Tài liệu Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn tỉnh thanh hóa tt

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 25 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ THỊ SÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH THANH HÓA Chuyên ngành : Công tác xã hội Mã số: 60.90.01.01 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÀ NỘI, 2017 Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. BÙI THỊ XUÂN MAI Phản biện 1: TS. Nguyễn Hải Hữu Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ...... ,ngày .... tháng..... năm 2017 Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Thương người như thể thương thân”, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến những NKT trong xã hội, nhất là đối với trẻ em khuyết tật. Trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế còn chậm phát triển, chúng ta đã từng bước xây dựng, thực hiện chính sách và biện pháp nhằm giúp đỡ NKT nhất là giúp đỡ TEKT về vật chất và tinh thần, vượt qua khó khăn riêng để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng. Minh chứng là Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, luôn đề cao các nguyên tắc cơ bản của công ước, không phân biệt đối xử và luôn nổ lực để hướng tới bảo đảm để TEKT hưởng một cách trọn vẹn, đầy đủ và bình đẳng các quyền của mình. Hệ thống luật pháp, chính sách đối với NKT ngày càng được hoàn thiện. Ngày 17/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật Người khuyết tật và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011[23]. Luật trẻ em số 102/2016/QH13 ngày 05/4/2016 [24]; Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 về phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020 [29]; Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 về quy định chính sách trợ giúp xã hội với đối tượng bảo trợ xã hội [41]… Các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc tại địa phương và đơn vị thường xuyên quan tâm, tạo thuận lợi để phát huy năng lực và hỗ trợ trẻ em khuyết tật, trẻ mồ côi cùng với sự chung tay góp sức của toàn xã hội, sự sẻ chia, giúp đỡ của bè bạn quốc tế. Tuy nhiên, là một đất nước còn nghèo, trải qua nhiều năm chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… NKT nói chung và NKTVĐ nói riêng, trong đó có TEKTVĐ ở nước ta chiếm số lượng lớn. Theo báo cáo của Bộ Lao động – TBXH về thực trạng người khuyết tật tại Việt Nam tính đến tháng 1 6/2015 cho thấy, trong 7 triệu NKT, thì NKTVĐ chiếm đông nhất, khoảng 2 triệu người, số TEKTVĐ chiếm khoảng 1,2 triệu trẻ [17]. Tỉnh Thanh Hóa là tỉnh đất rộng người đông, số lượng NKT chiếm số lượng lớn 139.980 NKT, trong đó TEKT là 33.040 trẻ và TEKTVĐ là 7.932 trẻ [34;35]. TEKTVĐ thường phải sống trong sự kì thị, phân biệt đối xử của mọi người xung quanh, kết hợp với mặc cảm tự ti về bản thân mình, khiến nhiều trẻ em khuyết tật không đến các nơi công cộng vì sợ những ánh mắt để ý; không dám đến trường vì sợ bạn bè trêu chọc… Bên cạnh đó, một thực tế chỉ ra rằng, đa số TEKTVĐ đều sống trong nghèo khó và dễ bị bạo hành hoặc lạm dụng; bị đối xử vô trách nhiệm, ngược đãi hay bóc lột; trong khi đó, việc tiếp cận với sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp lại gặp nhiều trở ngại vì những lý do khách quan và chủ quan. Có thể thấy, TEKTVĐ thực sự phải trải qua nhiều khó khăn, phải đối mặt với nhiều rào cản để được hưởng trọn vẹn những quyền vốn có của mình. Rào cản này không chỉ nằm ở bản thân của sự khuyết tật, mà còn là tổng hợp những trở ngại về mặt xã hội, văn hóa, quan điểm và cả về vật chất mà TEKT phải đối mặt trong đời sống hàng ngày. Bên cạnh đó, hiện nay Nghề CTXH đang phát triển mạnh và sâu rộng tại nước ta mà cụ thể là ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án "phát triển nghề Công tác xã hội" giai đoạn 2010-2020” [44] với mục tiêu của Đề án là nâng cao nhận thức của xã hội về NCTXH; phát triển CTXH trở thành một nghề; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với hình thành và phát triển hệ thống cơ sở cung cấp DVCTXH tại địa phương, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Điều đó khẳng định một chính sách đúng đắn, hiệu quả của nhà nước ta trong việc đảm bảo an sinh xã hội, song công tác triển khai các hoạt động CTXH cho các đối tượng yếu thế tại tỉnh 2 Thanh Hóa đang còn hạn chế và nhiều bất cập. Do đó để tìm hiểu những nhu cầu và khó khăn của TEKTVĐ; chính sách, hoạt động trợ giúp CTXH cá nhân với TEKTVĐ để từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động CTXH đối với TEKTVĐ nhằm giúp cho đời sống của các em ngày một tốt hơn, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đó là lý do để tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ. 2. Tình hình nghiên cứu Tác giả Đặng Thị Thu Trang (2016) nghiên cứu về: “Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay” đề tài làm rõ những quy định về quyền trẻ em có HCĐBKK và thực tiễn pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện các quyền trẻ em có HCĐBKK ở Việt Nam [45] Đỗ Thị Liên (2014) với nghiên cứu về “Công tác xã hội đối với Người khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Thanh Hóa”, tác giả đã đánh giá thực trạng hỗ trợ NKT tại Thành phố Thanh Hóa và đưa những khuyến nghị DVCTXH phù hợp để thực hiện quá trình trợ giúp cho NKT [10] Nguyễn Thị Kim Hoa (2009) trong hội thảo khoa học Quốc tế về “Phát triển CTXH tại Việt Nam” đã đưa ra những nhu cầu can thiệp dưới góc độ CTXH đối với nhóm đối tượng yếu thế. Đồng thời tác giả đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ làm CTXH tại Việt Nam đang còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng và làm rõ nhu cầu trong hoạt động đào tạo CTXH cho đội ngũ nhân viên để nâng cao trình độ đáp ứng với nhiệm vụ được tốt hơn [4] Nghiên cứu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) (2013) về tình hình TEKT tại Việt Nam đã cung cấp số liệu về TEKT, tỷ lệ TEKT tại các vùng miền, thực 3 trạng chính sách trợ giúp TEKT [17], nghiên cứu trên đã cho chúng ta có cái nhìn khá cụ thể và đầy đủ về tình hình TEKT tại Việt Nam. Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh “Về người tàn tật và đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2006- 2010” của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm (2010) về việc ban hành các văn bản pháp luật, triển khai thực hiện các chính sách, chế độ trợ giúp NKT, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, xã hội và gia đình đối với NKT đã từng bước được nâng cao; quyền và nghĩa vụ của họ đã được quy định tương đối đầy đủ, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trợ giúp, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của đa số NKT. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CTXH, CTXHCN, NKT, TEKT và TEKTVĐ đồng thời đánh giá thực trạng CTXHCN với TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao CTXHCN đối với TEKTVĐ nói chung và TEKTVĐ tại tỉnh Thanh Hóa nói riêng. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXHCN, TEKTVĐ, CTXHCN đối với TEKTVĐ. - Tìm hiểu, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến CTXHCN đối với TEKTVĐ từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa. - Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXHCN đối với TEKTVĐ trên cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu CTXHCN với TEKTVĐ từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa. 4 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn CTXHCN với TEKTVĐ và gia đình trẻ. Phạm vi về khách thể: nghiên cứu trên 50 TEKTVĐ từ 6 tuổi đến 16 tuổi; 50 gia đình trẻ và 30 cán bộ làm việc với TEKTVĐ. Phạm vi về địa bàn: TEKTVĐ tại huyện Hoằng Hóa và Trung tâm cung cấp DVCTXH tỉnh Thanh Hóa 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận: Nghiên cứu lý luận từ thực tiễn và đánh giá thực tiễn để làm sáng tổ thêm về lý luận. Nghiên cứu đối tượng là TEKTVĐ, gia đình trẻ và môi trường của trẻ; Nghiên cứu các hoạt động CTXHCN; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXHCN với TEKTVĐ. 5.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích tài liệu:Phương pháp điều tra bảng hỏi:Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp quan sát; Phương pháp xử lý và thu thập thông tin 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn - Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và những đặc điểm của hoạt động CTXHCN đối với TEKTVĐ. - Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng hoạt động CTXHCN đối với TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. - Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện CTXHCN đối với TEKTVĐ. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung nhận thức lý luận về thực hiện pháp luật và đề xuất những giải pháp phù hợp trong quá trình hoạch định chính sách, triển khai chính sách, làm tài liệu tham khảo tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực TEKT, TEKTVĐ và 5 chính sách chăm sóc sức khỏe cho TEKT, TEKTVĐ ở Việt Nam nói chung, tỉnh Thanh Hóa nói riêng. 7. Cơ cấu luận văn Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về CTXHCN đối với TEKTVĐ. Chương 2: Thực trạng CTXHCN đối với TEKTVĐ địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả CTXHCN đối với TEKTVĐ. Chương 1 LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1.1. Một số lý luận về trẻ em khuyết tật vận động 1.1.1. Một số khái niệm 1.1.1.1. Khái niệm trẻ em Theo pháp luật quốc tế: "Trẻ em là những người dưới 18 tuổi" (Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 2017) [7]. Công ước giải thích rõ thêm định nghĩa này bằng cách nhắc lại điều đã nêu trong tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 "Trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời". Theo pháp luật Việt Nam: "Trẻ em là người dưới 16 tuổi" (Điều 1, Luật trẻ em 2016) [24] 1.1.1.2. Khái niệm người khuyết tật: Theo Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006), Điều 1 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh 6 hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xă hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [2] Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật này thì “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm ch c năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, h c tập gặp khó khăn”[23] 1.1.1.3. Khái niệm trẻ khuyết tật Là những đứa trẻ bị tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học tập, vui chơi và lao động. TKT có thể tham gia các hoạt động như mọi thành viên khác trong cộng đồng. Theo Luật người khuyết tật, người ta chia thành 6 dạng tật: Trẻ em khuyết tật vận động; Trẻ em khuyết tật nghe, nói; Trẻ em khuyết tật nhìn; Trẻ em khuyết tật thần kinh, tâm thần; Trẻ em khuyết tật trí tuệ; Trẻ em khuyết tật khác. 1.1.1.4. Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động Là những trẻ có sự tổn thất các chức năng làm cản trở đến việc di chuyển, vận động của trẻ từ đó làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của trẻ Trẻ khuyết tật vận động có thể phân ra làm hai dạng dưới góc độ khác nhau: - Những trẻ bị hội chứng não thường là trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, sinh hoạt. 7 - Những trẻ do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt nhưng não bộ của trẻ vẫn bình thường là trẻ gặp khó khăn trong di chuyển, vận động nhưng vẫn có khả năng học tập tốt. 1.1.2. Đặc điểm nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động Đối với TEKTVĐ do sự thiếu hụt về thể chất dẫn đến khả năng vận động bị giảm sút nên trẻ gặp nhiều trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập... khó khăn trong giao tiếp với môi trường xung quanh. Bản thân trẻ thì dễ bị kích động do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng, tâm lí mặc cảm tự ti luôn cho rằng số phận mình không được may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình. Do đó họ thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người. Trong quá trình tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng và hay tự ái. Nếu sống trong những gia đình khó khăn trẻ có thể bị bỏ rơi. TEKTVĐ cũng có nhu cầu cơ bản và khả năng nhất định tuy nhu cầu ở những mức độ khác nhau so với trẻ em bình thường, đầu tiên có thể kể đến nhu cầu về chăm sóc nuôi dưỡng đặc biệt; nhu cầu được khám chữa bệnh, phục hồi chức năng; Nhu cầu được yêu thương, hòa nhập cộng đồng; Nhu cầu được tôn trọng, đánh giá, được khuyến khích và động viên; Nhu cầu được giúp đỡ để phát triển và hoàn thiện dần. 1.2. Một số lý luận về công tác xă hội cá nhân đối với TEKTVĐ 1.2.1. Khái quát chung về CTXH. Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của h ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của h 8 Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010): CTXH được xem là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ng nhu cầu và tăng cường ch c năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [tr.4;11] Mục đích của CTXH là hướng đến nâng cao năng lực cho các nhóm đối tượng như cá nhân, gia đình và cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời cải thiện môi trường xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện các chức năng, vai trò của họ có hiệu quả từ đó giúp họ giải quyết các vấn đề ngăn ngừa họ không rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Công tác xã hội có 4 chức năng: chức năng chữa trị, chức năng phòng ngừa, chức năng phục hồi và chức năng phát triển. CTXH với các phương pháp như CTXH cá nhân; Phương pháp CTXH nhóm; Phát triển cộng đồng; Quản trị công tác xã hội; Nghiên cứu trong công tác xã hội. Như vậy CTXH cá nhân là một trong phương pháp thực hành của CTXH. 1.2.2. Một số lý luận về công tác xã hội cá nhân Theo tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2011) khái quát lại khái niệm CTXHCN như sau: CTXHCN là phương pháp của CTXH thông qua tiến trình giúp đỡ khoa h c và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình. Trong tiến trình này NVCTXH cần biết vận dụng nền tảng kiến th c khoa h c tâm lý h c, xã hội h c và các khoa h c xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng, tuân thủ đạo đ c nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ h tự giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai[tr27;12] Như vậy CTXHCN có một số đặc điểm sau: 9 - Là một phương pháp trợ giúp trong CTXH thông qua mối quan hệ tương tác trực tiếp 1-1 mà ở đó NVCTXH sử dụng các kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề CTXH để thực thi các hoạt động cụ thể như: tham vấn, quản lý trường hợp, hỗ trợ xử lý stress, can thiệp khủng hoảng, biện hộ bảo vệ quyền lợi, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực… - Mục đích của CTXHCN: Là giúp cho cá nhân giải quyết vấn đề của họ khi gặp khó khăn về tâm lý, kinh tế, việc làm…và thúc đẩy các chính sách xã hội giúp thân chủ được đảm bảo những quyền của họ. - Đối tượng trợ giúp của CTXHCN: là những cá nhân, gia đình trong hoàn cảnh khó khăn như: NKT, nghèo đói, người cao tuổi, trẻ em có HCĐBKK, đối tượng bạo hành… - CTXHCN được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc của CTXH như: Chấp nhận thân chủ; Thái độ không kết án; Tôn trọng quyền tự quyết của bản thân; Khuyến khích thân chủ tham gia giải quyết vấn đề; Cá nhân hóa; Giữ bí mật cho thân chủ và Sự can dự có kiểm soát. - CTXHCN được diễn ra theo một tiến trình các bước bao gồm: Tiếp cận và xác định vấn đề ban đầu; Thu thập thông tin; chuẩn đoán; lập kế hoạch trị liệu và thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch. 1.2.3. Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khuyết tật vận động 1.2.3.1. Khái quát về CTXHCN với TEKTVĐ CTXHCN với TEKTVĐ là hoạt động trợ giúp mà ở đó nhân viên công tác xã hội áp dụng hệ thống giá trị đạo đức nghề CTXH, các kiến thức, kỹ năng của CTXHCN vào trợ giúp TEKTVĐ và gia đình trẻ giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của TEKTVĐ đồng thời thúc đẩy chính sách trợ giúp TEKTVĐ. Mục đích của CTXHCN với TEKTVĐ: Là nhằm hỗ trợ bản thân TEKTVĐ được chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, hòa nhập cộng đồng, 10 được tiếp cận với các dịch vụ CTXH nhằm phát triển và hoàn thiện về nhân cách và thể lực cho trẻ. Các hoạt động của CTXHCN với TEKTVĐ: Hoạt động tham vấn trợ giúp TKTVĐ và gia đình trẻ; Hoạt động Quản lí trường hợp với những ca TKTVĐ; Hoạt động biện hộ nhằm trợ giúp, bảo vệ quyền lợi cho trẻ và gia đình trẻ; Hoạt động hỗ trợ trẻ và gia đình tiếp cận các chính sách và tiếp cận nguồn lực. Các nguyên tắc công tắc xã hội cá nhân khi làm việc với TEKTVĐ: Tôn trọng TEKTV; Chấp nhận sự khác biệt của TEKTVĐ; Tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề vấn đề của TEKTVĐ; Trung thực, chân thành với TEKTVĐ 1.2.3.2. Một số hoạt động cụ thể trong CTXHCN với TEKTVĐ - Hoạt động tham vấn trẻ và gia đình trẻ KTVĐ - Hoạt động Quản lí trường hợp TEKTVĐ - Hoạt động biện hộ cho TEKTVĐ và gia đình trẻ - Hoạt động tiếp cận nguồn lực cho trẻ và gia đình trẻ 1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với TEKTVĐ - Trình độ chuyên môn của nhân viên công tác xã hội - Yếu tố định kiến xã hội - Yếu tố bản thân TEKTVĐ và gia đình trẻ - Yếu tố cơ chế chính sách - Yếu tố sự phối hợp của các bên hữu quan 1.3. Cơ sở pháp lý về công tác xă hội đối với trẻ em khuyết tật vận động 1.3.1. Những văn bản Quốc tế liên quan đến người khuyết tật và trẻ em khuyết tật vận động bao gồm: 11 1.3.2. Luật pháp, chính sách, dịch vụ liên quan tới trợ giúp người khuyết tật nói chung và công tác xã hội cá nhân cho người khuyết tật ở Việt Nam Tiểu kết Chương 1 Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TỈNH THANH HÓA 2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa Thanh Hoá là tỉnh nằm ở khu vực Bắc Trung bộ, có diện tích 11.168 km2, chia thành 3 vùng rõ rệt là: trung du miền núi, đồng bằng và ven biển, với có 27 đơn vị hành chính, gồm 24 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố… Tỉnh Thanh Hoá có 3.496.600 người, là tỉnh có số dân đông thứ ba trong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội) và là tỉnh đông dân nhất so với sáu tỉnh Bắc Trung Bộ. Thanh Hoá là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất cả nước với 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương, có 577 xã, 30 phường, 28 thị trấn và 6.031 thôn, xóm, bản làng; trong đó có 184 xã miền núi và 12 thị trấn miền núi (số liệu năm 2016). Tỉnh có 6 huyện, thị xã thuộc vùng ven biển, 11 huyện thuộc vùng núi và 10 huyện, thị xã, thành phố thuộc vùng đồng bằng. Tỉnh ta có mật độ dân số là 314 người/km2. Riêng thành phố Thanh Hoá có mật độ là 2.384 người/km2, các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương có mật độ trên 1.100 người/km2. Trong khi đó tại các huyện miền núi như Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá có mật độ thấp, chỉ từ 39 người đến 46 người/km2. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2016 theo giá so sánh năm 2010 tăng 8,39% so cùng kỳ (năm 2015 tăng 8,26% so với cùng kỳ); Tổng sản phẩm theo giá hiện hành bình quân đầu người năm 2016 ước đạt 30,8 triệu đồng; nếu tính theo đô la Mỹ đạt 1.425 USD [3] 12 2.2. Thực trạng người khuyết tật và trẻ khuyết tật vận động trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. 2.2.1. Thực trạng trẻ KTVĐ Theo Sở LĐ-TBXH tỉnh Thanh Hóa tính đến 31/12/2016 toàn tỉnh có 139.980 NKT trong đó NKT vận động là 51.108 người; nghe nói 12.802 người; Khuyết tật nhìn 20.624 người, khuyết tật thần kinh, tâm thần 27.891 người, khuyết tật trí tuệ 10.783 người và khuyết tật khác 16.772 người. Trong đó 21.871 NKT đặc biệt nặng; 77.725 NKT nặng và 40.384 NKT nhẹ; NKT trong độ tuổi lao động là 63.342 người và NKT cao tuổi (trên 60 tuổi) là 76.638 NKT. Số TEKT là 33.040 trẻ, trong đó: TEKTVĐ 7.932 em; TEKT nhìn 3.474 trẻ; TEKT nghe nói 5.199 trẻ; TEKT trí tuệ 5.444 trẻ; TEKT thần kinh - tâm thần 8.436 trẻ; TEKT khác 2.555 trẻ [34;35] 2.2.2. Những khó khăn của TE KTVĐ và gia đình trẻ So với giai đoạn tuổi mẫu giáo, trẻ ở độ tuổi từ 06 đến 16 tuổi đang phát triển đáng kể về não bộ, hệ thần kinh, hệ xương, hoạt động của tim mạch, hệ thần kinh, dậy thì… trẻ có nhiều thay đổi về hoạt động thay vì hoạt động vui chơi là chủ yếu thì giai đoạn này hoạt động học tập đóng vai trò là chủ đạo, bên cạnh đó các em có thay đổi rõ nét về mặt nhận thức nên giai đoan này tâm lý của khá đông TEKTVĐ mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bạn cùng trang lứa. Nhiều TEKTVĐ rất nhạy cảm hay mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể của mình đến nỗi chẳng muốn vươn lên, vượt qua và hòa nhập. Mặt khác do cơ thể có nhiều khiếm khuyết, nên việc đáp ứng và tự đáp ứng nhu cầu của TEKTVĐ còn đang gặp rất nhiều khó khăn. Bởi hiện tại TEKTVĐ rất khó khăn về nhiều mặt trong đó có học tập, y tế, kỳ thị, tiếp cận giao thông công cộng, kinh tế gia đình... Những khó khăn đó tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một vòng luẩn quẩn. Cản trở lớn nhất với 13 người khuyết tật là kỳ thị, nó là rào cản vô hình nhưng tàn nhẫn đẩy nhiều người ra bên lề của cuộc sống. Bên cạnh đó gia đình TEKTVĐ cũng gặp không ít những khó khăn như tốn kém trong việc đưa con đi điều trị bệnh tật, nhiều gia đình TEKTVĐ không được chia sẻ từ cộng đồng xung quanh, nhiều người còn nhìn gia đình có TEKTVĐ với ánh mắt không mấy thiện cảm nên tâm lí những người có con bị khuyết tật luôn sống trong tâm trạng buồn chán, căng thẳng, mệt mỏi. Ngoài ra các gia đình có con bị khuyết tật thường ở vùng sâu, vùng xa khó khăn trong việc đi lại và tiếp cận với các dịch vụ xã hội nên không biết cách chăm sóc trẻ. Thanh Hóa là tỉnh đông dân cư, địa bàn đi lại khó khăn, phức tạp chính vì thế TEKTVĐ và gia đình trẻ gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các hệ thống chính sách nên nhiều TEKTVĐ vẫn chưa được hưởng chế độ trợ cấp, bên cạnh đó một số cán bộ LĐ-TBXH tại địa phương trình độ yếu, thiếu trách nhiệm không quan tâm hướng dẫn cho gia đình trẻ em khuyết tật làm thủ tục để hưởng chế độ cho các em. Sự kì thị của cộng đồng cũng là một khó khăn đối với các em. Có người dù chưa nhìn thấy đứa trẻ, mới chỉ nghe thấy cái tên được gắn với “cái nhãn” bị một khuyết tật nào đó người ta đã suy nghĩ ngay rằng đứa trẻ này kém cỏi, thua kém bạn bè, hoặc yếu hoặc không học được, không lao động được, năng lực và nhu cầu yếu kém, là người thừa của xã hội, cần được cưu mang. 2.2.3. Nhu cầu của trẻ KTVĐ và gia đình trẻ Nhu cầu của TEKTVĐ bao gồm: nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng; nhu cầu được đi học, vui chơi ;nhu cầu về mặt kiến thức, kỹ năng; Nhu cầu được yêu thương, chăm sóc; Nhu cầu được giáo dục hòa nhập ; nhu cầu được tham vấn, tư vấn ; nhu cầu tham gia giao thông công cộng; Nhu cầu trợ giúp pháp lý 14 2.3. Thực trạng CTXH cá nhân với TEKTVĐ tại tỉnh Thanh Hóa 2.3.1. Thực trạng hoạt động tham vấn cho TEKTVĐ * Hình th c hỗ trợ tham vấn cho TEKTVĐ và gia đình trẻ 35% Gặp gỡ, trò chuyện trực tiếp 65% Tư vấn qua điện thoại Biểu đồ. Các hình th c tham vấn Nhìn vào biểu đồ 2.6 ta thấy, ở địa phương hình thức tham vấn gặp gỡ, trò chuyện trực tiếp chiếm cao nhất là 65%, hình thức tư vấn qua điện thoại 35%. * Nội dung tham vấn cho TEKTVĐ và gia đình trẻ Kết quả khảo sát biểu đồ 2.7 cho thấy, TEKTVĐ cần tham vấn về chăm sóc sức khỏe chiếm 32%, giáo dục hòa nhập 25 %, hòa nhập cộng đồng chiếm 19%, kỹ năng sống, tâm lý, tình cảm chiếm 15% và học nghề, việc làm 9%. 9% 19% Các kỹ năng sống 15% Chăm sóc sức khỏe, y tế Tham gia hòa nhập cộng đồng 25% Tâm lý, tình cảm 32% Giáo dục, học nghề, việc làm Biểu đồ : Các nội dung tham vấn 15 * Đánh giá về tham vấn cho TEKTVĐ và gia đình trẻ 8% Rất hài lòng 13% 29% Hài lòng Bình thường 15% Không hài lòng Chưa được hỗ trợ tâm lý 35% Biểu đồ 2.8. M c độ hài lòng về hoạt động tham vấn Kết quả khảo sát biểu đồ 2.8 cho thấy, TEKTVĐ và gia đình trẻ rất hài lòng về hình thức, nội dung tham vấn của NVCTXH chiếm 29%, hài lòng 35%, bình thường chiếm 15%, không hài lòng 13% và chưa được hỗ trợ tâm lý 8%. Tóm lại: có thể nói hoạt động tham vấn – xã hội cho TEKTVÐ và gia đình trẻ là một hoạt động rất thiết thực. Thông qua hoạt động này đã giúp cho TEKTVĐ và gia đình trẻ có thể chia sẻ những khó khăn đang gặp phải trong cuộc sống, có cách nhìn nhận các vấn đề hiện tại của bản thân được tốt hơn và quan trọng là được trợ giúp, tiếp cận với các DVCTXH để có thể tham gia hòa nhập cộng đồng và vượt qua những khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Tuy nhiên chúng ta cũng phải đưa ra các giải pháp thiết thực nhất để khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong hoạt động tham vấn tại cộng đồng 2.3.2. Thực trạng hoạt động Quản lí trường hợp cho TEKTVĐ Quản lý trường hợp là một quá trình tổ chức dịch vụ giúp đỡ đối tượng giải quyết vấn đề khó khăn của họ một cách hiệu quả. Trong quá t nh này, nhân viên xã hội làm nhiệm vụ điều phối các dịch vụ xã hội để hỗ trợ thân chủ vượt qua những khó khăn về thể chất và tinh thần, các mối 16 quan hệ xă hội nhằm giúp họ phục hồi các chức năng xã hội, phòng chống các vấn đề có thể xảy ra. Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh Thanh Hóa hoạt động quản lí trường hợp đang triển khai sâu rộng trên địa bàn các huyện và đã đạt được những hiệu quả rất khích lệ. 600 500 500 512 456 386 400 300 200 100 0 2013 2014 2015 2016 Biểu đồ . Kết quả hoạt động quản lí trường hợp (Nguồn: báo cáo Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH năm 2016) Đối với TEKTVĐ và gia đình trẻ luôn được xã hội quan tâm, để hiểu rõ các bước trong quản lí trường hợp tác giả luận văn khảo sát hoạt động quản lí cho trẻ KTVĐ tại Huyện Hoằng Hóa và Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội. Cụ thể như sau: - Tiếp nhận thông tin TEKTVĐ - Đánh giá nhu cầu hỗ trợ của trẻ KTVĐ - Thực trạng xây dựng các hoạt động can thiệp - Triển khai giám sát, rà soát các hoạt động hỗ trợ - Lượng giá 2.3.3. Hoạt động biện hộ cho trẻ KTVĐ và gia đình trẻ Biện hộ là phương pháp tiếp cận dựa trên quyền. Do đó để biện hộ cho trẻ KTVĐ và gia đình trẻ đạt hiệu quả cao đòi hỏi NVCTXH cần trang bị các kiến thức về luật pháp, chính sách dành cho trẻ KTVĐ và gia đình trẻ, hiểu biết các khó khăn cản trở đối với việc tìm hiểu về chính sách pháp 17 luật của gia đình trẻ để đưa ra được các giải pháp hỗ trợ tăng cường năng lực kịp thời, qua đó hỗ trợ gia đình trẻ các phương pháp làm việc với các cơ quan có liên quan tới vấn đề để gia đình trẻ có thể tự biện hộ cho trẻ KTVĐ. Kết quả biện hộ cho TEKTVĐ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ thực trạng nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác phát triển nghề công tác xã hội đang còn hạn chế dẫn đến số lượng TEKTVĐ và gia đình trẻ được hỗ trợ từ hoạt động biện hộ đang còn ít, sự nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, vai trò, mục đích biện hộ trong công tác xã hội dẫn đến nhiều gia đình trẻ KTVĐ khi NVCTXH đến tận gia đình để thu thập thông tin, đánh giá vấn đề để thực hiện hoạt động biện hộ đều bị từ chối không muốn để nhân viên CTXH trợ giúp. Điều đó làm ảnh hưởng rất nhiều trong công tác biện hộ cho trẻ KTVĐ và gia đình trẻ. 30.0% 24.6% 25.0% 20.0% 15.0% 19.2% 17.1% 14.7% 16.5% 10.0% 7.9% 5.0% 0.0% Biện hộ Biện hộ quyền Biện hộ quyền Biện hộ Biện hộ quyền Biện hộ quyền quyền chính trẻ em giáo dục quyền pháp lý chăm sóc sức kết nối nguồn sách hòa nhập xã khỏe lực hội Biểu đồ.. Tỉ lệ các hoạt động biện hộ 2.2.4. Hoạt động vận động và kết nối nguồn lực cho TEKTVĐ Với địa hình phức tạp, đi lại khó khăn, số lượng NKT nói chung và TEKTVĐ nói riêng trên địa bàn nhiều. Trong khi đó phần lớn TEKTVĐ đều thuộc gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hạn chế trong việc tiếp cận các thông tin dẫn đến việc tiếp cận các nguồn lực chưa được nhiều. 18
- Xem thêm -