Tài liệu đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân (từ tư liệu một số tác phẩm văn học)

  • Số trang: 213 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 71 |
  • Lượt tải: 0
thanhphoquetoi

Tham gia: 05/11/2015

Mô tả:

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, cho tôi gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo và Ban Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ, Phòng Đào tạo, Học viện Khoa học xã hội, cùng các thầy cô giáo Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thƣ Việt Nam, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Trƣờng Đại học Thăng Long đã tận tình giảng dạy, luôn động viên, nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi suốt quá trình học tập. Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Nguyễn Văn Khang, PGS. TS Trần Thị Hồng Hạnh, những ngƣời thầy mẫu mực đã cho tôi tri thức, kinh nghiệm, niềm say mê nghiên cứu để hoàn thành luận án này. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè và ngƣời thân trong gia đình đã tiếp sức cho tôi, giúp tôi có đƣợc kết quả nhƣ hôm nay. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội tháng năm 2021 Tác giả Nguyễn Thị Hoa MỤC LỤC MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1 1. Lý do lựa chọn đề tài.................................................................................... 1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................... 2 3. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 2 4. Đối tƣợng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu ..................................... 3 5. Đóng góp của luận án .................................................................................. 5 6. Cấu trúc của luận án ..................................................................................... 6 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................................................... 8 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU........................................................ 8 1.1.1 Tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ ....................................... 8 1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sự phân tầng xã hội với việc sử dụng ngôn ngữ ........................................................................................................ 13 1.1.3. Tình hình nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của ngƣời nông dân ......... 18 1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................................ 19 1.2.1 Một số vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ .................................................... 19 1.2.2 Lý thuyết về hành động ngôn ngữ ........................................................ 36 1.2.3 Lý thuyết về ngôn ngữ cử chỉ ............................................................... 41 1.3 TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .................................................................................... 48 Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BẰNG LỜI TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƢỜI NÔNG DÂN: CHỦ ĐỀ GIAO TIẾP VÀ HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ .......................................................................................................... 49 2.1. GIỚI HẠN VẤN ĐỀ ......................................................................................... 49 2.2. CÁC CHỦ ĐỀ GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG GIAO TIẾP ...... 49 2.2.1. Các chủ đề giao tiếp giai đoạn 1930 - 1945 ......................................... 50 2.2.2 Các chủ đề giao tiếp giai đoạn từ 1986 đến nay ................................... 59 2.3. CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ TƢƠNG ỨNG VỚI CHỦ ĐỀ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƢỜI NÔNG DÂN ................................................................. 64 2.3.1 Thống kê tần số xuất hiện các nhóm hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân.......................................................................................................... 64 2.3.2 Nghiên cứu trƣờng hợp: Nhóm hành động cầu khiến .......................... 70 2.4. NHẬN XÉT CHUNG ....................................................................................... 96 2.5. TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ................................................................................... 99 Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ PHI LỜI CỦA NGƢỜI NÔNG DÂN TRONG GIAO TIẾP: NGÔN NGỮ CỬ CHỈ........................................ 101 3.1 GIỚI HẠN VẤN ĐỀ ........................................................................................ 101 3.2. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỬ CHỈ CỦA NGƢỜI NÔNG DÂN XÉT THEO CHỨC NĂNG VÀ BỘ PHẬN CƠ THỂ THỰC HIỆN .......................................... 102 3.2.1. Ngôn ngữ cử chỉ của ngƣời nông dân xét theo chức năng ................ 102 3.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ cử chỉ của ngƣời nông dân xét theo bộ phận cơ thể thực hiện ................................................................................................. 110 3.3. Ý NGHĨA THỂ HIỆN VÀ VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ CỬ CHỈ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƢỜI NÔNG DÂN ............................................................... 124 3.3.1. Ý nghĩa thể hiện của ngôn ngữ cử chỉ trong giao tiếp của ngƣời nông dân ....................................................................................................... 124 3.3.2. Vai trò của của ngôn ngữ cử chỉ trong giao tiếp của ngƣời nông dân .... 137 3.4. TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ................................................................................ 140 KẾT LUẬN ......................................................................................................... 143 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ ......................................... 146 TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 147 NGUỒN NGỮ LIỆU .......................................................................................... 153 PHỤ LỤC ............................................................................................................ 154 BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT ĐTNV: Đại từ nghi vấn GT: Giao tiếp HĐH: Hành động hỏi HĐHGT: Hành động hỏi gián tiếp HĐHTT: Hành động hỏi trực tiếp HĐNN: Hành động ngôn ngữ HGT: Hỏi gián tiếp HTT: Hỏi trực tiếp IFIDs: Các phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời p: Nội dung mệnh đề PTNV: Phụ từ nghi vấn SP1: Ngƣời nói SP2: Ngƣời nghe DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Bảng các nhóm nhân tố xã hội ảnh hƣởng đến giao tiếp ngƣời Việt ....... 16 Bảng 2.1: Các chủ đề giao tiếp của ngƣời nông dân giai đoạn 1930 - 1945............ 50 Bảng 2.2: Các chủ đề giao tiếp của ngƣời nông dân giai đoạn từ 1986 đến nay ..... 59 Bảng 2.3: Các nhóm hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân .............................. 64 Bảng 2.4: Các nhóm hành động ngôn ngữ của của ngƣời nông dân xét theo chủ đề giao tiếp giai đoạn văn học 1930 - 1945 ................................................... 66 Bảng 2.5: Các nhóm hành động ngôn ngữ của của ngƣời nông dân xét theo chủ đề giao tiếp giai đoạn văn học từ 1986 đến nay............................................. 67 Bảng 2.6: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của ngƣời nông dân giai đoạn 1930-1945 ............................................................ 72 Bảng 2.7: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của ngƣời nông dân từ 1986 đến nay ................................................................... 73 Bảng 2.8: Tổng hợp các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của ngƣời nông dân ................................................................................. 74 Bảng 3.1: Phân loại ngôn ngữ cử chỉ của tầng lớp nông dân theo chức năng ....... 102 Bảng 3.2: Phân loại ngôn ngữ cử chỉ của ngƣời nông dân theo bộ phận cơ thể thực hiện ....................................................................................................... 111 Bảng 3.3: Giá trị thông báo của ngôn ngữ cử chỉ của tay trong giao tiếp của ngƣời nông dân ............................................................................................ 117 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Các chủ đề giao tiếp của ngƣời nông dân giai đoạn 1930 – 1945 ...... 50 Biểu đồ 2.2: Các chủ đề giao tiếp của ngƣời nông dân giai đoạn từ 1986 đến nay 59 Biểu đồ 2.3: Các nhóm hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân .......................... 64 Biểu đồ 2.4: Các nhóm hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân xét theo chủ đề giao tiếp giai đoạn 1930 - 1945 .................................................................... 65 Biểu đồ 2.5: Các nhóm hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân xét theo chủ đề giao tiếp giai đoạn từ 1986 đến nay ............................................................... 65 Biểu đồ 2.6: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của ngƣời nông dân giai đoạn 1930-1945 ............................................................ 73 Biểu đồ 2.7: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của ngƣời nông dân từ 1986 đến nay ................................................................... 74 Biểu đồ 2.8: Tổng hợp các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của ngƣời nông dân ......................................................................... 75 Biểu đồ 3.1: Phân loại ngôn ngữ cử chỉ của ngƣời nông dân theo chức năng ....... 103 Biểu đồ 3.2: Phân loại ngôn ngữ cử chỉ của tầng lớp nông dân theo bộ phận cơ thể thực hiện ................................................................................................. 111 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài 1.1. Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học thế giới, ngôn ngữ học ở Việt Nam trong khoảng hai thập niên lại đây đã chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp.Trong nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp, chủ đề giao tiếp là một nội dung quan trọng. Chủ đề giao tiếp đƣợc thể hiện bằng các hành động ngôn ngữ và luôn gắn với vai giao tiếp. Khi xem xét về vai giao tiếp, các nhà ngôn ngữ học xã hội cho rằng: vai giao tiếp chỉ thực sự đƣợc nhận ra thông qua những hình thức diễn đạt cụ thể. Bên cạnh xƣng hô là hình thức đánh dấu vai giao tiếp thì hành động ngôn ngữ cũng đƣợc coi là một trong những hình thức quan trọng để thiết lập mối tƣơng quan giữa các nhân vật giao tiếp. Bởi vậy, là một thực thể đa chức năng, mỗi ngƣời có rất nhiều vai từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Khi tham gia giao tiếp, từ chủ đề giao tiếp, mỗi cá nhân sẽ xác định vai giao tiếp và lựa chọn hành động ngôn ngữ tƣơng ứng để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả. 1.2. Việt Nam là một dân tộc có nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc lâu đời. nền văn minh nông nghiệp ấy đã tạo ra cho xã hội Việt Nam một lực lƣợng vô cùng lớn mạnh và có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đó là nông dân. Vì vậy, việc xem xét đặc điểm ngôn ngữ của nông dân từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, cụ thể là từ lí thuyết phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ là một nội dung cần thiết trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực ngôn ngữ học mà thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ để góp phần vào nghiên cứu xã hội Việt Nam nói chung, ngƣời nông dân Việt Nam nói riêng gắn với từng giai đoạn lịch sử của đất nƣớc. 1.3 Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngƣời nông dân từ nhiều góc độ khác nhau nhƣ nhân học, văn hóa học, văn học,…. đã đƣợc công bố. Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng tôi, từ góc độ ngôn ngữ học hiện chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm ngôn ngữ của ngƣời nông dân. 1.4 Hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con ngƣời đƣợc thực hiện bởi hai cách thức phổ biến nhất là nói và viết. Từ xa xƣa, trong lịch sử văn học, tác phẩm văn học luôn là một sáng tạo nghệ thuật hoàn chỉnh, có khả năng thể hiện trọn vẹn tƣ tƣởng, tình cảm của nhà văn đối với cuộc đời mà trƣớc hết là thông qua những hoạt động giao tiếp và mối quan hệ giao tiếp của các nhân vật diễn ra ngay trong chính tác phẩm. Có 1 thể nói, mỗi tác phẩm văn học là một cuộc giao tiếp lớn, trong đó có nhiều cuộc giao tiếp nhỏ. Do vậy, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của các nhân vật trong tác phẩm văn học là cách giúp hiểu giá trị của tác phẩm đồng thời qua đó góp phần khám phá các cách thức giao tiếp của ngƣời Việt trong lịch sử. Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân (từ tư liệu một số tác phẩm văn học). 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận án là chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ của ngƣời nông dân trong một số tác phẩm văn học ở hai giai đoạn 1930 – 1945 và giai đoạn từ 1986 đến nay đƣợc thể hiện bằng ngôn từ (chủ đề giao tiếp thƣờng gặp cùng các hành động ngôn ngữ) và phi ngôn từ (ngôn ngữ cử chỉ) trong giao tiếp đƣợc thể hiện bằng ngôn ngữ miêu tả cử chỉ. Kết quả nghiên cứu góp phần vào lý luận của ngôn ngữ học xã hội về sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ; góp phần vào nghiên cứu hình ảnh ngƣời nông dân Việt Nam từ góc độ ngôn ngữ. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Từ mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ nhƣ sau: - Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. - Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, trong đó tập trung vào một số nội dung chính nhƣ: một là hành động ngôn ngữ, hai là sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ phi ngôn từ. - Khảo sát đặc điểm giao tiếp bằng ngôn từ (bằng lời) của ngƣời nông dân đƣợc thể hiện ở các chủ các chủ đề giao tiếp cùng các hành động ngôn ngữ - Khảo sát đặc điểm giao tiếp bằng phi ngôn từ (phi lời) của ngƣời nông dân đƣợc thể hiện ở ngôn ngữ miêu tả các cử chỉ thay ngôn từ và cử chỉ kèm ngôn từ. 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận án sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau: - Phƣơng pháp phân tích diễn ngôn: chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để tập trung nghiên cứu hội thoại bao gồm:1) Định dạng văn bản (miêu tả diễn ngôn); 2) Phân tích quá trình sản sinh và thực hành diễn ngôn (tìm hiểu diễn ngôn); 3) Phân tích các đặc điểm văn hóa - xã hội tác động ở bề sâu diễn ngôn (giải thích diễn ngôn). - Phƣơng pháp miêu tả: dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi phân tích, miêu tả các 2 chủ đề, hành động ngôn ngữ cùng các biểu thức ngôn ngữ tƣơng ứng; chú trọng tới các yếu tố ngôn ngữ tăng cƣờng đƣợc sử dụng trong các biểu thức ngôn ngữ, xƣng hô. Cùng với các phƣơng pháp, luận án còn sử dụng một số thủ pháp và hƣớng nghiên cứu sau: - Thủ pháp thống kê, phân loại: Khảo sát và thống kê tần suất xuất hiện các chủ đề giao tiếp của ngƣời nông dân và các hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân tƣơng ứng với các chủ đề giao tiếp. Dựa trên kết quả thống kê, chúng tôi phân loại và hệ thống hóa, mô hình hóa để dựng lên bức tranh toàn cảnh về hoàn cảnh giao tiếp của ngƣời nông dân với sự lựa chọn vai giao tiếp; tính tần suất sử dụng các chủ đề giao tiếp, các hành động ngôn ngữ. - Thủ pháp so sánh: để thấy đƣợc sự giống và khác nhau về chủ đề giao tiếp, thói quen sử dụng hành động ngôn ngữ, lựa chọn từ ngữ … của các vai giao tiếp trong từng hoàn cảnh giao tiếp qua một số tác phẩm văn học. - Hƣớng nghiên cứu liên ngành: Đối tƣợng nghiên cứu và tƣ liệu khảo sát của luận án là các văn bản nghệ thuật, nên ngoài những tri thức ngôn ngữ học làm nền tảng, chúng tôi sử dụng các tri thức và kỹ năng của các chuyên ngành khác trong quá trình tìm hiểu nhƣ: lý luận văn học, phê bình - nghiên cứu văn học, tâm lý học, xã hội học, sử học… 4. Đối tƣợng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của ngƣời nông dân trong giao tiếp (từ tƣ liệu một số tác phẩm học), xét từ các bình diện sau: 1) Chủ đề giao tiếp và các hành động ngôn ngữ trong giao tiếp bằng lời của ngƣời của ngƣời nông dân. 2) Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong giao tiếp của ngƣời nông dân 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đặc điểm ngôn ngữ của ngƣời nông dân xét từ chủ đề giao tiếp và hành động ngôn ngữ (nghiên cứu trƣờng hợp nhóm hành động cầu khiến, khảo sát sâu hành động hỏi) cùng đặc điểm phi ngôn từ (phi lời) của họ trong giao tiếp xét từ góc độ ngôn ngữ cử chỉ trong các tác phẩm văn học qua hai giai đoạn: giai đoạn 1930 - 1945 và từ năm 1986 đến nay. Chúng tôi chọn hai giai đoạn này này bởi đây là những giai đoạn mà vấn đề ngƣời nông dân đƣợc quan tâm và phản ánh một cách rõ nét nhất so với các giai đoạn văn học khác. 3 4.3. Nguồn ngữ liệu nghiên cứu Nguồn tƣ liệu phục vụ cho luận án là một số tác phẩm văn học trong hai giai đoạn 1930 - 1945 và 1986 đến nay. Ngôn ngữ học xã hội lấy ngôn ngữ giao tiếp trong đời sống hàng ngày làm đối tƣợng nghiên cứu. Đây là điều kiện nghiên cứu lý tƣởng. Tuy nhiên, với những giai đoạn lịch sử đã diễn ra trong quá khứ, cách làm này xem ra là điều không thể. Với mục đích nghiên cứu, tái hiện đặc điểm ngôn ngữ của ngƣời nông dân trong các giai đoạn lịch sử đã qua của dân tộc, chúng tôi lựa chọn sử dụng ngữ liệu là các văn bản mà ở đây là các tác phẩm văn học. Tất nhiên, trong tác phẩm văn học, lời văn bao giờ cũng đƣợc gọt giũa và thông qua lăng kính của nhà văn. Nhƣng dù có sáng tạo nhƣ thế nào đi nữa thì lời văn ấy vẫn phải dựa trên cốt lõi của hiện thực. Và nhà văn khi tái hiện ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm của mình phải vận dụng các phƣơng tiện lời nói để tái hiện ngôn ngữ nhân vật trong tính quy định của môi trƣờng, giai cấp, xuất thân, nghề nghiệp, học vấn, tâm lí, lứa tuổi, giới tính... Điều đó cũng có nghĩa là ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học góp phần thể hiện đời sống ngôn ngữ của xã hội. “Và nhƣ vậy, qua văn học, ta có thể nghe thấy tiếng nói mọi tầng lớp ngƣời ở các thời đại khác nhau, các giọng điệu khác nhau. Bởi, văn học còn giữ lại những lời nói, từ vựng, ngữ điệu, cách nói gắn liền với văn hóa, phong tục, đời sống, tình cảm, tƣ tƣởng của một thời.”[55, 190] Hai giai đoạn văn học 1930 - 1945 và từ 1986 đến nay là những giai đoạn quan trọng và có nhiều biến cố trong lịch sử văn học và văn hóa dân tộc. Đây cũng là hai giai đoạn có nhiều thành tựu xuất sắc về đề tài nông dân, nông thôn Việt Nam. Ở một đất nƣớc với hơn 70% là nông dân và nông thôn, là nơi lƣu giữ căn bản những giá trị truyền thống và cả những tập quán lạc hậu; là nơi thử thách các chính sách của nhà nƣớc qua các thể chế; là nơi sẵn sàng nhất cho việc huy động con ngƣời tham gia vào các cuộc chiến tranh, chắc chắn đây là nơi nảy sinh nhiều nhất những vấn đề xã hội trong hơn một thế kỷ qua. Tuy nhiên, vấn đề về ngƣời nông dân ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau cũng có sự khác nhau. Với giao tiếp ngôn ngữ, những thay đổi về hoàn cảnh lịch sử, vai giao tiếp, chủ đề giao tiếp … của ngƣời nông dân trong mỗi giai đoạn tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về đặc điểm ngôn ngữ mà chúng tôi hi vọng sẽ làm rõ trong luận án này. 4 Nói cách khác, nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật ngƣời nông dân trong một số tác phẩm văn học qua các giai đoạn 1930 - 1945 và từ 1986 đến nay sẽ góp phần nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của ngƣời nông dân Việt Nam qua một số giai đoạn lịch sử. 1. Giai đoạn 1930 – 1945 1. Ngô Tất Tố - Tắt đèn (1937) 2. Nguyễn Công Hoan: Bước đường cùng (1938), Đồng hào có ma(1939) 3. Nam Cao: Chí Phèo (1941), Lão Hạc (1943), Một bữa no (1943), Trẻ con không ăn thịt chó (1942) 4. Vũ Trọng Phụng: Bà lão lòa (1931), Giông tố (1936), Vỡ đê (1936), 5. Tô Hoài: Quê người (1941) Lý do lựa chọn các tác phẩm này là vì: đây là các tác phẩm viết về ngƣời nông dân của những nhà văn tiêu biểu đƣợc đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học 1930 - 1945. Các tác phẩm này phần lớn đã đƣợc đƣa vào giảng dạy trong chƣơng trình ngữ văn phổ thông. 2. Giai đoạn từ 1986 đến nay 1. Nguyễn Minh Châu: Phiên chợ Giát (1989), Khách ở quê ra (1994) 2. Lê Lựu - Thời xa vắng (1986) 3. Nguyễn Khắc Trƣờng - Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) 4. Dƣơng Hƣớng: Bến không chồng (1990) 5. Trịnh Thanh Phong: Ma làng (2001) 6. Đào Thắng: Dòng sông Mía (2004) Các tác phẩm đƣợc lựa chọn ở trên là những tác phẩm nổi tiếng viết về ngƣời nông dân trong văn học giai đoạn từ 1986 đến nay. Đây cũng là những tác phẩm đƣợc giải thƣởng của Hội Nhà văn Việt Nam. 5. Đóng góp của luận án 5.1. Về ý nghĩa lí luận Vận dụng lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ (lý thuyết hội thoại, vai giao tiếp, hành động ngôn ngữ,...) để khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của các ngƣời nông dân trong các tác phẩm văn học Việt Nam qua hai giai đoạn 1930 - 1945 và 1986 đến nay xét từ chủ đề giao tiếp và hành động ngôn ngữ, luận án góp phần giải quyết những vấn đề về giao tiếp tiếng Việt nói chung và giao tiếp của một nhóm đối tƣợng (ngƣời nông dân) nói riêng dƣới tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ 5 (chủ đề, hành động ngôn ngữ trong giao tiếp) của ngƣời nông, luận án góp phần vào nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nhóm đối tƣợng, một hƣớng nghiên cứu liên ngành của ngôn ngữ học hiện đại. 5.2. Về ý nghĩa thực tiễn Luận án góp phần vào việc nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt dƣới tác động của quan hệ giao tiếp. Thông qua việc tìm hiểu vai giao tiếp trong giao tiếp trên các phƣơng diện chủ đề, hành động ngôn ngữ, để thấy đƣợc sự biến đổi trong lối ứng xử văn hóa - ngôn ngữ và làm nên đặc điểm ngôn ngữ của nhóm đối tƣợng (ngƣời nông dân). Từ đó luận án cũng sẽ góp phần tìm hiểu văn hóa của ngƣời Việt thông qua giao tiếp, đối chiếu giao tiếp của ngƣời Việt trong quá khứ với hiện tại, cũng nhƣ góp phần phục vụ công tác học tập, giảng dạy những tác phẩm văn học viết về ngƣời nông dân Việt Nam, góp phần nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm. 6. Cấu trúc của luận án Luận án, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đƣợc chia làm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chƣơng này đƣợc chia thành hai phần. Phần một là Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án. Sau khi trình bày tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án trong nƣớc và trên thế giới, điểm qua những vấn đề đã làm và chƣa làm đƣợc, luận án chỉ ra rằng việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án là cần thiết, góp phần nghiên cứu về ngôn ngữ của một nhóm đối tƣợng nông dân, theo lý thuyết phân tầng xã hội của ngôn ngữ học. Phần hai trình bày cơ sở lý thuyết của luận án về giao tiếp ngôn ngữ, hành động ngôn ngữ… để làm cơ sở cho sự triển khai luận án. Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BẰNG LỜI TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƢỜI NÔNG DÂN: CHỦ ĐỀ GIAO TIẾP VÀ HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ Chƣơng này, thông qua tƣ liệu khảo sát, đƣa ra một bức tranh tổng quát về chủ đề giao tiếp và các hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân ở hai thời kì của xã hội Việt Nam; chỉ ra mức độ sử dụng các chủ đề giao tiếp và các hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân. Sau khi có khảo sát cụ thể sẽ chọn một hành động ngôn ngữ điển hình (tức là xuất hiện ở mức độ cao) để khảo sát: chỉ ra các biểu thức ngôn ngữ và đặc điểm ngôn từ sử dụng của các biểu thức ngôn ngữ đó trong các hành hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân. 6 Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ PHI LỜI CỦA NGƢỜI NÔNG DÂN TRONG GIAO TIẾP: NGÔN NGỮ CỬ CHỈ Chƣơng này tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ phi lời của ngƣời nông dân trong đó tập trung vào khảo sát ngôn ngữ miêu tả cử chỉ (dùng ngôn ngữ có lời để miêu tả các cử chỉ; tuy nhiên, để cho gọn, luận án này gọi là “ ngôn ngữ cử chỉ”) . Các ngôn ngữ cử chỉ này đƣợc khảo sát và nghiên cứu theo hƣớng phân thành hai loại: một là phân loại theo chức năng và hai là phân loại theo bộ phận thực hiện. Từ đó, chúng tôi nhóm các phƣơng tiện ngôn ngữ cử chỉ của ngƣời nông dân theo các ý nghĩa biểu hiện và chỉ ra vai trò của chúng trong giao tiếp của ngƣời nông dân. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1.1 Tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ 1.1.1.1. Trên thế giới Lý thuyết về hành động ngôn ngữ đƣợc xem là một trong những lý thuyết xƣơng sống của ngữ dụng học. Ngƣời khởi xƣớng cho lý thuyết về hành động ngôn ngữ (speech act) chính là J.L. Austin với công trình “How do to thing with word”. Kể từ đó đến nay, lý thuyết về hành động ngôn ngữ ngày càng đƣợc nghiên cứu đầy đủ các vấn đề: các hành động ngôn ngữ; hiệu lực ở lời; phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi; hành động ở lời trực tiếp và gián tiếp… với sự đóng góp của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới trong nhiều năm qua. J. Austin là ngƣời có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết hành động ngôn từ (HĐNT) với ba bƣớc cơ bản: 1) Phân biệt câu nhận định và câu ngôn hành; 2) Khẳng định mọi câu đều mang tính chất hành động và đƣa ra giả thuyết ngôn hành; 3) Công nhận thất bại của giả thuyết ngôn hành, khẳng định rằng khi thực hiện mỗi HĐNT là ta thực hiện đồng thời ba hành động: tạo lời (locutionary act), tại lời (illocutionary act), mượn lời (perlocutionary act). Lý thuyết này là sự bổ sung căn bản và cần thiết cho lý luận của một ngành khoa học chân chính mà trƣớc đó chỉ công nhận đối tƣợng là ngôn ngữ, chƣa nghiên cứu lời nói – sự biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày – với tƣ cách một đối tƣợng đích thực. J. Searle là ngƣời kế thừa và phát triển lý thuyết HĐNT của Austin. Searle đã khắc phục những điểm bất nhất của Austin để đƣa ra 12 quan điểm khác biệt, quy chiếu thành bốn tiêu chí và xác lập đƣợc năm nhóm hành động ngôn ngữ lớn. Với từng nhóm hành động ngôn ngữ, tác giả đã nêu những đặc trƣng của nhóm và quy định giữa ngƣời nói (Sp1) và ngƣời nghe (Sp2) thực hiện một việc nào đó trong tƣơng lai. Điều này đã gián tiếp khẳng định sự có mặt của năm nhóm hành động ngôn ngữ đó là sự khẳng định cƣơng vị - vai giao tiếp giữa Sp1 và Sp2. Theo đó, các mức độ của quyền lực và thân hữu trên thang độ quan hệ đƣợc thiết lập từ quyền lực tuyệt đối đến thân hữu tuyệt đối. Ứng với các mức độ này là các hành động ngôn ngữ khác nhau. Cách phân loại của J.Searle đƣợc nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ, bởi các nhóm hành động lớn đƣợc phân loại rõ ràng dựa trên những căn cứ xác đáng, từ đó, việc xác 8 lập các hành động tránh bị chồng chéo và có thể tiếp tục phân chia hành động ngôn ngữ thành các nhóm nhỏ hơn. Kế tục công việc phân loại hành động ngôn ngữ của J. Austin, J. Searle còn rất nhiều nhà nghiên cứu nhƣ A. Wierzbicka, D. Wunderlich, F. Recanati, K. Bach và R.M. Hanish, K. Allan... 1.1.1.2 Ở Việt Nam Khi chuyển sang tiếng Việt, trong quá trình chuyển ngữ, thuật ngữ “Speech Acts” đƣợc gọi theo nhiều cách khác nhau nhƣ: hành vi ngôn ngữ, hành vi nói năng, hành động ngôn từ, hành động nói, v.v. trong luận án này chúng tôi sử dụng cách gọi “ hành động ngôn ngữ”. Tác giả Đỗ Hữu Châu là ngƣời dành nhiều tâm huyết cho vấn đề hành động ngôn từ (HĐNT) (tác giả dùng thuật ngữ “hành vi ngôn từ”). Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Khi chúng ta nói năng là khi chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người) Sp2 trong ngữ cảnh C” [8, 88]. Sau khi định nghĩa HĐNT, tác giả trình bày khá kỹ lƣỡng về “phát ngôn ngữ vi”, “biểu thức ngữ vi”, “động từ ngữ vi”, về biểu thức ngôn hành nguyên cấp và tƣờng minh, về giả thuyết ngôn hành cũng nhƣ sự thất bại của giả thuyết này. Tác giả cũng đã phân tích khá kỹ lƣỡng các dấu hiệu ngôn hành. Đặc biệt, khi giới thiệu động từ ngữ vi – một trong những dấu hiệu quan trọng nhất, tác giả đã chia động từ nói năng thành 3 loại: động từ vừa có thể dùng với chức năng ngôn hành vừa có thể dùng với chức năng miêu tả; động từ chỉ đƣợc dùng với chức năng miêu tả và động từ chỉ đƣợc dùng trong hiệu lực ngôn hành. Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng: “Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ… Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn.” [19, 337 - 338]. Tác giả Nguyễn Đức Dân, ngoài những nội dung giới thiệu quan điểm của Austin, Searle đã chỉ ra những hiện tƣợng mơ hồ giữa động từ ngữ vi và động từ trần trần thuật, giữa câu ngữ vi và câu trần thuật từ đó đề xuất một số cách phân biệt hai loại câu này.Về dấu hiệu ngôn hành, tác giả nhấn mạnh: “ngoài động từ ngữ vi còn có những dấu hiệu ngữ vi khác nữa. Đó là những cấu trúc ngữ pháp và những từ ngữ có 9 quan hệ logic – ngữ nghĩa nhất định”, đồng thời cũng chỉ ra con đƣờng hình thành của những dấu hiệu này. [12, 50]. Tác giả Nguyễn Văn Độ khi nghiên cứu hành động thỉnh cầu ( đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt) đã chỉ ra những thói quen thực hiện hành động và những đặc điểm cơ bản của các hành động này. Những đặc điểm có đƣợc thông qua sự đối chiếu giữa các ngôn ngữ chính là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. Tác giả khẳng định: “... văn hóa quy định sự phát triển và đồng thời là cội nguồn của các đặc trưng ngôn ngữ (cả trên hai phương diện: cấu tạo và sử dụng) thông qua hành động thỉnh cầu” [16, 120]. Kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa hành động ngôn từ và vai giao tiếp, các nhà nghiên cứu ở việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này. Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các hƣớng sau: Thứ nhất, nghiên cứu cấu trúc, ngữ nghĩa và mối quan hệ của các hành động ngôn ngữ, trong đó có việc thể hiện vai giao tiếp. Theo hƣớng này, có thể kể đến các tác giả với các công trình nghiên cứu nhƣ: Chu Thị Thanh Tâm (1995) với “Hành vi mời và đoạn thoại mời” [76, 47-52] trên cứ liệu tiếng Việt, đã bƣớc đầu nhận diện đoạn thoại mời và phân loại những đoạn thoại mời đó dựa vào 3 tiêu chí: tiêu chí tình huống giao tiếp, tiêu chí hiệu quả, tiêu chí tổ chức của đoạn thoại mời. Nguyễn Thị Lƣơng với bài viết: Các hình thức cảm ơn trực tiếp của người Việt [54, 14-24] đã giới thiệu một cách khái quát các hình thức cảm ơn trực tiếp của ngƣời Việt về phƣơng diện ngữ pháp - ngữ nghĩa, từ mô hình cấu trúc, cấu tạo, vị trí, chức năng ngữ pháp cho đến ý nghĩa của từng thành phần trong mỗi kiểu cảm ơn. Tác giả Đào Thanh Lan với một loạt các công trình: “Phân tích sắc thái nghĩa cầu khiến của các động từ: ra lệnh, cấm, cho phép, yêu cầu, đề nghị, khuyên, mời, chúc, xin trong câu tiếng Việt” (2004) [46], “Nhận diện hành động nài nỉ trong tiếng Việt” [48], đặc biệt trong công trình “Về việc phân loại hành động cầu khiến tiếng Việt” (2011)[50], tác giả khi phân loại các hành động cầu khiến dựa vào ý nghĩa (lực ngôn trung). Công trình đƣợc đánh giá có giá trị khoa học cao khi phân loại đƣợc 18 hành động cầu khiến dựa vào lực ngôn trung và hình thức biểu hiện. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huệ đã đƣa ra các mô hình tổng quát của hành vi nịnh trong tiếng Việt [33, 25-29]. Nguyễn Thị Thanh Ngân quan tâm đến Vai trò của yếu tố xin trong câu ngôn hành tiếng Việt [62, 65-70]. Ngoài ra còn có: Khuất Thị Lan (2014), “Hành vi hỏi trong giao tiếp vợ chồng nông dân người Việt giai đoạn 1930-1945 (qua ngữ liệu tác phẩm văn học 1930- 10 1945); Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2017), Hành động cầu khiến của các vai giao tiếp của người lính Cụ Hồ trong giao tiếp chính thức Thứ hai, nghiên cứu hành động ngôn từ gắn với các vai giao tiếp cụ thể trong quan hệ gia đình và xã hội. Bài viết Bước đầu tìm hiểu các hành vi giao tiếp mở đầu tương tác bác sĩ - bệnh nhân của Thanh Hƣơng [36, 6-13] đã làm sáng tỏ sự chi phối của quan hệ vai đối với cấu trúc của hội thoại trên cơ sở khảo sát các phƣơng thức biểu hiện và cơ chế sản sinh của phần mở đầu đối thoại bác sĩ - bệnh nhân. Hành vi khen trong hội thoại dạy học (khảo sát ở bậc THCS) [61, 50 - 61] của Nguyễn Thị Hồng Ngân đề cập đến một hành vi ứng xử trong mối quan hệ tƣơng tác giữa giáo viên và học sinh. Thông qua việc nghiên cứu hành vi khen từ đặc điểm, kiểu loại đến vai trò của nó đối với tâm lí lứa tuổi và quá trình nhận thức của học sinh, tác giả kết luận: “hành vi khen trong hội thoại dạy học ở THCS mang tính đơn chiều, có nghĩa là chỉ có hành vi khen từ vai giao tiếp cao của giáo viên dành cho vai giao tiếp thấp hơn là học sinh. Điều đó cho thấy tính quy thức của giao tiếp sƣ phạm”. Nguyễn Thị Thanh Ngân với Hình thành thói quen cầu khiến chuẩn mực cho trẻ mẫu giáo [64, 27-32] đã chỉ ra các biện pháp giúp trẻ hình thành những phát ngôn cầu khiến phù hợp dựa vào một trong năm điều kiện thành công là “cần quan tâm cƣơng vị của ngƣời nói trong thế đối sánh với ngƣời nghe. Cƣơng vị ở đây đƣợc xem xét trên các nhân tố nhƣ vị thế xã hội (chức tƣớc), nghề nghiệp, quan hệ họ hàng, đặc biệt là tuổi tác…”. Đặc biệt, tác giả Lƣơng Thị Hiền trong công trình “Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong giao tiếp hành chính tiếng Việt” đã nhận định: “Các hành động ngôn ngữ chỉ xuất hiện trong một quan hệ giao tiếp nhất định, tương quan một chiều (người dưới với người trên; hoặc người trên với người dưới) có thể coi là “hằng số” của trường giao tiếp. Nó cho thấy bản chất hay “bản sắc” của những quan hệ bất bình đẳng về quyền lực. Trong một số trường hợp khi chủ thể giao tiếp thực hiện hành động ngôn ngữ nào đó là ngay lập tức quyền lực (cả thân hữu) của chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp được xác lập” [28].Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu cụ thể các phƣơng tiện (trong đó có hành động ngôn ngữ) biểu thị quyền lực ở phạm vi giao tiếp hành chính. Các hành động ngôn ngữ đƣợc tác giả phân tích khá sâu, thể hiện rõ quan hệ của vai trên - vai dƣới. Ngoài ra, có thể nhắc đến một số tác giả với công trình liên quan nhƣ: Trần Thị Kim Hằng (2011) [26], “Văn hóa ứng xử của người Việt và người Anh: những cặp 11 thoại phổ biến (khen và hồi đáp khen)”, Nguyễn Thị Thanh Ngân (2011) “Hành động giao và phân công trong tiếng Việt”, Phạm Thị Hà (2013) “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen”; [23]… Ngoài quan hệ xã hội, nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong quan hệ gia đình cũng là nội dung đƣợc quan tâm nghiên cứu. Tác giả Bùi Minh Yến đã có một loạt các bài nghiên cứu cụ thể về xƣng hô giữa những ngƣời thân trong gia đình nhƣ: Xưng hô giữa vợ chồng trong gia đình người Việt, Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt, Xưng hô giữa ông bà và cháu trong gia đình người Việt. Đặc biệt, với công trình nghiên cứu tổng quát Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt [83], tác giả đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu cụ thể trƣớc đó. Từ các nghiên cứu của mình, tác giả kết luận: “Xƣng hô trong gia đình bị chi phối tuyệt đối bởi nguyên tắc tôn ti, thứ bậc (giữa các thành viên cùng thế hệ và giữa các thành viên khác thế hệ) và các phép ứng xử gắn liền với những phong tục, tập quán gia đình, dòng họ Việt... cùng các quy ƣớc chuẩn mực xã hội đối với các thành viên trong gia đình” [83, 193-194]. Lã Thị Thanh Mai [57] đã tìm hiểu Đặc điểm xưng hô vợ và chồng trong tiếng Hàn (có liên hệ với tiếng Việt) và kết luận: “xƣng hô giữa vợ chồng trong gia đình ngƣời Hàn và ngƣời Việt có nhiều điểm tƣơng đồng hơn là những điểm khác biệt… Cách xƣng hô của ngƣời Hàn và ngƣời Việt đều bị chi phối bởi những quy định về đạo đức, về chuẩn mực ứng xử xã hội…, bởi cung bậc tình cảm, thái độ giao tiếp của họ trong từng hoàn cảnh cụ thể”. Bài viết Giá trị văn hóa-quyền lực được đánh dấu qua hành động cầu khiến trong giao tiếp gia đình người Việt [27,66-74] của tác giả Lƣơng Thị Hiền thông qua việc xác lập các quan hệ quyền lực trong giao tiếp gia đình, tìm hiểu mối quan hệ giữa hành động cầu khiến và quan hệ quyền lực, cấu trúc mệnh đề chính và quan hệ quyền lực, thành phần điều biến lực ngôn trung và quan hệ quyền lực, đã đi đến kết luận: “Ngay cả trong giao tiếp gia đình, thiên hướng thân mật, suồng sã lấn át áp lực quyền lực thì tính chất bất bình đẳng vẫn thể hiện rất rõ ràng…Điểm chủ chốt trong tương quan quyền lực vẫn là tính tôn ti thứ bậc và sự bình đẳng như sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng thực chất chỉ ở mức quan niệm và lí thuyết”. Tác giả cũng khẳng định: “Quyền lực luôn luôn là những tham biến văn hóa đặc thù và điển hình, tạo nên sự khác biệt trong việc lựa chọn các thành phần trong cấu trúc lời cầu khiến của các chủ thể giao tiếp ở người Việt”. Đây có thể đƣợc xem là nghiên cứu sâu sắc về việc sử dụng 12 hành động cầu khiến thể hiện quan hệ của vai trên-vai dƣới trong giao tiếp gia đình ngƣời Việt. Ngoài ra còn có Khuất Thị Lan (2015) [50], Giao tiếp vợ chồng trong gia đình người Việt giai đoạn 1930 - 1945 (Qua tư liệu tác phẩm văn học)... Nhƣ vậy, có thể thấy, hành động ngôn ngữ là vấn đề đƣợc quan tâm nghiên cứu ở nhiều phƣơng diện khác nhau: từ cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa; từ phƣơng diện gia đình và xã hội đến việc góp phần thể hiện chiều sâu văn hóa dân tộc; từ tƣ liệu giao tiếp đời thƣờng đến tƣ liệu trên văn bản; … là nội dung đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chƣa có công trình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của ngƣời nông dân Việt Nam, từ góc độ vai giao tiếp và chủ đề giao tiếp. 1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sự phân tầng xã hội với việc sử dụng ngôn ngữ Phân tầng đƣợc coi là một hiện tƣợng xã hội của loài ngƣời, đƣợc thể hiện rất đa dạng ở các quốc gia, khu vực và những nền văn hóa khác nhau. “Phân tầng xã hội” là sự phân chia nhỏ xã hội thành các tầng lớp khác nhau về địa vị kinh tế, địa vị chính trị, học vấn, nơi cƣ trú, cách ứng xử, phong cách sinh hoạt,... Khái niệm này dùng để chỉ sự phân chia các cá nhân hay các nhóm xã hội thành các tầng lớp khác nhau. Trong mỗi tầng xã hội đó lại bao gồm các cá nhân, các nhóm xã hội có sự giống nhau về địa vị kinh tế, chính trị, uy tín. Ngôn ngữ học xã hội sử dụng khái niệm phân tầng xã hội vào nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học xã hội cho rằng: “Ngôn ngữ có vai trò là tấm gƣơng phản chiếu xã hội, là thƣớc đo bản sắc, là chỉ tố về sự ứng xử văn hóa của cộng đồng giao tiếp và của mỗi cá nhân. Vì thế, ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp chịu sự chi phối của phân tầng xã hội. Nói cách khác, nếu có sự phân chia con ngƣời trong xã hội thành các tầng bậc khác nhau thì kéo theo đó, cũng có những đặc trƣng khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các nhóm ngƣời thuộc các tầng xã hội riêng biệt”.[41] 1.1.2.1. Trên thế giới Xuất phát từ phƣơng Tây, ngôn ngữ học xã hội cho rằng, các tầng lớp xã hội khác nhau sẽ có kiểu giao tiếp khác nhau tƣơng ứng với giai tầng của mình, theo đó, con ngƣời thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau sẽ có cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau. Đồng thời xã hội có bao nhiêu nhóm xã hội thì có bấy nhiêu phƣơng ngữ xã hội. Nhóm xã hội lại đƣợc phân chia theo tầng lớp xã hội tạo nên sự phân tầng xã hội. Ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp chịu sự chi phối của phân tầng xã hội. Nghĩa là, nếu có sự phân chia con ngƣời trong xã hội thành các tầng bậc khác nhau thì kéo theo đó, 13 cũng có những đặc trƣng khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các nhóm ngƣời thuộc các tầng xã hội riêng biệt. Vì thế, "Sự hình thành phương ngữ xã hội có liên quan chặt chẽ đến thuộc tính xã hội của người giao tiếp. Mỗi thành viên trong xã hội sẽ được xếp vào các giai tầng xã hội khác nhau trên cơ sở hàng loạt các tiêu chí như: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, trình độ văn hóa… Các đặc điểm về giai tầng xã hội có tác động trực tiếp và tạo nên các đặc điểm về ngôn ngữ trong sử dụng” [41, 205]. Điều này cho thấy giao tiếp của con ngƣời chịu tác động của các nhân tố xã hội có đƣợc từ đặc điểm quy gán nhƣ tuổi, giới và từ đặc điểm có đƣợc nhờ năng lực, sự cố gắng của bản thân nhƣ học vấn, địa vị, thu nhập, giáo dục,... Tổng hợp lại, đó là sự phân tầng theo tuổi, giới, quyền lực, nghề nghiệp, học vấn, thu nhập, vùng miền, tôn giáo,v.v. Vấn đề phân tầng xã hội trong ngôn ngữ đƣợc các nhà xã hội học tiếp cận từ khá sớm, các công trình nghiên cứu đầu tiên là của Fischer (1958), Kucera (1961) và thực sự đƣợc đi sâu tìm hiểu vào những năm 60 của thế kỉ XX bởi các nhà ngôn ngữ học xã hội hàng đầu nhƣ Labov, Wolfram,Anshen,… Trong tác phẩm mang tên “Nghiên cứu ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội” (1972), dẫn theo cuốn “Ngôn ngữ văn hóa và xã hội, một cách tiếp cận liên ngành” [38], Labov đã đƣa ra một số kết luận về sự phân tầng xã hội trong cách phát âm của âm vị /th/ trong các từ “thing, there,…” của ngƣời dân thành phố New York thuộc bốn giai tầng kinh tế - xã hội khác nhau: giai tầng thấp, giai tầng công nhân, giai tầng trung lƣu thấp và giai tầng trung lƣu cao. Labov cũng nghiên cứu cách đọc câu và đọc bảng từ theo học vấn và giới tính ở Hillsboro, Bắc California. Qua việc đƣa ra các kết quả nghiên cứu này, Labov rút ra một số nhận xét thú vị liên quan tới sự chuyển đổi phong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các nhóm xã hội mà ông đã tìm hiểu và rút ra các công thức liên quan tới liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ trong các nhóm xã hội để từ đó thấy đƣợc quan điểm chung, điểm mang tính quy luật trong cùng một nhóm ngƣời, một cộng đồng ngƣời cũng nhƣ qua đó thấy sự khác nhau giữa các nhóm, các cộng đồng riêng biệt. Phân nhóm xã hội theo giới cũng là một cách thức quen thuộc khi nghiên cứu các vấn đề xã hội nói chung và ngôn ngữ nói riêng. Tác phẩm nghiên cứu chính thức đầu tiên về sử dụng ngôn ngữ giữa nam và nữ có lẽ là nghiên cứu của Sapir với tựa đề “Male and female forms of speech in Yana” (Phong cách nói của nam và nữ trong tiếng Yana) nghiên cứu sự khác nhau khi dùng một số biến thể âm vị luân phiên trong tiếng Yana giữa nam giới và nữ giới [Dẫn theo 14]. 14
- Xem thêm -