Tài liệu đặc điểm điều kiện tự nhiên, dân số, lao động và truyền thống quảng nam

  • Số trang: 63 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 275 |
  • Lượt tải: 0
hosomat

Tham gia: 10/08/2016

Mô tả:

Bài 1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SỐ, LAO ĐỘNG VÀ TRUYỀN THỐNG QUẢNG NAM I.Đặc điểm điều kiện tự nhiên, dân số, lao động 1.Điều kiện tự nhiên a.Vị trí địa lý Quảng Nam là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, nằm ở trung độ cả nước, có tọa độ địa lý từ 14057’10’’ đến 16o03’50” vĩ độ bắc, từ 107o12’40” đến 108o44’20” kinh độ đông. Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây giáp tỉnh Xê Kông (Lào) và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp Biển Đông. Tỉnh Quảng Nam có 02 thành phố và 16 huyện, với 244 đơn vị hành chính cấp xã (210 xã, 20 phường và 14 thị trấn). 02 thành phố, gồm Tam Kỳ và Hội An; 07 huyện trung du, đồng bằng, gồm Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Núi Thành và Phú Ninh; 09 huyện miền núi, gồm Hiệp Đức, Tiên Phước, Phước Sơn, Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang, Bắc Trà My, Nam Trà My và Nông Sơn. Tổng diện tích tự nhiên tỉnh Quảng Nam là 1.040.837,6 ha, chiếm 3,16% tổng diện tích tự nhiên cả nước; trong đó diện tích vùng núi là 8.743,57 km 2, chiếm 84,01% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; diện tích vùng trung du là 294,08 km 2, chiếm 2,83% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; diện tích vùng đồng bằng là 1.369,82 km 2, chiếm 13,16% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Ðiểm cao nhất là núi Ngọc Linh cao 2.598 m, điểm thấp nhất là 0 m; độ cao trung bình là 50 m so với mặt nước biển. Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt trên 42%; trữ lượng gỗ đạt khoảng 30 triệu m3. Diện tích rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha. Rừng giàu ở Quảng Nam hiện có khoảng 10 nghìn ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ khoảng 69 m3/ha. - Bờ biển Quảng Nam chạy dài từ Điện Ngọc (giáp Đà Nẵng) đến vịnh Dung Quất (Quảng Ngãi) dài trên 125km, có 3 cửa biển thông ra bên ngoài (cửa Đại, cửa Lở, cửa An Hòa) và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn hơn 40.000 km 2, hình thành nhiều ngư trường với nguồn lợi hải sản ước khoảng 90 ngàn tấn, khả năng cho phép khai thác hàng năm từ 42-45 ngàn tấn, với 30% sản lượng có thể đưa vào chế biến xuất khẩu. Lực lượng lao động ngành khai thác thủy sản dồi dào với hơn 25.000 người. Quảng Nam nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Miền Trung, (phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía nam giáp khu kinh tế Dung Quất, có sân bay (Chu Lai), cảng biển (Kỳ Hà), đường Xuyên Á nên rất thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội và có tầm quan trọng trong quốc phòng, an ninh. Quảng Nam có 2 di sản văn hóa thế giới (phố cổ Hội An, khu di tích Mỹ Sơn), khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, khu bao tồn thiên nhiên Sông Thanh và trên 260 di tích văn hóa, lịch sử, trong đó có gần 20 di tích 1 xếp hạng cấp quốc gia. Đặc biệt, bờ biển kéo dài với nhiều bãi tắm đẹp lý tưởng như Hà My (huyện Điện Bàn), Cửa Đại (thành phố Hội An), Bình Minh (huyện Thăng Bình), Tam Thanh (thành phố Tam Kỳ), Kỳ Hà, Bãi Rạng (huyện Núi Thành)... Hầu hết các bãi tắm ở Quảng Nam đều có bãi cát trắng, mực nước nông, có độ mặn vừa phải và quanh năm trong xanh. b.Địa hình, địa chất Quảng Nam có dải đồng bằng hẹp với độ cao trung bình từ 8 đến 10m, những nơi thấp nhất khoảng 2m so với mặt biển. Nhìn toàn bộ địa hình, ta thấy độ nghiêng theo hướng tây – đông. Địa hình Quảng Nam đa dạng, có đủ các vùng thượng du trùng điệp núi non, trung du với đồi gò và thung lũng nối tiếp, xen kẽ nhau, đồng bằng và vùng cồn bãi cát ven biển. Ở phía tây, rừng núi và đồi gò tập trung ở các huyện miền núi của tỉnh: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước và Hiệp Đức. Địa hình phức tạp, mức độ chia cắt mạnh, có hình dạng lượn sóng. Độ cao trung bình từ 700 m - 800 m, độ dốc lớn 25 - 300, có nơi trên 450, hướng thấp dần từ tây sang đông. Vùng đồi gò Quảng Nam nằm chuyển tiếp giữa vùng núi phía tây và vùng đồng bằng ven biển, độ cao trung bình từ 100-200 m, độ dốc trung bình 15 - 20 0, địa hình đặc trưng có dạng bát úp và lượn sóng, mức độ chia cắt trung bình. Vùng trung du với độ cao trung bình 100 m, địa hình đồi bát úp xen kẽ các dải đồng bằng, thuộc phía tây của các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn... Hầu hết diện tích này được khai phá khá sớm, biến thành những vườn trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả nối tiếp từ sườn đồi này sang sườn đồi khác, còn ruộng lúa trải dọc theo các thung lũng. Vùng đồng bằng Quảng Nam có địa hình tương đối bằng phẳng, nhiều nơi xen lẫn các vùng gò đồi thấp. Thổ nhưỡng chủ yếu ở đây là đất phù sa được bồi hàng năm và tương đối phì nhiêu ở miền Trung, trong đó một diện tích đáng kể đã được khai thác sớm từ thời Chămpa, trước khi có người Việt đến định cư. Theo Lê Bá Thảo, "đồng bằng Quảng Nam – Đà Nẵng là một vụng biển cũ (trong thực tế là một đới địa máng cũ) cắm sâu vào giữa hai khối núi Hải Vân và Ngọc Linh như một cái nêm lớn. Sau khi nước biến rút, do vận động nâng lên của Trường Sơn Nam, sông Thu Bồn và các nhánh của nó đã bồi nên một vùng đất rộng 540 km 2, diện tích này bao gồm cả vùng cửa sông Hội An, nằm dịch về phía biển. Đồng bằng này thu hẹp lại ở huyện Thăng Bình rồi mở rộng ra – tuy 2 vẫn giữ dạng một dải đất phù sa chạy dọc sông Tam Kỳ - ở đồng bằng cũng mang tên ấy rộng 510 km2"1. Đồng bằng Quảng Nam là vùng tập trung sớm nhất và đông nhất qua nhiều thế kỷ. Nhưng do phương thức canh tác lạc hậu lại trải qua nhiều thập niên chiến tranh tàn phá, nên nhiều nơi trở thành đất bạc màu, năng suất cây trồng thấp. Từ sau ngày giải phóng (3-1975), công tác thủy lợi và thâm canh, cải tạo đất được chú ý, do đó hiệu quả năng suất cây trồng và hoa lợi đem lại tương đối cao. Dọc theo duyên hải là những cồn cát, bãi cát trắng, phía bên trong những dải cồn rộng lớn này bao giờ cũng có những đầm hồ dài và hẹp, nguyên là di tích những vụng biển cũ. Rìa phía sau những dải cồn cát từ cửa Đại đi về phía nam, những đầm hồ được cải tạo và nối lại thành con đường giao thông thủy nội địa. Mặc dù là dải đất nằm một bên là sông, một bên là biển, mà chủ yếu là đất cát, nhưng nhờ những bàu, hồ và sông, nên người dân đến định cư, tạo dựng nên những làng mạc đông đúc, đặc biệt là những làng chài lưới, đánh cá vừa ở sông, vửa ở biển và nuôi trồng thủy hải sản. Theo thống kê năm 2010, tỉnh Quảng Nam có diện tích đất nông nghiệp là 111.187,8 ha (chiếm 10,65% diện tích đất tự nhiên), bao gồm: đất trồng cây hàng năm 86.590,2 ha, đất trồng cây lâu năm 24.597,5 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7.000 ha; đất lâm nghiệp 537.618,6 ha (chiếm 51,5% diện tích tự nhiên), đất đồi núi chưa sử dụng gần 286.000 ha, đất bằng chưa sử dụng hơn 20.000 ha. Đây là tiềm năng quan trọng để phát triển kinh tế vùng gắn với quản lý và khai thác lợi thế về đất đai là giải pháp căn bản đối với một tỉnh nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao. Các quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh đã mang lại cho tỉnh Quảng Nam nguồn tài nguyên khá đa dạng và phong phú, đã phát hiện 186 mỏ và điểm khoáng của gần 45 loại khoáng sản. Trong đó, khoáng sản tiềm năng và giá trị đáng kể là than đá, vàng, uran, fenspat, kaolin, cát thủy tinh, titan, khoáng sản làm vật liệu xây dựng, nước khoáng – nước nóng... nhưng trữ lượng của từng loại khoáng sản không lớn, nên việc khai thác không đem lại hiệu quả kinh tế cao. c. Khí hậu, thủy văn Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình hàng năm 25,7oC, nhiệt độ cao nhất 39,5oC, nhiệt độ thấp nhất là 10oC. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.850 mm, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm. Độ ẩm không khí trung bình 86%, cao nhất là 92% (tháng 11 và tháng 12), thấp 1 Lê Bá Thảo, Thiên nhiên Việt Nam, Nxb. Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1990, tr.227. 3 nhất là 68% (từ tháng 4 đến tháng 7). Lượng bốc hơi hàng năm từ 600 mm đến 1.000 mm, cao nhất vào các tháng 5, 6, 7. Hướng gió thịnh hành, về mùa đông theo hướng tây bắc, đông bắc và bắc; về mùa hè theo hướng tây nam (gió Lào). Bão thường xuất hiện vào tháng 9-12, tốc độ gió có khi đạt trên 30m/s. Ở Quảng Nam, số liệu quan trắc được trong vòng 40 năm gần đây, có 76 cơn bão hoạt động và đi qua địa bàn tỉnh, trung bình có 2 cơn/năm. Mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lụt ở các vùng ven sông. Lũ lụt thường xuất hiện vào tháng 9, 10, 11 và thường kèm theo các đợt gió mùa đông bắc. Sông suối Quảng Nam phát nguyên từ vùng rừng núi phía tây, chảy qua vùng đồi trung du và đồng bằng rồi đổ ra biển Đông. Do núi gần biển, nên hầu hết các dòng sông đều ngắn, có độ dốc lớn, có nhiều thác ghềnh, lòng sông tương đối hẹp và thường quanh co uốn khúc. Lưu vực các sông tương đối rộng, có dạng hình nan quạt; các sông nhánh có dạng hình cành cây, nên khả năng tập trung dòng chảy lớn, với độ dốc cao, thường gây nên lũ lụt nhanh và mạnh. Nước sông chỉ đục vào mùa mưa lũ, sau đó thì trở lại trong, nhất là vào mùa khô; điều này chứng tỏ nghèo phù sa. Hệ thống sông ngòi khá dày, tạo nên một mạng lưới giao thông thủy nội địa cả hai chiều đông – tây và cả bắc – nam. Tỉnh Quảng Nam là tỉnh duy nhất ở miền Trung có thể đi thuyền từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh bằng đường thủy nội địa qua sông Hàn, sông Vĩnh Điện, sông Thu Bồn, sông Trường Giang đến vũng An Hòa, ngược lên thị trấn An Tân, hoặc ra cửa Kỳ Hà đến Dung Quất (Quảng Ngãi). Sông suối cũng đã được người dân khai thác, biến thành nguồn lợi có hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp. Sông ngòi Quảng Nam có tổng chiều dài trên 900 km, bao gồm 3 hệ thống sông chính là Thu Bồn - Vu Gia, Tam Kỳ và Trường Giang với hàng chục nhánh sông khác nhau. -Hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia gồm 78 sông có chiều dài từ 10 km trở lên, là con sông lớn của tỉnh, đổ ra cửa Đại và cửa Hàn (Đà Nẵng). Tổng chiều dài của sông từ nguồn ra đến cửa biển khoảng 200 km, diện tích lưu vực 8.850 km2, lưu lượng bình quân 232 m3/s. -Hệ thống sông Tam Kỳ bắt nguồn từ các dãy núi phía tây đổ ra cửa Lỡ và cửa An Hòa (cửa Đại Áp cũ). Diện tích lưu vực 1.040 km 2, lưu lượng đỉnh lũ của dòng chính là 4.000 - 5.000 m3/s. -Hệ thống sông Trường Giang là sông không có đầu nguồn, chảy song song theo bờ biển nối của Đại ở phía bắc và cửa An Hòa ở 4 phía nam, được ngăn cách với biển bởi dải cồn cát rộng lớn, tạo nên con đường giao thông thủy nội địa cho ghe thuyền đi lại. Trong hệ thống các con sông xứ Quảng thì dòng sông Thu Bồn được coi là động mạch chủ, nối liền hai miền xuôi ngược tây – đông và đoạn Trường Giang ở gần cuối dòng là gạch nối kết liền cả hai chiều vận chuyển bắc – nam, tạo nên một bản đồ giao thông thủy nội địa rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các vùng trong tỉnh. Ngoài hệ thống sông Thu Bồn, các con sông trong tỉnh đều ngắn, vì núi gần biển, dải đất đồng bằng hẹp, địa hình dốc. Về mùa mưa, nước từ phía đông dãy Trường Sơn đổ dồn về với cường độ cao, do đó thường gây ngập lụt lớn, làm thiệt hại mùa màng, đường sá, các công trình xây dựng khác. Lũ lên nhanh nhưng rút cũng nhanh, do độ dốc và gần các cửa biển. Lũ lụt xảy ra còn do tổng lượng mưa trong tỉnh lớn (từ 2.000 đến 4.000mm), nhưng lại tập trung trong một thời gian ngắn, từ tháng 9 đến tháng 12. Đặc biệt, hầu hết các sông đều chạy qua các vùng đá mẹ giàu thạch anh (granit, sa thạch, cuội kết…) nên phù sa của các sông Quảng Nam thường hạt thô, nghèo dinh dưỡng. Về hệ thống các hồ chứa, toàn tỉnh có khoảng 80 hồ chứa nước lớn nhỏ khác nhau với tổng lượng nước trữ khoảng 500 triệu m 3. Các hồ lớn như Phú Ninh, Khe Tân, Việt An, Vĩnh Trinh và Thái Xuân; hệ thống các hồ nhỏ như Cao Ngạn, Phước Hà, Đông Tiễn (Thăng Bình), Bàu Vàng (Núi Thành), Hố Giang, Suối Tiên (Quế Sơn)... phục vụ tưới cho hơn 70.000 ha gieo trồng hàng năm. Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt còn có tác dụng điều tiết chế độ thủy văn và cân bằng hệ sinh thái của vùng. 2.Dân số, lao động a.Dân số -Từ ngày sau giải phóng 30-4-1975 đến năm 1996 Sau ngày giải phóng, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã gấp rút tổ chức đưa số dân ngoại tỉnh trở về quê quán cũ đồng thời cũng tổ chức đưa số dân tập trung ở các khu dồn tại các đô thị, nhất là thành phố Đà Nẵng về làng cũ, giúp đỡ họ tranh thủ sản xuất nhằm giải quyết cái ăn trước mắt, nhanh chóng ổn định đời sống. Chính nhờ thực hiện chính sách này một cách khẩn trương và tích cực, nên quy mô dân số của Quảng Nam – Đà Nẵng đã giảm đột biến từ 2,1 triệu người khi vừa giải phóng xuống còn 1,32 triệu người vào cuối năm 1975. Mức gia tăng dân số bình quân của Quảng Nam – Đà Nẵng trong 20 năm (1976-1996) là 1,19%. Ở Quảng Nam – Đà Nẵng, năm 1995, dân cư tập trung sinh sống chủ yếu ở khu vực đô thị và đồng bằng ven biển. Khu vực 5 thành thị chỉ chiếm 4,48% diện tích tự nhiên, nhưng chiếm 34,41% dân số. Vùng đồng bằng chiếm 40,61% diện tích tự nhiên, nhưng chỉ có 11,1% dân số. Trong kế hoạch điều chỉnh và phân bố dân cư, chính quyền tỉnh cũng đã cố gắng đề xuất một số giải pháp, nhưng xem ra kết quả cải thiện tình hình không đáng kể. Năm 1976, các dân tộc miền núi chiếm 2,7% dân số, thì đến năm 1996 tăng lên 4,48%. Tốc độ phát triển bình quân hàng năm về dân số toàn tỉnh là 1,18%, trong khi đó dân tộc Cơ tu là 4,6%, Xơ đăng là 4,21%... Đó là kết quả của việc thực hiện các chính sách của Nhà nước, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với các dân tộc ít người, đặc biệt là sự chăm sóc về y tế đã giảm tỷ lệ tử vong khá lớn nhất là đối với trẻ em. -Từ sau ngày chia tách tỉnh năm 1-1-1997 đến nay Theo kết quả Tổng điều tra dân số 01-4-2009, tỉnh Quảng Nam có diện tích tự nhiên là 10.438,3km2, dân số là 1.421.117 người, tăng thêm 45.816 người so với ngày 01-4-1999. So với 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, thì Quảng Nam đứng hàng thứ 7 về diện tích, hàng thứ 19 về số dân. Về kết cấu dân số theo độ tuổi, Quảng Nam là tỉnh có dân số trẻ. Kết quả Tổng điều tra 2009 cho thấy số người trong độ tuổi lao động chiếm 62,1% so với dân số; cơ cấu dân số theo nhóm tuổi: nhóm dân số trẻ (0 – 14 tuổi) có xu hướng giảm từ 34,4% năm 1999 còn 25,7% năm 2009, trong khi đó nhóm dân số già có xu hướng tăng từ 7,4% năm 1999 lên 8,9% năm 2009. Về kết cấu dân số theo giới tính, dân số nữ có 727.138 người, chiếm 51,22% dân số cả tỉnh. Dân số thành thị có 264.256 người, chiếm 18,62%; nông thôn có 1.155.247 người, chiếm 81,38%. Về kết cấu dân số theo dân tộc, người Kinh chiếm 91,78%, các dân tộc chiếm 8,22% (116.590 người; trong đó Cơ tu: 46.709 người, Xơ đăng: 38.271 người, GiẻTriêng: 19.622 người, Cor: 5.241 người). Mật độ dân số của tỉnh năm 1997 là 130 người/km 2, năm 2009 là 136 người/km2; đứng hàng thứ 45 trong cả nước. Dân cư tỉnh phân bố không đều, có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng: giữa miền núi và đồng bằng ven biển, giữa các huyện và thành thị với nông thôn; theo mô hình thưa dần từ đông sang tây, phụ thuộc lớn vào địa hình. Mật độ dân số ở miền núi chỉ khoảng 15-20 người/km 2, trong khi đó ở đồng bằng ven biển là 250 người/km 2. Mật độ dân số thưa thớt nhất ở miền núi là huyện Nam Giang với 12,5 người/km2. Qua 3 kỳ điều tra, dân số tăng bình quân năm giảm dần, từ 1,96% (1979-1989) còn 1,26% (1989-1999) và 0,33% (19992009); trong khi đó tỷ lệ tăng dân số bình quân hằng năm ở khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 0,41%/năm, bình quân cả nước là 1,2%. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tỷ lệ tăng dân 6 số bình quân của Quảng Nam thấp hơn cả nước là do một bộ phận lực lượng trẻ đã rời bỏ ruộng đồng ở quê vào thành phố Hồ Chí Minh và các nơi khác để làm ăn. Đây là vấn đề xã hội rất đáng quan tâm. Ruộng đất ở quê ít, lại bị thu hẹp dần, sản xuất nông nghiệp bị hạn chế, việc thu hồi đất nông nghiệp ở các vùng dự án nên số đông người trẻ ly hương vì mưu sinh. Theo thống kê, mỗi năm dân số Quảng Nam di cư sang các tỉnh khác khoảng 8.000 người, trong khi đó số nhập cư chỉ khoảng 2.000-2.500 người. Hiện tượng “xuất nhiều nhập ít” còn tập trung ở số học sinh, sinh viên nhập học ở các trường ngoại tỉnh, khoảng 4.000 người mỗi năm. Trong khi lượng sinh viên ra trường về lại tỉnh làm việc chỉ nằm ở con số 1.500 người. Tỷ suất sinh thô đã giảm từ 21,06‰ (năm 1999) xuống 17,15‰ (năm 2005) và 16,35‰ (năm 2009), bình quân giảm 0,47‰/năm. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm dần qua các năm, từ 22,5% (năm 2001) xuống còn 17,84% (năm 2010). Chỉ số già hóa: thể hiện sự thay đổi cấu trúc dân số từ trẻ sang già (được tính bằng tỷ lệ dân số già trên dân số trẻ). Theo kết quả điều tra năm 2009, chỉ số này của tỉnh có sự biến đổi lớn, từ 21,70% năm 1999 lên 34,72% vào năm 2009 (tăng 13,02%); khu vực thành thị là 32,51%, tăng 11,32% và khu vực nông thôn là 35,17% tăng 13,39% so với năm 1999. Điều này cho thấy dân số tỉnh có xu hướng già hóa, phản ánh việc thực hiện tốt sinh để có kế hoạch và nâng cao chất lượng dân số của tỉnh trong những năm qua. Bảng: DIỆN TÍCH, DÂN SỐỐ, MẬT ĐỘ DÂN SỐỐ THEO ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH NĂM 2009 Quận, huyện Tổng số Thành phố Tam Kỳ Thành phố Hội An Huyện Bắc Trà My Huyện Nam Trà My Huyện Duy Xuyên Huyện Đại Lộc Huyện Đông Giang Huyện Tây Giang Huyện Điện Bàn Huyện Hiệp Đức Huyện Nam Giang Diện tích (km2) 10.438,37 Dân số (người) 1.421.179 92,81 61,71 825,44 825,46 299,09 587,09 812,63 902,97 214,71 494,19 1.842,89 7 107.758 90.150 37.996 25.466 120.818 145.810 23.405 16.561 197.797 37.731 22.486 Mật độ (người/km2) 136 1.161 1.461 46 46 404 248 29 18 921 76 12 Huyện Nông Sơn 457,92 31.377 69 Huyện Phú Ninh 251,52 76.834 305 Huyện Núi Thành 533,96 137.232 257 Huyện Phước Sơn 1.144,80 22.543 20 Huyện Quế Sơn 251,17 82.008 327 Huyện Tiên Phước 454,41 68.817 151 Huyện Thăng Bình 385,60 176.390 457 (Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Nam năm 2009) b.Lao động Lực lượng lao động: số người thuộc lực lượng lao động (15-64 tuổi) có 918.484 người, chiếm 64,70% tổng dân số, tăng 120.533 người so với năm 1999 (797.951 người); tốc độ tăng này khá nhanh (gần gấp 4,7 lần so với tốc độ tăng dân số). Ở khu vực thành thị có 177.980 người tăng 51.271 người; khu vực nông thôn có 740.597 người tăng 59.256 người so với năm 1999. Tỷ lệ phụ thuộc: biểu thị ở người trẻ em (dưới 14 tuổi) và số người già (60 tuổi trở lên) mà một người lao động (tuổi 15-60) phải nuôi dưỡng; được tính bằng số trẻ em và người già chia cho số người trong độ tuổi 15-59. Khi tỷ lệ này đạt 0,5 người được xem là dân số vàng. Sự gia tăng về người lao động của tỉnh trong 10 năm (19992009) đã làm cho tỷ lệ phụ thuộc của tỉnh chỉ còn 59,92%, giảm 20,85% so với năm 1999 (80,76%), bình quân mỗi năm giảm 2%/năm. Như vậy, dân số của tỉnh đang tiếp cận và dự kiến sẽ đạt được dân số vàng vào giữa những năm thập niên 2010. Đáng chú ý là tỷ lệ phụ thuộc trẻ giảm rất nhanh từ 62,65% năm 1999 xuống còn 41,76% năm 2009 (giảm 20,49%), trong khi tỷ lệ phụ thuộc gia chỉ tăng 0,36%. Sự chênh lệch này sẽ tạo ra nguồn lao động rất lớn cho tỉnh trong những năm qua. Lực lượng lao động của Quảng Nam trong nền kinh tế nông nghiệp truyền thống có hơn 90% dân số là lao động nông nghiệp. Từ khi tái lập tỉnh đến nay, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, lao động Quảng Nam từng bước được đào tạo. Trong 10 năm (1997-2007), Quảng Nam đã đào tạo hơn 1 vạn lao động có trình độ trung cấp và trên 3.000 lao động có trình độ cao đẳng. Năm 2010, tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 30%; riêng khu vực công nghiệp và dịch vụ đạt 40%. Tổng số lao động năm 2007 có 206.057 người tăng 56,42% so với năm 2002, bình quân tăng 9,36% năm. Khu vực sản xuất kinh doanh có 160.538 lao động, tăng 72,10% và bình quân tăng 11,47%/năm. Khu vực hành chính sự nghiệp có 45.519 lao động, tăng 18,39% và bình quân tăng 3,43%/năm. Cơ cấu lao động: khu vực sản xuất kinh doanh chiếm 77,91%, khu vực hành chính sự nghiệp chiếm 22,09%; phát triển 8 theo hướng tăng nhanh tỷ trọng lao động khu vực kinh tế, giảm tỷ trọng lao động hành chính sự nghiệp (năm 2002, số liệu tương ứng là 70,81% và 29,19%). Trong những năm qua, cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, thì lao động có tay nghề, được đào tạo cũng dần phát triển theo hướng lao động nông nghiệp nông thôn giảm dần và lao động công nghiệp dịch vụ tăng dần. Tuy nhiên năm 2010, tỉ lệ lao động nông – lâm nghiệp – thủy sản vẫn còn chiếm khá cao 59,24%, lao động công nghiệp và xây dựng là 19,32%, dịch vụ là 21,44%; năm 2012, số liệu tương ứng là 56,03%, 20,73% và 23,24%. Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị vẫn còn cao: năm 2010 là 4,79%, năm 2011 là 4,05%, năm 2012 là 3,58%. Số lao động được đào tạo nghề nhưng chưa có việc làm hoặc việc làm không phù hợp vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX đã đề ra nhóm chỉ tiêu về văn hóa – xã hội, trong đó giải quyết việc làm trong 5 năm (2010-2015) trên 200.000 lao động; phấn đấu đến năm 2015, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 45%, tỷ trọng lao động nông nghiệp còn dưới 42% - 43%, tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ đạt trên 58%. II.Lịch sử và truyền thống Quảng Nam 1.Lịch sử Quảng Nam a.Từ thời tiền sử đến trước khi danh xưng Quảng Nam ra đời năm 1471 Về phương diện địa lý – địa chất, mảnh đất Quảng Nam có lịch sử tạo thành từ lâu đời, từ thời Tiền Cambri cho đến kỷ Đệ tứ và chúng hình thành nên 5 vùng cảnh quan chính là vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng, vùng bờ biển và vùng biển – hải đảo. Qua các phát hiện khảo cổ học, nhất là tại di tích Bàu Dũ (xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành) thuộc thời đại đá mới cho phép nhận định con người có mặt ở đây ít ra đã 6000 nghìn năm trước. Người cổ Bàu Dũ sống chủ yếu bằng hái lượm, săn bắt và cư trú ngoài trời. Bàu Dũ là một phát hiện khảo cổ học quan trọng không chỉ đối với Quảng Nam mà đối với cả khu vực Nam Trung Bộ. Kế tiếp Bàu Dũ, tại các di chỉ khảo cổ học mộ chum tìm được ở Núi Thành, Đại Lộc... cho thấy sự phát triển liên tục qua các giai đoạn sơ, trung và hậu kỳ đồng thau của một nhóm cư dân nông nghiệp, biết sử dụng các công cụ sản xuất bằng kim loại và đã tiến đến sơ kỳ đồ sắt: đó là giai đoạn chuyển tiếp từ "tiền Sa Huỳnh" sang "Sa Huỳnh" của cư dân ở ven biển miền Trung. Từ những hiện vật đã khai quật được trong các di tích Sa Huỳnh ở Quảng Nam, có thể thấy vào giai đoạn sơ kỳ thời đại sắt, xã hội Sa Huỳnh đã có sự phân hoá giàu nghèo. Tầng lớp thống trị chi phối các hoạt động của cộng đồng đã xuất hiện. Những tài liệu khảo cổ học tìm thấy ở đây cũng đã góp phần chứng minh được sự 9 phát triển tuần tự từ văn hoá Sa Huỳnh lên văn hoá Champa, ghi nhận từ Sa Huỳnh đến Champa là sự liên tục, tiếp nối văn hoá. Người Sa Huỳnh đã bản địa hoá những giá trị văn hoá Ấn Độ để trở thành văn hoá Chămpa nổi tiếng về sau. Đến đầu Công nguyên, vào thế kỷ II, đất Quảng Nam đã thuộc về tiểu quốc Lâm Ấp do Khu Liên thành lập và đến giữa thế kỷ IV vùng đất này được hợp nhất với tiểu quốc Nam Chăm để hình thành nên Vương quốc Chămpa. Kinh đô đầu tiên của Vương quốc Chămpa được xây dựng trên đất Trà Kiệu (huyện Duy Xuyên), đó là kinh đô Sinhapura (Kinh thành Sư tử). Nhiều cứ liệu cho thấy sự phồn vinh của kinh đô này mà tiếng tăm của nó đã có thời lừng lẫy trong vùng Mã Lai và vùng Đông Nam Á. Đến thế kỷ IX, một kinh đô khác của Vương quốc Chămpa cũng được xây dựng trên đất Quảng Nam là kinh đô Indrapura (kinh thành mang tên thần Indra, thần đứng đầu các thần), được đặt tại làng Đồng Dương (huyện Thăng Bình). Đây là di tích Phật giáo Đại thừa lớn nhất của Vương quốc Chămpa và cũng là một di tích Phật giáo quan trọng ở Đông Nam Á. Ngoài ra, từ thế kỷ IV đến thế kỷ thứ XIII, giai cấp thống trị Chămpa còn cho xây dựng một khu thánh địa Bàlamôn giáo lớn tại Mỹ Sơn (huyện Duy Xuyên), nằm về phía tây của Kinh đô Trà Kiệu, với trên 70 công trình kiến trúc đền tháp. Mỗi năm vua Chăm, sau khi lên ngôi đều đến đây làm lễ cúng thần linh hoặc xây dựng thêm nhiều đền đài hiến dâng lên thần Srisana Bhadresvara – đấng tối cao bảo hộ vương quyền. Năm 1306, quốc vương của Chămpa là Chế Mân đem dâng cho nhà Trần hai châu Ô – Lý, gồm đất từ nam Quảng Trị đến bắc Quảng Nam làm sính lễ, xin cưới công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông. Năm sau (1307), vua Trần Anh Tông sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến vùng đất mới tuyên bố ý đức của triều đình, đổi hai châu ấy thành châu Thuận và châu Hoá. Sự gia nhập vào bản đồ Đại Việt của vùng đất Amaravati của Chămpa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với riêng Quảng Nam mà đối với cả lịch sử dân tộc. Rẻo đất không lớn đó có đến hai cửa biển quan trọng là Đại Chiêm và Đà Nẵng - mà như lịch sử còn ghi rõ, tất cả các cuộc tiến công của Chămpa đánh ra Đại Việt đều đi đường biển, xuất phát từ những cửa biển lớn này. Chiếm hai cửa biển quan trọng này là đẩy xa hẳn mối uy hiếp quấy nhiễu của Chămpa. Hơn nữa, tràn qua được phía nam đèo Hải Vân, thiết lập ở đó một bàn đạp, một căn cứ xuất phát tiến công, là điều kiện số một để Đại Việt tiến tới chiếm hết cả vùng 10 đất Quảng Nam, vùng đất quan trọng và quyết định nhất trên đường mở nước của Đại Việt. Bước sang nửa sau thế kỷ XIV, quan hệ Chămpa – Đại Việt trở nên căng thẳng, nhất là từ sau ngày Chế Bồng Nga lên ngôi (năm 1360). Vị vua này liên tiếp đem quân tấn công Đại Việt, nhiều lần kéo quân ra cướp phá kinh thành Thăng Long. Năm 1390, Chế Bồng Nga tử trận, quan hệ Chăm – Việt trở lại hòa dịu. Năm 1400, Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần, lập ra triều Hồ. Nhà Hồ ra sức củng cố chủ quyền của Đại Việt ở phía Nam. (Năm 1402, Hồ Quý Ly dùng biện pháp quân sự, mở rộng đất Chiêm Động và Cổ Lũy Động, lập ra 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa để dân đi khai thác.) Nhà Hồ tồn tại không được bao lâu thì bị nhà Minh (Trung Quốc) sang xâm lược và đặt ách thống trị lên Đại Việt. Do phải đối phó hết sức vất vả với phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ta, nhà Minh không thể với tay đến tận những miền biên viễn, do đó, thực tế đất Quảng trở lại chịu sự quản lý của nhà nước Chămpa. Trong hoàn cảnh đó, nhiều lưu dân Việt phải bỏ chạy về vùng Hoá Châu, hoặc phân tán lên vùng Tân Ninh ở phía thượng nguồn sông Thu Bồn, ẩn tránh để chờ cơ hội. Số còn lại cũng hoàn toàn bị cách ly với quê hương phía Bắc của họ. Phải mất vài thập kỷ sau, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi chống quân xâm lược Minh thắng lợi (1427), dưới thời trị vì của nhà Hậu Lê, chủ quyền của Đại Việt đối với đất Quảng Nam mới dần dần được khôi phục. 11 b. Từ 1471 đến trước khi nhà Nguyễn được thành lập năm 1802 Tháng 8-1470, vua Chămpa là Trà Toàn đem hơn 10 vạn quân thủy bộ đánh chiếm Hóa Châu. Trước tình hình đó, vua Lê Thánh Tông quyết định đánh đồn tối hậu để giải quyết tận gốc vấn đề biên giới phía nam, lấy lại bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa đã mất từ thời thuộc Minh. Chính vì vậy, cuộc xuất quân lần này được chuẩn bị cực kỳ chu đáo. Cuộc xuất quân bắt đầu từ ngày 7 tháng giêng năm Tân Mão (1471). Đến ngày 1 tháng 3, quân Đại Việt vây hãm thành Trà Bàn, tiêu diệt số lớn quân địch, bắt sống được vua Chăm là Trà Toàn cùng 50 người trong hoàng tộc cùng ba vạn tù binh. Địa danh Tư Nghĩa xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam. Đạo thừa tuyên Quảng Nam có 3 phủ là Thăng Hoa (tương đương với tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng ngày nay), Tư Nghĩa (tương đương với tỉnh Quảng Ngãi), Hoài Nhơn (tương đương với tỉnh Bình Định). Huyện Nghĩa Giang nằm trong phủ Tư Nghĩa lúc bấy giờ chính là địa bàn huyện Tư Nghĩa và thành phố Quảng Ngãi ngày nay. Chiến thắng lớn lao này không những giúp ta giữ yên được Hóa Châu, khôi phục lại bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa bị quân Chămpa chiếm thời thuộc Minh (1407-1427), mà còn mở rộng bờ cõi Đại Việt đến đèo Cù Mông (tức tỉnh Bình Định ngày nay). Tháng 6-1471, vua Lê Thánh Tông quyết định lấy đất vừa chiếm được lập thừa tuyên Quảng Nam. Danh xưng Quảng Nam chính thức được khai sinh từ đây. Hai tiếng Quảng Nam hàm chứa một ý nghĩa trọng đại trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của dân tộc. Quảng có nghĩa là mở và rộng; Nam là hướng nam, đi về phương Nam: một lựa chọn có tính chiến lược, quyết định vận mệnh sống còn của quốc gia Đại Việt. Nhận rõ tầm quan trọng của vùng đất này, nên trước khi xuống chiếu rút quân về, Thánh Tông đã phân công tướng lĩnh cùng với quân sĩ ở lại để quản trị vùng đất mới chiếm. Đây là những người thuộc diện "tòng binh lập nghiệp". Nhiều người dân "gốc lính" này đã liên lạc với gia đình, bà con thân thuộc, đồng hương tổ chức di dân vào sinh cơ lập nghiệp nơi vùng đất mới. Nhiều người trong số này về sau trở thành tiền hiền của làng, được thờ tự ở đình. Kể từ chiến thắng Trà Bàn cho đến khi Nguyễn Hoàng được nhà Lê cho kiêm lãnh Tổng trấn Quảng Nam, vùng đất này đã được lưu dân Việt đến định cư, khai phá tròn 100 năm (1471-1570), bộ mặt đời sống vật chất và tinh thần có những 12 thay đổi lớn lao. Sách Ô châu cận lục miêu tả đời sống của nhân dân Điện Bàn (hiểu là nửa tỉnh phía bắc Quảng Nam) vào giữa thế kỷ XVI như sau: "Dân lấy thóc làm giàu, nhà nông dùng trâu đạp lúa; xe tiện chuyên chở đường bộ, ghe thuyền thuận lợi đường sông. Vườn Mạc Xuyên trồng lắm hoa hồng, người Lang Châu dệt nhiều lụa trắng... Phụ nữ mặc quần vải Chăm, đàn ông tay cầm quạt Tàu..." 1. Sách này cũng nêu ra danh sách 66 làng thời ấy của huyện Điện Bàn, mà gần 50% tên gọi các làng lưu truyền đến ngày nay. Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Đến năm 1570, kiêm lãnh cả trấn Quảng Nam. Mười hai năm sau (1570), ông được vua Lê cho kiêm lãnh Tổng trấn Quảng Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đánh giá: "Nguyễn Hoàng vỗ trị mấy chục năm, chính lệnh khoan hòa, thường ban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh khuyên răn tướng sĩ bản bộ... chợ búa không nói thách, dân chúng không làm giặc, cổng ngoài không đóng"2. Trong chuyến vượt biển trở về Thuận Hóa sau 8 năm bị Trịnh Tùng "giữ lỏng" tại Thăng Long, cái ý tưởng "rạch đôi sơn hà" càng thôi thúc và trở thành quyết tâm không gì lay chuyển được. Năm 1602, Nguyễn Hoàng vượt núi Hải Vân thị sát vùng đất hai phủ Điện Bàn và Thăng Hoa. Về chuyến đi này, Đại Nam thực lục tiền biên ghi là chúa "đi chơi núi Hải Vân, thấy một dải núi cao dăng dài mấy trăm dặm nằm ngang đến bờ biển, chúa khen rằng: chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận - Quảng. Liền vượt qua núi, xem xét tình thế, dựng dinh trấn ở xã Cần Húc (thuộc huyện Duy Xuyên) xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu đến trấn giữ"3. Không đầy hai năm sau (1604), Nguyễn Hoàng ra quyết định tách huyện Điện Bàn ra khỏi phủ Triệu Phong (thuộc trấn Thuận Hóa), thăng làm phủ, rồi cho lệ vào trấn Quảng Nam để tạo thành một vùng lãnh thổ thống nhất, hoàn chỉnh về mặt địa lý hành chính ở phía nam Hải Vân nhằm phục vụ cho ý đồ xây dựng một thực lực kinh tế và quốc phòng đủ sức đương đầu với họ Trịnh. Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Nxb.Thuận Hóa, 2001, tr.72. Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, Bản in Nội các quan bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.147. 3 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1962, tr.44. 1 2 13 Một vấn đề lớn đặt ra cho chúa Nguyễn lúc bấy giờ là phải tìm ra một phương cách để tăng tốc trong việc xây dựng lực lượng. Quảng Nam có những cửa sông lớn, nhiều cửa biển tốt, tài nguyên thiên nhiên dồi dào, tình hình sản xuất phát triển khá, đó là những tiền đề thuận lợi cho việc mở rộng giao thương. Việc chọn đặt dinh trấn Thanh Chiêm tại Thanh Chiêm bên bờ sông Thu Bồn, nằm ngay bên cạnh đường thiên lý bắc – nam, cách thương cảng Hội An không đầy chục kilômét vào năm 1602 và việc tách Điện Bàn sáp nhập vào trấn này năm 1604 được coi là cột mốc lịch sử quan trọng, một bước đột phá đầy ý nghĩa mở đường cho một chủ trương phát triển kinh tế mới. Thị cảng Hội An (Faifo) ra đời từ chủ trương của các chúa Nguyễn đã nhanh chóng trở thành thương cảng có tầm cỡ ở khu vực Đông Nam Á suốt từ cuối thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII. Hội An được xem là hội chợ bán buôn trên "con đường gốm sứ", "con đường hương liệu" Đông – Tây lúc bấy giờ, thực sự đã trở thành một điểm “kinh tế mở” tấp nập và thịnh vượng, tạo ra “chất lượng của sự phát triển” kinh tế - văn hóa Quảng Nam. Bước sang thế kỷ XVIII, Quảng Nam không chỉ là nơi tiếp nhận lưu dân, mà đã trở thành địa bàn trung chuyển của công cuộc di dân vào nam. Nhiều người "dân có vật lực" ở đây lại tiếp tục cuộc hành trình về phương Nam khai phá trên vùng đất Đồng Nai trù phú theo quy luật "đất lành chim đậu". Bằng chứng là khi Nguyễn Hữu Kính vào thiết lập bộ máy quản lý hành chính ở đây, thì số người Việt đã có trên bốn vạn hộ. Nếu đem nhân con số này với hệ số 5 (mỗi hộ 5 người), thì đã có 200.000 dân từ miền Thuận - Quảng di cư tự do đến sinh sống trên đất thuở ấy về danh nghĩa còn thuộc chủ quyền của Chân Lạp. Nhưng rồi những mâu thuẫn của chế độ phong kiến nhanh chóng xô đẩy cơ đồ của chúa Nguyễn nhanh chóng đi vào chỗ suy sụp. Năm 1771, một cuộc khởi nghĩa bùng lên từ đất Tây Sơn, thuộc huyện Phù Ly, phủ Qui Nhơn, do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi xướng kéo dài đến 1802. Thời gian 30 năm ấy, địa bàn của phủ Điện Bàn và phủ Thăng Hoa trở thành nơi tranh chấp quyết liệt giữa ba lực lượng: phong trào Tây Sơn, lực lượng của chúa Nguyễn, lực lượng của chúa Trịnh. c.Từ năm 1802 đến trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 1930 14 Khi phong trào Tây Sơn bị thất bại, Nguyễn Ánh tái chiếm lại đất Quảng Nam và lấy hai phủ Thăng Hoa, Điện Bàn lập thành dinh Quảng Nam. Trải qua những tên gọi khác nhau, đến năm 1832, vua Minh Mệnh lại quyết định đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam. Dưới thời nhà Nguyễn, Quảng Nam mất dần vai trò đầu tàu, trung tâm kinh tế Đàng Trong như thời các chúa Nguyễn và suy yếu khi các vua nhà Nguyễn thực hiện chính sách "đóng cửa", "bế quan tỏa cảng", "quay lại cắm cúi với thuần nông" trên phạm vi cả nước. Trong thời kỳ đất nước đứng trước nguy cơ bị xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây, Phạm Phú Thứ (sau khi đi châu Âu về) đã cùng với các trí thức tiến bộ cùng thời tích cực dâng lên vua nhiều đề nghị cải cách về các mặt giáo dục, kinh tế, quốc phòng, nội chính, đối ngoại...Đáng tiếc là những đề nghị canh tân của ông đã không được vua tôi triều Nguyễn chấp nhận. Năm Nhâm Dần (1842), ông thi Hương, đậu Giải Nguyên; năm Quý Mão (1843), thi Hội đậu Hội Nguyên đệ tam giáp đồng tiến sĩ, được bổ làm tri phủ Lạng Giang. Năm Tự Đức thứ 2 (1849), ông được đề bạt về làm ở Viện Tập hiền rồi ở tòa Kính diên (phòng giảng sách cho vua). Tại đây, vì thấy nhà vua còn trẻ, ham vui chơi lơ là việc triều chính, ông mạnh dạn dâng sớ can gián nhà vua với lời lẽ thiết tha và thẳng thắn nên ông bị cách chức và bị đày làm lính cắt cỏ ngựa ở trạm Thừa Nông (phía nam kinh thành Huế), vì tội phạm thượng. Vậy mà ông vẫn tự tin vào việc làm của mình: Lúc rảnh rỗi đi câu cá, ngắm cảnh, làm thơ nên có biệt hiệu là “Nông giang điếu đồ” (Người câu cá trên sông Nông) và sáng tác tập thơ “Nông giang thi lục”. Chuyện này đến tai Thái hậu Từ Dũ. Bà hỏi con (vua Tự Đức): - Ông Phạm dâng sớ khuyên can con, ông ấy được cái gì? Nhà vua đáp: - Dạ, ông không được cái gì cả! Nhưng làm bề tôi mà trách cứ vua như thế là quá đáng. - Thế thì lúc làm lính, ông ta có oán hận gì không? - Dạ, con không nghe nói gì. - Thế thì người ấy đáng trọng lắm! Dâng sớ là muốn cho vua làm việc tốt. Bị nạn cứ chịu đựng mà không oán hờn. Theo mẹ, đó là người chính trực và trung thành. Vua Tự Đức nghe ra liền hạ chiếu ân xá, triệu ông về kinh giao cho trọng trách. Năm 1854, ông được cử làm tri phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Ông khẩn khoản xin vua lựa chọn những thanh niên tuấn tú cho xuất dương du học, càng đông càng tốt, học nhiều học gấp khoa học kỹ thuật tiên tiến của phương Tây để có thể đương đầu với sự đe dọa của thời cuộc, làm cho dân giàu nước mạnh nhanh chóng. Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Sát cánh cùng với quân đội chính qui của triều đình, là những đội "thân biền binh dõng" của nhân dân xứ Quảng, trong đó tiêu biểu là đội Nghĩa dũng hơn 500 người của huyện Hà Đông do cựu đề đốc Phạm Gia Vĩnh kêu gọi thành lập, tham chiến tại mặt 15 trận Đà Nẵng, đánh nhiều trận xuất sắc ở Thạc Gián, Thạch Thang, Hải Châu..., góp phần đánh bại kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp". Trong chiến công to lớn ấy, nhân dân Quảng Nam có quyền tự hào là mảnh đất đi đầu trong trận tuyến chống ngoại xâm của dân tộc, là biểu tượng sáng ngời về ý chí bất khuất của nhân dân Quảng Nam anh hùng. Không thể chiếm được Đà Nẵng, quân Pháp kéo vào Gia Định sau đó ra đánh chiếm Hà Nội. Triều Nguyễn bất lực không thể lãnh đạo nhân dân tổ chức cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền dân tộc. Cuối cùng phải ký hiệp ước đầu hàng (1883), chấp nhận sự thống trị của thực dân Pháp. Từ đây, xứ Quảng trở thành trung tâm nóng bỏng của công cuộc tìm đường cứu nước vô cùng quẫn bách và thống thiết dân tộc. Các sĩ phu Nguyễn Duy Hiệu, Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến... bí mật thành lập Nghĩa hội Quảng Nam, ra Cáo thị kêu gọi nhân dân đoàn kết chống Pháp, tạo thành một phong trào quần chúng rầm rộ trong suốt 3 năm (1885-1887). Bước sang thế kỷ XX, xứ Quảng trở thành nơi gặp gỡ, "liên kết đồng chí" trên con đường vận động cứu nước của Phan Bội Châu với các danh sĩ Quảng Nam như Tiểu La Nguyễn Thành, Châu Thượng Văn, Đỗ Đăng Tuyển..., để rồi tháng 5-1904, Hội Duy tân chính thức ra đời, dấy lên một phong trào Đông Du nổi tiếng (19041908). Cũng trong thời gian này, bộ ba Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp đã khởi xướng phong trào Duy Tân – một học thuyết cứu nước hoàn toàn mới mẻ, dựa trên ba trụ cột chính là "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh". Tại Quảng Nam, nơi khởi xướng và là chiếc nôi của phong trào đã thực hành một cuộc đổi mới giáo dục, khơi dậy tinh thần dân tộc, khuyến khích kinh doanh trong mọi tầng lớp nhân dân. Từ Quảng Nam, phong trào Duy Tân phát triển rộng ra các tỉnh phía Nam và lan tỏa đến cả Thăng Long – Hà Nội, trung tâm chính trị - văn hóa của đất nước. Điều đáng lưu ý ở đây là tính phổ cập, tính quần chúng của phong trào xuất phát từ tầm nhìn của những người sáng lập với mục đích nâng cao dân trí. Nếu như Hà Nội có trường Đông Kinh nghĩa thục nổi tiếng, thì Quảng Nam có trên 40 trường dân lập, mà đa số đặt ở nông thôn; nổi tiếng nhất là các trường Diên Phong, Phước Bình, Phú Lâm. Và, cũng chính hoạt động của Hội Duy Tân và đặc biệt là phong trào Duy Tân đã châm ngòi cho phong trào kháng thuế, cự sưu diễn ra vào năm 1908 bắt đầu nhân một đám giỗ ở làng Phiếm Ái (Đại Lộc), sau đó đã nhanh chóng lan rộng ra khắp tỉnh và cả 10 tỉnh Trung Kỳ. Phong trào kéo dài hơn một tháng trời trên đất Quảng Nam là một đòn đánh thẳng vào chính sách cai trị thực dân, một phong trào đấu tranh quần chúng đông đảo, quyết liệt nhất trong thời cận đại nước ta, làm lung lay tận gốc chế độ thống trị của Pháp ở Đông Dương. Tiếp đó, năm 1916, cuộc khởi nghĩa Duy Tân do tổ 16 chức Việt Nam Quang phục hội khởi xướng, nhưng linh hồn thực sự của cuộc khởi nghĩa là Thái Phiên và Trần Cao Vân. Các phong trào yêu nước của nhân dân Quảng Nam vào cuối thế kỷ XIX và hai thập niên đầu của thế kỷ XX kết cục đi đến thất bại, nhưng đó là những viên đá tảng rắn chắc của truyền thống anh hùng, bất khuất trên hành trinh đi đến độc lập, tự do của đất nước và dân tộc. 2. Truyền thống Quảng Nam a. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các giá trị truyền thống Quảng Nam Quảng Nam - mảnh đất mang ơn dày nghĩa nặng của tổ tiên những ngày đi mở cõi. Đất và Người Quảng Nam gắn liền với nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp. Nếu hiểu truyền thống là thói quen đã hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì đương nhiên, truyền thống Quảng Nam mang sâu sắc trong mình truyền thống cội nguồn dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng mang những đặc tính riêng do những điều kiện tự nhiên và lịch sử riêng biệt không hoàn toàn giống với cả nước, với các vùng khác, trong đó có những điều kiện rất đặc thù, tác động suốt hàng trăm năm. Vì vậy, ngoài những giá trị truyền thống chung, người Quảng còn tự hào với những đặc tính truyền thống riêng. Đúng hơn là ở nơi này những truyền thống chung của người Việt, do những điều kiện riêng, có những sắc thái, giá trị riêng nào đó, những phần đậm nhạt khác nhau với những nơi khác. Các giá trị truyền thống không phải là một cái gì cố định, có sẵn và đứng im, mà hình thành, biến đổi, thăng trầm do những biến động của môi trường và lịch sử. Điều ấy càng đúng trong trường hợp truyền thống con người xứ Quảng, một vùng đất thật sự có một vị trí tự nhiên độc đáo và một vai trò đặc biệt trong sự phát triển lâu dài của đất nước và dân tộc. Do đó, tìm hiểu những điều kiện lịch sử và tự nhiên tác động đến sự hình thành và phát triển các giá trị truyền thống Quảng Nam, có thể nhấn mạnh đến 4 yếu tố: *Điều kiện tự nhiên thông qua các quan hệ xã hội hình thành nên một đức tính tương ứng của con người để có thể sống trên vùng đất Quảng Nam., là một vùng đất mà sử cũ gọi là "sơn lam chương khí", "ô châu ác địa"... Từ phía nam đèo Hải Vân đến Dối Sỏi (Núi Thành) vẫn màu xanh sắc biếc biển trời một vùng duyên hải, lưng dựa vào dãy núi 17 dằng dặc như tự thuở nào, nhưng trong chiều sâu của cái dáng vẻ tự nhiên ấy đã ẩn chứa bao nhiêu biến thiên của lịch sử, vừa có nét riêng, vừa gần gũi trong mối tương quan với các địa phương trong sự chở che của đất nước. Vị trí của mảnh đất này, về cơ bản không có đồng bằng, các con sông quá ngắn và quá dốc không tạo nên những châu thổ đáng kể; sông lại ít phù sa khiến đồng ruộng nhanh chóng bị bạc màu không kịp phục hồi độ phì nhiêu. Đất đai canh tác chỉ là một dải đất hẹp, dài, chạy dọc ven biển, bị biển và núi ép chặt, lại thường xuyên bị bão tố ác liệt uy hiếp. Ruô ông đất ít phù sa, nhanh chóng bạc màu, bão lut thương xuyên xảy ra. Vung đất nắng lắm mưa nhiều. Khi người Việt vào đây khai phá, gặp ở vùng đất Amaravati này một thiên nhiên phong phú nhưng hung dữ. Rừng rậm đầy thú dữ bây giờ còn vây kín lấy con người. Núi cao, sông gấp, biển đầy bão tố, nắng lửa và mưa dầm... Lao động lúc bấy giờ là một cuộc chiến đấu thực sự, nhiều khi đẫm máu. Thiên nhiên mênh mông, bịt bùng, cưỡng lại, quật trả. Lại thêm người Chăm mất đất liên tục phản kích. Người cày ruộng với người lính gần như là một. Khắc phục một thiên nhiên như vậy, quả thật mỗi tấc đất khai phá đều được thấm mồ hôi và máu con người. Chính điều kiện tự nhiên như vậy đã làm cho con người xứ Quảng vốn có nhiều khó khăn lại càng khó khăn hơn. Bởi thế, để sinh tồn và phát triển, họ phải có một ý chí và nghị lực phi thường để vượt qua thử thách. Và, cũng chính điều ấy đã tôi rèn, hình thành, quy định nên tính cách, truyền thống của người dân xứ Quảng. *Quảng Nam giữ một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong quá trình mở nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Hẳn là cần nhắc đến lời căn dặn tha thiết năm 1613 của Nguyễn Hoàng trước lúc lâm chung với người con kế nghiệp: "Đây là đất yết hầu của miền Thuận - Quảng", là "đất dụng võ của kẻ anh hùng". Vì chính ông, năm 1602 đã đặt Dinh trấn Thanh Chiêm – thủ phủ kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự ở Đàng Trong và từ đó suốt thời các chúa Nguyễn, Quảng Nam trở thành vùng đất bản lề, thành cái đầu cầu vững chắc, trạm trung chuyển chiến lược cung cấp nhân tài, vật lực trong quá trình Nam tiến vào cho đến hết dải đất hình chữ S của dân tộc. Trước đó, sau đại thắng Trà Bàn của Lê Thánh Tông năm 1471, phần đất được gọi là thừa tuyên Quảng Nam đã trở thành một bộ phận vững chắc của lãnh thổ Việt Nam. Tuy vậy, nhiều thập niên sau đó, nhân dân ở đất này vẫn phải thường xuyên "đương 18 đầu với rất nhiều hiểm họa, thử thách và rất nhiều thế lực thù nghịch". Đến khi Nguyễn Hoàng dứt khoát "rạch đôi sơn hà", thì quá trình Nam tiến luôn diễn ra đồng thời với quá trình chống Trịnh. Đó là chưa kể đến các cuộc chiến không phải không ác liệt giữa các Chúa Nguyễn và quân Tây Sơn cũng nhiều lần diễn ra trên đất này. Bước vào thời cận hiện đại, xứ Quảng là địa đoạn hội đủ các yếu tố để thực hành chia cắt chiến lược ngay từ đầu đối với đất nước ta và cũng hội đủ những yếu tố để nhanh chóng hình thành những căn cứ quân sự liên hợp lớn nhằm duy trì và phát triển thế chia cắt đó. Cho nên, như một tất yếu lịch sử, xứ Quảng đã hai lần đứng ra gánh vác vai trò đi đầu đánh giặc và là địa bàn mà cường độ ác liệt của cuộc chiến thường bị đẩy lên đến tột độ. Do đó, có thể nói trong suốt nhiều thế kỷ từ ngày hình thành, xứ Quảng ít có thời gian nào không có binh đao loạn lạc. Như vậy, trong lịch sử phát triển của đất nước, Quảng Nam đóng vai trò phên dậu ở chốn đầu sóng ngọn gió, là nguồn cung cấp nhân tài vật lực, trạm trung chuyển và là bàn đạp vững chắc cho công cuộc Nam tiến của dân tộc; là nơi tương tranh giữa các thế lực phong kiến; là trung tâm nóng bỏng của công cuộc tìm đường cứu nước vô cùng quẫn bách, thống thiết; là nơi mở đầu cho những cuộc đụng đầu lịch sử của cả dân tộc với chủ nghĩa thực dân và đế quốc. Vị thế đó đã xác lập cho nhân dân xứ Quảng những đức tính cần phải có, những giá trị tinh thần không thể thiếu được nhằm bảo vệ sự trường tồn của một vùng đất, độc lập tự chủ của quốc gia dân tộc. *Quảng Nam suốt một thời đoạn dài là nơi tiếp biến các luồng văn hóa để làm sinh nở, phát triển hoặc lắng đọng những chất lượng tinh thần mới, bồi bổ cho chất lượng tinh thần vốn có tự bao giờ. Trước khi trở thành là một đơn vị hành chính của nước Đại Việt, xứ Quảng đã là địa bàn cư trú xa xưa và là đế đô của nhiều triều đại trong nhiều thế kỷ của Vương quốc Chămpa. Và, dĩ nhiên đây cũng là nơi tập trung tiêu biểu nhất những tinh hoa văn hóa, thành tựu kinh tế cùng nhiều mặt khác nữa của xã hội Chămpa. Do đó, trong cuộc đi dài về phía nam, người gốc Quảng Nam đã khám phá ra một nền văn hóa lớn khác với văn hóa truyền thống mà họ mang theo và chăm chút gìn giữ – văn hóa Chămpa. Ngay ở buổi đầu khai hoang lập địa đã diễn ra quá trình tụ cư, hỗn cư và hợp cư của các thành phần nhân chủng khác nhau, có những đặc điểm văn hóa khác nhau; đó cũng là quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, góp phần tạo nên những đặc trưng văn hóa và đặc tính phẩm chất của con người xứ Quảng. Đặc biệt, Đàng Trong, với xứ Quảng, mà Hội An là trung tâm đã lĩnh ấn tiên phong trong việc mở cửa với các nước ngoài, lần này không chỉ là thương mại quốc tế phương Đông mà đã có giao lưu kinh tế văn hóa với phương Tây. Ở thế kỷ XVIXVIII, xứ Quảng thực sự "cận thị, cận giang" hơn hẳn mọi nơi ở miền Trung; kinh tế phát triển, nội – ngoại thương được đẩy mạnh và nhu cầu giao thương của con người 19 càng trở nên bức thiết. Tất cả tạo nên một động lực lịch sử chưa từng có, không những đưa đến sự phát triển kinh ngạc về kinh tế mà còn là văn hóa. Xã hội xứ Quảng lúc này thực sự trở thành một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa, với nhân tố nổi bật là khả năng tiếp nhận, đồng hóa, Việt hóa mạnh mẽ của văn hóa Việt đối với văn hóa ngoại lai. Trong lần "mở cửa", "toàn cầu hóa" hết sức sinh động và thành công này, lưu dân đất Việt trên đất này đã biết mở rộng cửa trí và cửa lòng mình để dung nạp, giao thoa thay vì bài xích, triệt tiêu văn hóa khác để góp phần hun đúc nên bản lĩnh văn hóa, để lại dấu ấn sâu sắc trong cách hành xử, ứng biến của con người xứ Quảng. *Con người từ buổi khai phá vùng đất mới. Hai cuộc chuyển cư lớn vào đất Quảng tập trung nhất là những năm 1470 sau chiến thắng quyết định của Lê Thánh Tông, và sau năm 1600 thời Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn nối tiếp. Nhà văn Nguyên Ngọc đã có một nhận xét sâu sắc rằng: quá trình chuyển cư về phía nam của người Việt xuất phát từ động cơ phản ứng xã hội, càng về sau càng trở nên rõ rệt, mạnh mẽ hơn. Vào cao điểm của động cơ phản ứng xã hội ấy là đúng vào hai đợt chuyển cư quan trọng nhất của người Việt vào xứ Quảng. Thời Lê Thánh Tông, như một ánh lóe sáng rực rỡ cuối cùng của chế độ phong kiến Bắc Hà trước khi lâm vào rối loạn và suy sụp chưa từng có; và thời Nguyễn Hoàng, hành động ra đi vào Nam là một thứ tuyên bố ly khai xã hội, chính trị, văn hóa công khai và quyết liệt. Như vậy, những tiên dân đất Quảng đi vào vùng đất mới, nói theo cách nào đó, chính là những người đi xây dựng nền văn hóa mới, bao giờ cũng gồm hai mặt: vừa khôi phục những giá trị truyền thống đã bị biến dạng, suy thoái, vừa bổ sung thêm những nhân tố mới mẻ do những điều kiện mới đem lại. Trong trạng thái tâm lý bất ổn của di dân người Việt sau khi bỏ lại phía sau quê cha đất tổ ở phía Bắc, vừa bị cuốn hút bởi văn hóa Chămpa, thì các nhà lãnh đạo họ Nguyễn đã khôn khéo chối bỏ Khổng Giáo (vì những khẳng định của Khổng Giáo cơ bản trực tiếp mâu thuẫn với vị trí của họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và nổi loạn đối với triều đình) bằng cách sử dụng Phật giáo Đại Thừa – một tôn giáo đa thần. Phật giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt, mặt khác lại làm lắng đọng các mối lo âu của người di dân, đồng thời thể hiện sự phản ứng mạnh mẽ chống lại sự suy thoái của xã hội phong kiến Bắc Hà. Điều này có giá trị như một cuộc giải phóng; và chính đây là cơ sở để họ có thái độ tiếp nhận cởi mở, hòa hợp (chứ không phải là đồng hóa) với những thành tựu văn hóa khác, nhất là của người Chăm. Thành phần chuyển cư vào đất Quảng rất đa dạng, phức tạp nhưng tuyệt đại đa số vốn có gốc Thanh Nghệ Tĩnh. Đó là người tị nạn tìm nơi trú ẩn sau thất bại chống xâm lược, các phạm nhân của triều đình nhà Lê, các quan lại, hương khúc, nghĩa dũng đi cùng với gia đình Nguyễn Hoàng, những trung thần nhà Lê; có người là binh lính, có kẻ là tù binh hoặc dân bị lùa đi khỏi quê cũ đưa đến vùng đất mới trong chiến tranh Trịnh – Nguyễn... Như vậy, một cấu thành nổi bật của tiên dân Quảng Nam là mang rất đậm chất "bình dân", "ương ngạnh", họ chủ yếu gồm những tầng lớp dưới của xã 20
- Xem thêm -