tiếp và kí hiệu của ngôn ngữ, tính mạch lạc và tính quan yếu * Tính giao tiếp và kí hiệu của diễn ngôn Vì ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu dùng làm công cụ giao tiếp nên diễn ngôn - một đơn vị giao tiếp ở bậc lớn hơn câu - cũng phải có hai mặt giao tiếp và kí hiệu. Trong những thập kỉ gần đây một số tác giả quan tâm đến ngữ dụng học đã cho rằng chức năng giao tiếp được dựa trên cơ sở ý nghĩa của các kí hiệu còn dụng học liên quan không chỉ đến ý nghĩa của người nói. Trên thực tế, chức năng giao tiếp không chỉ dựa trên cơ sở ý nghĩa của các kí hiệu mà còn phụ thuộc vào cả ý định của người nói. Sự nhầm lẫn này tồn tại là do các tác giả trên quan niệm các phát ngôn trực tiếp không có lực ngôn trung, mà theo Lyons "mọi phát ngôn đều có lực ngôn trung" và "các kiểu loại câu hay phát ngôn thông thường như phát ngôn trần thuận, nghi vấn hay khuyến lệnh về thực chất chính là biện pháp ngữ pháp hóa lực ngôn trung điển hình của câu, hay còn gọi là nội dung phi mệnh đề" [trích theo 24, 37]. Từ đó ta có thể thấy, khía cạnh giao tiếp của diễn ngôn sẽ bao gồm cả mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng. Theo quan niệm của Nguyễn Hòa [24,38] phạm trù giao tiếp của diễn ngôn bao gồm cả hai nội dung: nội dung mệnh đề / biểu hiện và nội dung dụng học. Nội dung dụng học được Grice hiểu là "ý nghĩa phi tự nhiên thể hiện ý định của người nói" [trích theo 24, 38] và nội dung phi tự nhiên này lại được thể hiện qua nội dung mệnh đề. Giao tiếp theo khía cạnh mệnh đề / biểu hiện lại gồm ba thành tố: ý nghĩa của sự việc hay nội dung của các sự kiện hay sự thể đã xảy ra; các tham thể; mối quan hệ giữa các tham thể. Đây là 3 yếu tố quan trọng trong tính giao tiếp của diễn ngôn, khi các yếu tố này thay đổi thì nội dung thông báo cũng thay đổi. Ngoài 3 yếu tố trên chúng ta cũng phải kể đến phương tiện được sử dụng để chuyển tải một nội dung thông báo, nó cũng góp phần mang lại các giá trị giao tiếp khác nhau. Cũng theo Nguyễn Hoà, tính chất kí hiệu của diễn ngôn, thể hiện ở chỗ nó là "các kí hiệu hay hình thức mà qua đó chúng ta chuyển tải các thông điệp hay trao đổi nội dung ý nghĩa trong một nền văn hóa" [24, 45]. Và, tính chất kí hiệu học của diễn ngôn được thể hiện qua các phạm trù: "thể loại diễn ngôn, diễn ngôn và văn bản". Vì diễn ngôn có tính chất kí hiệu như vậy nên cùng với các kí hiệu của ngôn ngữ, diễn ngôn cũng tham gia vào hai loại quan hệ của ngôn ngữ là quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn. Hai loại quan hệ này phản ánh khả năng kết hợp và lựa chọn diễn ngôn tùy theo tình huống, chủ đề giao tiếp. * Tính mạch lạc của diễn ngôn Mạch lạc là vấn đề quan trọng nhất của lý luận diễn ngôn. Nguyễn Thiện Giáp coi "cái quyết định để một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn hay văn bản chính là mạch lạc" [trích theo 24,50]. Geogre Yule gọi mạch lạc là "mối quan hệ bình thường và quen thuộc trong kinh nghệm của chúng ta, được sử dụng để nối nghĩa của các phát ngôn, ngay cả khi những chỗ nối kết này không được nêu một cách hiển ngôn (tức là bằng từ ngữ có tác dụng nối kết) [19, 23]. Như vậy, mạch lạc không phải là liên kết mà liên kết chỉ là một trong những phương thức tạo nên mạch lạc. Theo quan điểm của Nguyễn Hòa mạch lạc được tạo ra bởi "không chỉ các căn cứ ngôn ngữ mà còn trên cả các căn cứ ngoài ngôn ngữ" [24, 51]. Mạch lạc có căn cứ ngôn ngữ chỉ được tạo ra trong sự phát triển mệnh đề, liên kết hay tổ chức khuôn mẫu. Mạch lạc được tạo ra bởi các căn cứ ngoài ngôn ngữ khi thông tin ngữ cảnh được đưa vào và loại suy được áp dụng để hiểu nội dung diễn ngôn. Còn nhìn từ góc độ dụng học, theo Diệp Quang Ban [trích theo 24, 51] mạch lạc chính là sự áp dụng các quy tắc hành động và hiểu hành động nói. Sự phân chia căn cứ tạo mạch lạc như vậy chỉ mang tính tương đối, thực tế hai căn cứ này có quan hệ biện chứng, các yếu tố ngôn ngữ phản ánh nội dung ngoài ngôn ngữ và các nội dung ngoài ngôn ngữ lại tác động đến diện mạo của các yếu tố ngôn ngữ. Nguyễn Hòa cho rằng "các khía cạnh tạo mạch lạc chính trong diễn ngôn là mạch lạc trong liên kết và mạch lạc trong cấu trúc"[24,51]. Xét về khía cạnh liên kết thì mạch lạc không phải là liên kết mà liên kết chỉ là một phương tiện để hiện thực hóa mạch lạc. Nunan cho rằng : “Mạch lạc là mức độ phạm vi qua đó diễn ngôn được nhận biết là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu hay phát ngôn không có quan hệ với nhau". Còn liên kết là : “các mối liên hệ hình thức thể hiện các mối quan hệ giữa các mệnh đề và giữa các câu trong diễn ngôn” [trích theo 24,52]. Như vậy, chúng ta không nên coi mạch lạc là các phương tiện liên kết hay nội dung văn bản vì liên kết chỉ là phương tiện tạo mạch lạc và nội dung của văn bản lại là một khái niệm rất phức tạp và đa chiều trong đó mạch lạc chỉ là một phần của nội dung thực. Diệp Quang Ban [trích theo 24, 57] đã khái quát sự hiện thực hóa của mạch lạc thành 3 phạm vi : mạch lạc trong quan hệ nghĩa logic giữa các từ ngữ trong văn bản, mạch lạc trong quan hệ giữa những từ ngữ trong văn bản và cái được nói tới trong tình huống từ bên ngoài văn bản và mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói. Xét ở khía cạnh cấu trúc ta thấy mạch lạc còn được tạo ra bởi cấu trúc hay cách thức tổ chức diễn ngôn. Cấu trúc hay cách thức tổ chức các yếu tố quan yếu có một vai trò quan trọng tạo nên mạch lạc, và cấu trúc diễn ngôn bao hàm sự hiện diện của các yếu tố phát triển nội dung. Cùng với liên kết, cấu trúc là yếu tố tạo nên mạch lạc. Cấu trúc diễn ngôn là sự tổ chức các yếu tố nội dung, quan yếu theo những cách thức tổ chức nhất định và cách thức tổ chức này mang tính chất chủ quan của người viết nhằm thể hiện mục đích của mình. * Tính quan yếu Tính quan yếu là một trong những khía cạnh đáng quan tâm của lý luận phân tích diễn ngôn. Yếu tố quan yếu theo Nguyễn Hòa là “các đóng góp thể hiện tính giao tiếp của diễn ngôn” [24, 64]. Tính giao tiếp của diễn ngôn lại bao gồm nội dung mệnh đề và nội dung dụng học. Nói một cách khác, các đóng góp là yếu tố quan yếu có chức năng biểu hiện một sự thể gồm các tham thể, quá trình, mối quan hệ giữa các tham thể và ý nghĩa dụng học kèm theo. Bên cạnh đó, tính chất quan yếu còn bị quy định bởi các yếu tố văn hóa. Có thể nói rằng, trong các đặc tính của diễn ngôn mạch lạc là quan trọng nhất, nó giải thích nhiều khía cạnh của diễn ngôn với tư cách là một quá trình giao tiếp tương tác. Mạch lạc chính là sự tổng hợp 3 yếu tố: liên kết, cấu trúc, sự dung hợp giữa các hành động nói và tính quan yếu. Mạch lạc được tạo ra dựa trên cả những yếu tố ngôn ngữ và yếu tố ngoài ngôn ngữ. Nó dựa trên yếu tố ngôn ngữ khi được tạo ra trên sự phát triển mệnh đề, liên kết hay tổ chức theo khuôn mẫu và dựa trên yếu tố ngoài ngôn ngữ khi mạch lạc mang tính văn hóa – xã hội và thông tin ngữ cảnh được đưa vào. 1.1.2.2. Phân loại diễn ngôn Hiện nay có nhiều cách phân loại diễn ngôn và chúng cũng giao nhau trên nhiều phương diện vì ngôn ngữ tồn tại trong rất nhiều tình huống giao tiếp khác nhau. Ở đây chúng ta có thể kể ra một số cách phân loại như: phân loại diễn ngôn dựa trên trường diễn ngôn. Các tác giả đưa ra cách phân loại này là Hatim và Mason [trích theo 24, 69]. Theo cách phân loại này ta sẽ có các loại diễn ngôn về giáo dục, tôn giáo, khoa học; Ngoài ra, cũng có một số tác giả tiến hành phân loại diễn ngôn dựa trên sự phân biệt hay chức năng, trong đó có Brown và Yule. Cách thứ ba là cách phân loại theo cấu trúc. Đó là cách phân loại của Hausenblas, tác giả này đã phân loại diễn ngôn theo khuôn hình văn bản và cấu trúc nội tại để cho ra các kiểu diễn ngôn khác nhau. Nhưng đáng chú ý nhất là cách phân loại của Halliday [trích theo 24, 73], đó là cách phân loại dựa trên trường diễn ngôn, tính chất diễn ngôn và cách thức diễn ngôn. Trường diễn ngôn bao gồm các chủ đề được đề cập đến và thể hiện phần nội dung mệnh đề của mục đích giao tiếp, tính chất diễn ngôn thể hiện mối quan hệ giữa các cá nhân tham gia bao gồm cả ý nghĩa dụng học, cách thức diễn ngôn chỉ phương tiện ngôn ngữ sử dụng (nói hay viết). Ông đã sử dụng các yếu tố này để phân loại ngữ vực. Theo Nguyễn Hòa [24, 74] ngữ vực là sự phân chia bao trùm nhất, dưới đó là các thể loại, các kiểu diễn ngôn cụ thể. Ví dụ, ngữ vực báo chí gồm các thể loại: tin, bài bình luận, tin vắn, phóng sự điều tra, quảng cáo... ; ngữ vực văn chương gồm: tiểu ngữ vực văn xuôi, thơ, văn học dân gian và các thể loại như: truyện ngắn, tiểu thuyết văn học, thơ ca, kịch.... ; ngữ vực chính luận gồm các tiểu ngữ vực như: pháp lí, ngoại giao, thương mại, ....; ngữ vực hội thoại hàng ngày gồm các thể loại: hội thoại, phỏng vấn, nói chuyện.... 1.1.3. Phƣơng pháp và đƣờng hƣớng phân tích diễn ngôn 1.1.3.1.Đường hướng phân tích diễn ngôn Trong cuốn "Dụng học" Geogre Yule cho rằng "Phân tích diễn ngôn tập trung vào cái được ghi lại (nói và viết) của quá trình theo đó ngôn ngữ được dùng trong một số ngữ cảnh để diễn đạt ý định" và phân tích diễn ngôn "nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức, nhất thiết không giới hạn nó ở việc mô tả các hình thức ngôn ngữ tách biệt với các mục đích hay chức năng mà các hình thức này sinh ra để đảm nhận trong xã hội loài người" [19, 23] . Theo ông phân tích diễn ngôn phải tập trung vào việc phân tích cấu trúc và dụng học. Xét ở góc độ cấu trúc, tiêu điểm là các đề tài như là các nối kết tường minh giữa các câu tạo nên liên kết, các yếu tố tổ chức văn bản. Xét ở khía cạnh dụng học, phân tích diễn ngôn tập trung đến những phương diện của những điều không được nói hay viết ra, quan tâm đến đằng sau của cấu trúc và hình thức trong văn bản, quan tâm đến những khái niệm, tâm lí như kiến thức nền, niềm tin, mong đợi, khám phá những gì người nói/viết nghĩ trong đầu. Đây là phương pháp chung về phân tích diễn ngôn còn các phương pháp cụ thể lại phụ thuộc vào các đường hướng phân tích diễn ngôn. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một vài đường hướng cụ thể: Đường hướng phân tích diễn ngôn đầu tiên phải kể đến là đường hướng dụng học. Trong lĩnh vực dụng học có một số xu hướng khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là hành động nói và nguyên tắc cộng tác. Theo Austin và Searle, phân tích diễn ngôn là thực hiện hành động nói. Austin đã phát hiện ra "trong quá trình giao tiếp có một số phát ngôn thực hiện một số hành động nhất định". nhưng cũng có trường hợp "nhiều phát ngôn cùng thực hiện một hành động" [24, 80]. Còn Searle [trích theo 24, 83] cho rằng hành động nói là đơn vị cơ bản của giao tiếp, tức là đặt trong mối quan hệ giữa việc nghiên cứu ngôn ngữ với ý nghĩa và gao tiếp. Ông cũng chia ra loại hành động dựa trên nguyên tắc, thứ nhất là "đích ngôn trung của hành động" thứ hai là nguyên tắc liên quan đến "sự phù hợp của thực tại với ngôn từ" và cuối cùng là nguyên tắc tâm lí. Theo Nguyễn Hòa [24, 85] lí luận hành động nói đã tập trung xem xét đến ý nghĩa của phát ngôn như là các hành động chứa nội dung giao tiếp,"các hành động được thực hiện cho ta biết các hành động tiếp theo sẽ xảy ra" và đó là cơ sở tạo mạch lạc cho diễn ngôn. Một hướng phân tích nhỏ thứ hai trong đường hướng dụng học là phân tích nguyên tắc cộng tác - một nguyên tắc được Grice đưa ra. Dụng học theo Grice được đựa trên ý nghĩa của người nói và nguyên tắc cộng tác. Ý nghĩa của người nói được hiểu là ý định hay nội dung giao tiếp được chuyển tải qua diễn ngôn. Theo quan điểm của Grice [trích theo 24, 86] thì không phải bao giờ ý nghĩa thông báo của con người cũng trùng với ý nghĩa quy ước của kí hiệu. Việc hiểu ý nghĩa giữa người nói và người nghe phải dựa trên nguyên tắc cộng tác. Nguyên tắc này được đưa ra để giải thích cho ý nghĩa hàm ngôn của hội thoại và mối quan hệ cần thiết giữa ý nghĩa và giá trị phát ngôn trong giao tiếp. Như vậy, nguyên tắc cộng tác không những góp phần hiểu ý người nghe và người nói mà còn là căn cứ tạo mạch lạc. Đường hướng thứ hai là đường hướng biến đổi ngôn ngữ dựa trên đối tượng của mình là tìm hiểu những đơn vị hay bộ phận của diễn ngôn nằm trong những mối quan hệ hệ thống và khuôn mẫu với nhau. Đường hướng này đã hình thành phương pháp phân tích ngữ vực, thừa nhận có sự khác biệt về ngôn ngữ, các tình huống giao tiếp. Phân tích ngữ vực theo Halliday [trích theo 24, 92] là sự phân tích các đặc trưng: trường, thức và bầu không khí dựa trên việc miêu tả hai yếu tố là người sử dụng và cách thức sử dụng. Đường hướng thứ ba là đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác: Theo đường hướng này diễn ngôn được nhìn nhận là sự tương tác xã hội mà ở đó việc cấu thành và thương lượng ngĩa được hỗ trợ bởi việc sử dụng ngôn ngữ. Trong đường hướng thứ ba này đối tượng của ngôn ngữ học xã hội được xác định là mối quan hệ giữa việc sử dụng ngôn ngữ trong tương tác xã hội với các vấn đề như cấu thành nét bản thể đặc thù, giao tiếp, trong các ngữ cảnh văn hóa, xã hội khác nhau. Đường hướng còn có điểm nổi bật là sự cân bằng giữa mặt chức năng luận và cấu trúc luận. Nó quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ, xã hội và văn hóa. Khi phân tích diễn ngôn theo đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác người ta thường đặt trong mối quan hệ với xã hội và văn hóa vì chỉ khi đó người ta mới nhìn nhận được ngôn từ được hình thành và sử dụng ra sao. Ngoài 3 đường hướng trên còn có một số các đường hướng khác như: đường hướng dân tộc học giao tiếp, đường hướng phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn trong tâm lý học xã hội. 1.1.3.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp của Nguyễn Hòa là phương pháp mà chúng tôi chọn làm công cụ cho việc khảo sát tên đề tiểu thuyết theo quan điểm phân tích diễn ngôn. Theo Nguyễn Hòa các đường hướng như đã nói ở trên “chưa đi vào một trong những vấn đề thuộc bản chất của diễn ngôn, đó là tính mạch lạc” [24, 144] và phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp sẽ phân tích toàn bộ một chỉnh thể diễn ngôn dựa trên mạch lạc. Có thể coi đây là đường hướng chức năng coi diễn ngôn là quá trình giao tiếp tương tác giữa các thành viên của xã hội. Nguyễn Hòa nhấn mạnh việc lý giải tính chất giao tiếp tương tác của ngôn ngữ phải dựa trên mạch lạc, mạch lạc lại dựa trên cơ sở cấu trúc hình thức. Nguyễn Hòa coi tính cấu trúc là một cơ sở chính cho việc phân tích diễn ngôn. Phương pháp này được coi là tổng hợp vì cơ sở của nó là mạch lạc mà mạch lạc lại bao gồm các yếu tố chính như: tổ chức, liên kết, tính quan yếu. Theo phương pháp này, tính quan yếu được coi trọng nhất. Vì cấu trúc được hiểu như là mạng các quan hệ của các yếu tố quan yếu. Khi nói đến cấu trúc ta lại nói đến việc kết hợp các yếu tố quan yếu. Và liên kết cũng chính là sự liên kết hình thức vậy nội dung hay mệnh đề được các yếu tố quan yếu biểu đạt. Có thể nói, việc xác định các yếu tố quan yếu tham gia vào nội dung của diễn ngôn là quan trọng với việc phân tích diễn ngôn. Chúng ta phải xác định sự hiện thực hóa các yếu tố này về mặt ngữ liệu hay vật chất. Nguyễn Hòa cho rằng việc lựa chọn các nguồn lực từ ngữ bị quy định bởi mục đích giao tiếp, ý định của người nói. Điều đó thể hiện ở: Chiến lược văn hóa, diễn ngôn sẵn có trong một cộng đồng ngôn ngữ, hoàn cảnh xã hội (như các cá nhân tham gia tương tác, mối quan hệ, bản chất của bối cảnh....), tính chất của các thể loại diễn ngôn đã được quy ước hóa, khung văn hóa, niềm tin và hành động của các thành viên xã hội. Các yếu tố cấu trúc, liên kết và quan yếu phải được đặt trong mối quan hệ với các giá trị văn hóa, lấy giá trị văn hóa làm chuẩn. Một điều quan trọng nữa là diễn ngôn phải được coi là ngôn ngữ hành chức với tư cách là sự tương tác xã hội (tức cá nhân này có tác động tới cá nhân khác). 1.2. Tên đề tiểu thuyết 1.2.1. Một vài vấn đề về tiểu thuyết Tên đề tiểu thuyết là bộ phận của văn bản tiểu thuyết nên trước khi phân tích nó chúng tôi xin trình bày sơ lược một số vấn đề về tiểu thuyết. * Định nghĩa tiểu thuyết Theo giáo sư Phan Cự Đệ thì "Tiểu thuyết là một thể loại vẫn còn uyển chuyển, mềm dẻo và dường như không bị đóng khung trong những quy phạm chật hẹp như một số thể loại khác..." [14, 87]. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể xác định được bản chất của tiểu thuyết bằng một số đặc trưng thẩm mỹ của thể loại chứ không phải là "bất khả tri" như trong lý luận văn học tư sản đã nói. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “tiểu thuyết là truyện dài bằng văn xuôi có dung lượng lớn với nhiều nhân vật hoạt động trong phạm vi lịch sử xã hội rộng lớn” [31, 992]. Lý Hoài Thu cho rằng “là một hình thức tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết có những khả năng riêng trong việc tái hiện với một quy mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu
- Xem thêm -