Tài liệu Công tác tài chính của công ty bách hoá hà nội

  • Số trang: 39 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 207 |
  • Lượt tải: 0
minhminh

Đã đăng 411 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Công tác tài chính của công ty Bách hoá Hà Nội Lời nói đầu Sau hơn mười năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta có những bước phát triển đáng kể. Sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường đã có tác động không nhỏ đến quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước phải chuyển sang thực hiện hạch toán kinh doanh độc lập, tự chủ về mặt tài chính và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình. Do đó, toàn bộ các doanh nghiệp Nhà nước cũng như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải vạch ra được những chiến lược kinh doanh sao cho có hiệu quả cao để tồn tại được trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường. Một trong các công tác quan trọng góp phần quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là công tác tài chính - kế toán. Trước hết, công tác kế toán trong nền kinh tế hiện nay có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý các hoạt động kinh tế, kiểm tra và bảo vệ tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp thương mại cũng như các doanh nghiệp sản xuất. Đồng thời, kế toán đưa ra những thông tin, số liệu chính xác đáng tin cậy để Nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô và để các khách hàng của doanh nghiệp căn cứ vào đó mà có các quyết định cộng tác với doanh nghiệp. Bên cạnh đó công tác tài chính cũng đóng một vai trò không thể thiếu trong các doanh nghiệp vì nó liên quan đến việc doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn có hiệu quả không? Sự quay vòng vốn nhanh hay chậm? Sự phân phối lợi nhuận có hợp lý hay không?.... Như vậy, công tác Tài chính - Kế toán là hai yếu tố như nhau và chúng ta phải biết kết hợp hai yếu tố này sao cho thật hài hoà và hợp lý. Phần I Tổng quan về công ty I. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước, ngày 28/09/1954 Bộ Công thương ra Quyết định số 97 thành lập Công ty Bách hoá Hà Nội, với tên gọi ban đầu là Công ty Mậu dịch Bách hoá Hà Nội. Đội ngũ cán bộ công nhân viên ngày đầu thành lập chỉ gồm 20 người, cơ sở vật chất nghèo nàn, trải qua hơn 40 năm hoạt động, Công ty đã có nhiều thay đổi về hình thức tổ chức và tên gọi. Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, để phù hợp với tình hình mới, ngày 23/05/1998 theo Quyết định số 289/QĐUB, UBND thành phố Hà Nội ra quyết định đổi tên thành Công ty Bách hoá Hà Nội và là tên giao dịch hiện nay của Công ty. Ngày nay đội ngũ nhân viên của Công ty gồm 749 người, trong đó 87 người có trình đội Đại học hay tương đương Đại học, 236 người đã có trình độ trung cấp hoặc đã qua đào tạo cơ bản về công tác thương nghiệp. Trong Công ty, lực lượng lao động nữ chiếm 75%. Công ty Bách hoá Hà Nội có trụ sở chính tại 45 phố Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Công ty có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh tế độc lập, được mở tài khoản tại ngân hàng và sử dụng con dấu riêng của Nhà nước. Công ty hoạt động theo điều lệ Công ty do UBND thành phố Hà Nội phê duyệt. II. Chức năng nhiệm vụ của công ty. 1. Chức năng của Công ty. - Tổ chức các quá trình nghiệp vụ kỹ thuật kinh doanh thương mại bao gồm: nghiên cứu thị trường, khai thác nguồn hàng dự trữ và bảo quản hàng hoá, quảng cáo và giới thiệu sản phẩm, bán hàng cho các đơn vị trực thuộc và người tiêu dùng. - quản lý mọi mặt của Công ty: quản lý kế hoạch lưu chuyển hàng hoá, báo cáo tiếp thị, quản lý việc sử dụng vốn, lao động, quản lý về cơ sở vật chất, kỹ thuật, quản lý công tác kế toán. 2. Nhiệm vụ của Công ty Thực hiện theo mục đích kinh doanh đúng như theo quyết định thành lập Công ty. Kinh doanh những mặt hàng đăng ký, phục vụ nhu cầu của khách hàng nhằm kinh doanh có lãi. Bảo toàn và phát triển vốn được giao, quản lý tốt lao động trong công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, công ty đã không ngừng phấn đấu lớn mạnh và đã đạt được nhiều thành quả đáng kể. Cho đến nay, Công ty Bách hoá Hà Nội là một trong những doanh nghiệp thương nghiệp lớn, doanh số hàng năm chiếm khoảng 25-25% doanh thu của toàn ngành thương nghiệp thành phố. Đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn quản lý. Về cơ sở vật chất, từ chỗ chỉ có 03 cửa hàng tập trung ở khu vực Bờ Hồ Hoàn Kiếm với trang thiết bị nghèo nàn, ngày nay mạng lưới kinh doanh của Công ty đã trải rộng khắp các quận nội thành và ven đô. Hệ thống các cửa hàng, trung tâm thương mại đều đã được nâng cấp và trang bị hiện đại. III. Đặc điểm về tổ chức hoạt động kinh doanh của Công ty. Là một doanh nghiệp thương mại với mặt hàng kinh doanh chính là hàng tiêu dùng, hoạt động do vốn của Nhà nước cấp và vốn tự có. - Mặt hàng kinh doanh: bao gồm tất cả các ngành hàng tiêu dùng như văn phòng phẩm, bánh kẹo, may mặc, đồ da dụng,... - Phương thức kinh doanh: + Bán buôn: bao gồm bán buôn cho các đầu mối bán lẻ và các đơn vị trực thuộc. + Bán lẻ: diễn ra chủ yếu ở các cửa hàng bách hoá và các siêu thị. - Nguồn hàng chủ yếu: Công ty có quan hệ bạn hàng ở khắp nơi trong nước như: Công ty Bánh kẹo Hải Hà, Kim khí Thăng Long, Công ty Đường Biên Hoà. Chính nhờ có nguồn hàng phong phú như vậy nên Công ty luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường. - Mạng lưới kinh doanh: Trụ sở chính của Công ty ở 45 Hàng Bồ, đây là nơi thâu tóm mọi hoạt động kinh doanh của Công ty, duy trì hoạt động của các đơn vị cơ sở ở khắp nơi trong thành phố. Hệ thống đơn vị trực thuộc của Công ty nằm rải rác ở nhiều khu vực, bao gồm: + 12 cửa hàng bách hoá: Giảng Võ, Đồng Xuân, phố Huế, Bờ Hồ, Kim Liên, Hàng Gai, Hàng Đào, Ngã Tư Sở, Nguyễn Công Trứ, Chợ Mơ, Thanh Xuân, Yên Phụ. + Các bộ phận kinh doanh: Trạm kinh doanh I, Trạm kinh doanh II, Trung tâm Thương Mại Bờ Hồ,... Hầu hết các cửa hàng đều nằm ở vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh, luân chuyển hàng hoá. Mạng lưới các đơn vị kinh doanh được lãnh đạo Công ty đôn đốc, theo dõi sát sao, mọi chính sách, chế độ đều được thông báo kịp thời xuống các đơn vị để đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ. IV. Đặc điểm tổ chức bộ máy kinh doanh của Công ty Kể từ lúc bắt đầu thành lập cho đến nay, bộ máy kinh doanh của Công ty đã có nhiều thay đổi để phù hợp với đặc điểm kinh doanh của Công ty và sự thay đổi của cơ chế thị trường. Sơ đồ tổ chức bộ máy kinh doanh hiện nay của Công ty có thể được thể hiện như sau: BanGiám Giám  Ban Giám đốc: Gồm 01 Phó đốcđốc phụ trách điều hành hoạt động của Công ty.  Hệ thống các phòng ban bao gồm: P.Tài chính - C.hàng Bách hoá Phòng Thanh tra V.phòng Công ty Trung tâm Phòng Kinh P. Tổ chức - Tổng kho Trạm kinh - Phòng tài chính kế toán: Thực hiện công tác hạch toán kế toán của toàn Công ty, quản lý tài chính, theo dõi tình hình sử dụng vốn, tình hình thu chi, lập báo cáo tài chính. - Phòng Thanh tra: Thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát, giám đốc các hoạt động của các phòng ban, hoạt động của các cửa hàng, bộ phận cá thể của công ty. - Phòng Kinh doanh: Tiến hành các hoạt động nghiên cứu, đánh giá nhu cầu mong muốn chưa được thoả mãn của người tiêu dùng để xác định chiến lược Marketing Mix cho thị trường của công ty. Tổ chức hợp lý việc quản lý nguồn hàng, thực hiện ký kết hợp đồng với các bạn hàng,... - Phòng Tổ chức hành chính: Quản lý bộ máy hành chính, phân bổ mạng lưới kinh doanh, hợp lý hoá việc sử dụng lao động,...  Các đơn vị trực thuộc: Tại các cửa hàng bách hoá, trạm kinh doanh, trung tâm thương mại,... đều có các cán bộ lãnh đạo, quản lý hoạt động kinh doanh của đơn vị và đội ngũ nhân viên đảm nhận các công việc cụ thể. Các đơn vị trực thuộc Công ty không có tư cách pháp nhân, mọi đề xuất và phương án kinh doanh đều phải thông qua Công ty xét duyệt. Các đơn vị được cung cấp vốn, có nhiệm vụ hoạt động kinh doanh để bảo toàn và phát triển vốn được giao. Đơn vị phải chịu trách nhiệm trước Công ty về mọi hoạt động của mình. Định kỳ, thủ trưởng các đơn vị sẽ lên báo cáo về tình hình kinh doanh của mình. V. Đặc điểm tổ chức kế toán của Công ty. 1. Chức năng nhiệm vụ của Phòng Kế toán. Phòng kế toán có các chức năng, nhiệm vụ sau: - Lập và quản lý kế hoạch thu chi tài chính, đôn đốc chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện kế toán toàn Công ty. - Quản lý vốn, quỹ toàn Công ty, tham gia lập phương án điều hoà vốn và điều tiết thu nhập trong Công ty. - Tham gia giao nhận, bảo toàn và phát triển vốn của Công ty. - Duyệt quyết toán tài chính cho các đơn vị cơ sở. - Tổng hợp quyết toán tài chính và báo cáo lên cấp trên theo chế độ quy định. - Tham gia xây dựng và quản lý mức giá trong Công ty. - Kiểm tra, hướng dẫn các nghiệp vụ tài chính - kế toán. Đảm bảo cung cấp các thông tin kinh tế kịp thời chính xác, đầy đủ để kế toán là công cụ quản lý của Công ty. 2. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán Do là một đơn vị kinh doanh nên công ty chọn mô hình kế toán vừa tập trung vừa phân tán được minh hoạ bằng sơ đồ sau đây: Kế toán trưởng Thủ quỹ P.Phòn g kiêm kế Kế toán chi Kế toán ở đơn vị Kế toán vốn bằng Kế toán tiền lương Kế toán thanh toán Kế toán ở đơn vị Bộ máy kế toán ở Phòng Kế toán Công ty được tổ chức khá gọn nhẹ và khoa học. Phòng gồm 01 kế toán trưởng, 01 phó phòng và 06 nhân viên kế toán. Mỗi thành viên trong phòng đảm nhiệm những nhiệm vụ khác nhau nhưng đều nhằm mục đích chung là theo dõi, kiểm tra, ghi chép, tính toán một cách chính xác, đầy đủ kịp thời tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty. Cụ thể: - Kế toán trưởng: chịu trách nhiệm trước Giám đốc và cấp trên về công tác kế toán của Công ty, là người phụ trách chung, tổng hợp số liệu, lập báo cáo kế toán định kỳ. - Phó phòng kế toán: giúp đỡ kế toán trưởng quản lý, thực hiện tổng hợp, kiểm tra đối chiếu số liệu để lên báo cáo. Ngoài ra còn theo dõi TSCĐ của toàn Công ty trong quá trình hoạt động kinh doanh. - Các kế toán viên có nhiệm vụ theo dõi, quản lý các khâu được giao như: kế toán chi phí, kế toán ngân sách, kế toán tiền lương và bảo hiểm, kế toán vốn bằng tiền,... Đối với các đơn vị trực thuộc Công ty và được phép hạch toán độc lập, bộ máy kế toán được tổ chức tương đối hoàn chỉnh và có nhiệm vụ mở các sổ kế toán theo đúng chế độ quy định, tiến hành hạch toán kinh doanh trong kỳ. Định kỳ, gửi các báo cáo kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh lên Phòng Kế toán Công ty. Còn đối với các đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán tập trung như văn phòng Công ty, trung tâm thương mại, trạm kinh doanh số I, số II, quầy ống nước, cũng có các nhân viên kế toán ghi chép và mở sổ sách kế toán. Định kỳ các đơn vị này sẽ nộp các bảng kê và chứng từ liên quan lên phòng kế toán Công ty. Tại đây, nhân viên kế toán sẽ tổng hợp số liệu của 05 đơn vị này, tính toán, theo dõi và lên báo cáo ở bộ phận hạch toán tập trung. Việc thực hiện hình thức tổ chức kế toán tập trung, vừa phân tán ở Công ty Bách Hoá Hà Nội tạo điều kiện cung cấp thông tin kinh tế chính xác, kịp thời phục vụ cho công tác lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp. 3. Hình thức kế toán áp dụng tại Công ty. Do đặc điểm về hoạt động kinh doanh, lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh ra nhiều và Công ty chưa sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán nên hình thức kế toán áp dụng là hình thức Nhật ký chứng từ. Kế toán căn cứ vào chứng từ gốc và các bảng phân bổ, sau khi kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ, tiến hành ghi Sổ kế toán chi tiết, ghi Bảng kê, Nhật ký chứng từ liên quan. Từ Nhật ký chứng từ, cuối tháng kế toán hạch toán vào Sổ cái các tài khoản tương ứng. Mặt khác, từ các Sổ chi tiết, lập Bảng tổng hợp chi tiết. Định kỳ từ Sổ cái, Bảng tổng hợp chi tiết, Bảng kê, NKCT lập Báo cáo tài chính. VI. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty. Trong những năm gần đây, trong sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, Công ty đã tìm mọi biện pháp để đứng vững và phát triển đi lên. Hàng năm, doanh thu của Công ty không những bù đắp được tất cả các khoản chi phí mà còn đem lại lợi nhuận. Tuy vậy, Công ty cũng còn gặp phải một số khó khăn, trở ngại do đó hiệu quả từ hoạt động kinh doanh của Công ty trong năm 1999 không đạt được hiệu quả cao. Có thể minh hoạ tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trên một số chỉ tiêu qua hai năm hoạt động 1998 - 1999 như sau: Chênh lệch Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 Tỷ lệ Số tiền % 1. Tổng doanh thu 103.280.431.628 106.620.177.068 3.339.745.440 3,234 2. Doanh thu thuần 101.467.118.350 106.620.177.068 5.135.058.718 5,078 3. Giá vốn hàng bán 90.115.981.553 96.596.511.248 6.410.529.695 4. Lợi nhuận gộp 11.351.136.803 10.023.665.820 - 7,114 -11,695 1.327.470.983 5. Tổng chi phí 10.525.619.606 9.425.691.427 - -10,450 1.009.928.179 6. Lợi nhuận từ hoạt động 825.517.197 570.974.393 -254.542.804 -30,830 23.427.566 55.700.447 848.944.763 626.674.840 -222.269.923 -26,182 9. Thuế thu nhập 343.600.000 183.000.000 -160.000.000 -46,74 10. Lợi nhuận sau thuế 505.334.763 443.674.340 -61.659.923 -12,2 kinh doanh 7. Lợi nhuận từ hoạt động 32.227.811 137,564 bất thường 8. Tổng lợi nhuận trước thuế Thông qua một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cho thấy: Tổng doanh thu của Công ty tăng lên, điều đó có nghĩa là Công ty mở rộng quy mô kinh doanh, Công ty cũng đã giảm được tổng chi phí nhưng giá vốn hàng bán của Công ty tăng lên, dẫn đến lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đạt được giảm đi. Do vậy, lợi nhuận sau thuế năm 1999 giảm đi so với năm 1998 là: 61.659.923 đồng. phần II công tác tài chính của công ty I. Phân cấp quản lý tài chính của Công ty. Công ty Bách hoá Hà Nội là một doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn của ngành thương mại Hà Nội, do đó mặt hàng kinh doanh rất đa dạng và phong phú về chủng loại cũng như mẫu mã. Công ty kinh doanh các mặt hàng như Văn phòng phẩm, bánh kẹo, nước giải khát, hàng may mặc, đồ gia dụng, tạp phẩm,... xuất phát từ đặc điểm trên, để giúp Công ty làm tốt công tác tài chính, ban Giám đốc giao cho phòng kế toán kiêm nghiệp quản lý tài chính của Công ty. Kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung công việc của phòng, thay mặt cho phòng quan hệ với lãnh đạo. Tổ chức và chỉ đạo xây dựng kế hoạch tài chính, thường xuyên kiểm tra công việc cán bộ giúp việc, thực hiện các chỉ tiêu của các bộ phận liên quan, theo dõi tình hình thu nhập của cán bộ công nhân viên, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước. Phó phòng kế toán giúp kế toán trưởng quản lý phòng, đồng thời cùng các kế toán viên khác thực hiện nhiệm vụ được giao. Thủ quỹ có trách nhiệm thu - chi tiền mặt hàng ngày, theo dõi, bảo quản quỹ tiền mặt. II. Công tác kế hoạch tài chính. Các hoạt động tài chính của Công ty phải được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính. Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công việc cần thiết giúp cho đơn vị chủ động đưa ra các biện pháp khi có sự biến động của thị trường. Căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của Công ty, kế hoạch tài chính hàng năm được xây dựng gồm: - Kế hoạch khấu hao tài sản cố định. - Kế hoạch thu - chi tiền mặt. - Kế hoạch về quản lý phí, thuế thu nhập, thuế vốn. - Kế hoạch quản lý vốn, quản lý các quỹ trong Công ty. Tổ chức thực hiện kế hoạch gồm cụ thể hoá kế hoạch năm bằng việc lập các kế hoạch ngắn hạn theo từng quỹ. Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ để theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch và báo cáo kịp thời cho Ban giám đốc để điều hành chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch khi cần thiết. Đến cuối năm, làm báo cáo tình hình thực hiện tài chính và mức độ hoàn thành kế hoạch. III. Tình hình vốn và nguồn vốn của Công ty. 1. Tình hình biến động của nguồn vốn chủ sở hữu. Chênh lệch Chỉ tiêu Số đầu năm Số cuối năm Tỷ lệ Số tiền % I. Nguồn vốn kinh doanh 5.060.422.246 5.060.422.246 0 0 1. Ngân sách Nhà nước cấp 3.701.813.423 3.701.813.423 0 0 2. Tự bổ sung 1.358.608.823 1.358.608.823 0 0 -4.425.545 - II. Các quỹ 601.193.180 59.767.635 0,736 1. Quỹ phát triển kinh 393.730.750 433.384.099 39.653.349 10,07 53.000.000 13.000.000 - - 40.000.000 75,47 doanh 2. Quỹ dự phòng tài chính 3. Quỹ khen thưởng phúc 154.462.430 150.383.536 -4.078.894 -2,64 31.693.427 31.693.427 0 0 0 0 0 0 31.693.427 31.693.427 0 0 lợi III. Nguồn vốn đầu tư XDCB 1. Ngân sách cấp 2. Nguồn khác Qua bảng trên ta thấy, vốn chủ sở hữu của Công ty trong năm 1999 hầu như là không có sự biến động lớn. Nguồn vốn kinh doanh của Công ty vẫn giữ nguyên không thay đổi, chỉ có các quỹ của Công ty là có sự thay đổi. Quỹ phát triển kinh doanh của Công ty tăng lên so với đầu năm là 39.635.349 đồng, điều này cho ta thấy Công ty chú trọng cho việc đầu tư mở rộng phát triển kinh doanh trong năm tới. Còn quỹ dự phòng tài chính và khen thưởng, phúc lợi của Công ty lại giảm, riêng quỹ dự phòng tài chính giảm với số tiền và tỉ lệ khá cao, giảm tới 75,47%. Nguồn vốn đầu tư quỹ xây dựng cơ bản ở cuối năm cũng không thay đổi so với đầu năm. 2. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty. Chênh lệch Chỉ tiêu Số đầu năm Số cuối năm Số tiền Tỷ lệ % A. Nợ phải trả 7.764.572.739 9.840.867.388 2.076.294.649 26,74 I. Nợ ngắn hạn 7.745.593.319 9.809.385.883 2.063.792.564 26,64 1. Vay ngắn hạn 1.969.025.000 1.999.406.500 30.381.500 1,54 2. Phải trả người bán 3.719.539.170 6.280.552.452 2.561.013.282 68,85 3. Người mua trả tiền trước 496.542.718 81.853.475 -414.599.243 -88,32 4. Thuế và các khoản phải 398.559.344 645.112.611 246.553.267 61,86 5. Phải trả công nhân viên 393.923.872 266.637.812 -127.286.060 -32,31 6. Các khoản phải trả, phải 777.093.215 535.283.033 -241.270182 -31,05 18.979.420 31.481.505 12.502.085 65,87 B. Nguồn vốn chủ sở hữu 5.841.460.506 5.779.981.130 -61.479.376 -1,05 1. Nguồn vốn quỹ 5.841.460.506 5.779.981.130 -61.479.376 -1,05 13.303.033.245 22.139.690.777 8.533.657.532 62,72 nộp NN nộp khác II. Nợ khác Tổng nguồn vốn Như vậy, trong quá trình kinh doanh, Công ty sử dụng đồng thời cả hai nguồn vốn bên trong và bên ngoài, cơ cấu của hai nguồn vốn có sự thay đổi trong năm. Đầu năm thì hai nguồn vốn này tương đương nhau, nhưng đến cuối năm nợ phải trả tăng lên với tỷ lệ khá cao, còn nguồn vốn chủ sở hữu thì lại giảm với tỷ lệ nhỏ. Tổng nguồn vốn chủ sở hữu giảm có thể là do lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Công ty năm 1999 nhỏ hơn lợi nhuận thu được năm 1998. IV. Tình hình tài chính của Công ty. 1. Tình hình nộp ngân sách Nhà nước. Với đặc điểm kinh doanh của mình thì hàng năm, Công ty phải nộp ngân sách Nhà nước các loại thuế như: thuế GTGT, thuế thu nhập, thuế vốn, thuế đất, thuế môn bài và các loại thuế khác. Ngoài ra Công ty còn phải nộp các khoản bảo hiểm theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước. Chỉ tiêu Còn phải Còn phải nộp kỳ trước nộp kỳ này Số đã nộp Số còn phải nộp cuối kỳ Tổng thuế 712.114.826 2.612.644.728 2.747.648.134 577.111.426 Thuế VAT phải 477.862.836 1.685.570.507 1.820.714.653 342.718.696 nộp Thuế thu nhập -21.666.727 183.000.000 50.560.000 110.773.273 Thuế vốn 11.355.549 219.500.000 166.700.000 64.155.549 Thuế đất 244.563.168 500.599.221 685.698.481 59.463.908 0 23.975.000 23.975.000 0 DN Thuế khác Như vậy, tổng số thuế mà Công ty còn phải nộp là một số lớn hơn 0 do đó đơn vị chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước. Số đầu năm Số cuối năm Chênh lệch Chỉ tiêu Tài Số tiền TT (%) Số tiền TT (%) Số tiền 12.089.312.811 88,85 20.940.229.353 94,58 8.850.916.542 TL TT (%) (%) 73,21 5,73 -19,33 - sản lưu động Tiền 3.122.955.756 22,95 2.519.299.306 11,38 -603.656.450 11,57 Các 1.757.061.985 12,91 2.129.220.831 0,62 372.158.846 21,18 -3,29 5.378.851.489 39,53 1.426.403.177 64,43 8.885.151.688 165,19 24,9 1.830.443.581 13,46 2.027.706.039 9,15 197.262.458 10,77 -4,31 1.516.720.434 11,15 1.199.461.424 5,42 -317.259.210 -20,92 -5,73 1.508.820.434 11,09 1.191.561.424 5,38 -317.259.210 -21,03 -5,71 7.900.000 0,004 0 0 -0,02 khoản phải thu Hàng tồn kho TSLĐ khác Tài sản cố định Tài sản cố định Phí XDCB dở dang 7.900.000 0,06 Tổng 13.606.033.245 00 22.139.390.777 00 8.533.657.532 7,72 cộng 2. Tình hình tài sản của Công ty. Qua bảng trên ta thấy, tổng tài sản của Công ty tăng lên với số tiền là 8.533.657.532 với tỷ lệ là 62,72%. Tổng tài sản tăng là do tài sản lưu động tăng lên, còn tài sản cố định giảm đi. Tỷ trọng tài sản lưu động và tài sản cố định có tỷ trọng rất lớn. Tài sản lưu động có tỷ trọng lớn hơn rất nhiều lần so với tài sản cố định. Công ty Bách hoá Hà Nội là một doanh nghiệp thương mại nên tỷ trọng giữa tài sản lưu động và tài sản cố định như vậy là hợp lý, bởi vì ở doanh nghiệp thương mại đòi hỏi phải có tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt là hàng tồn kho phải chiếm tỷ trọng lớn để phục vụ trực tiếp cho quá trình lưu thông của doanh nghiệp. 3. Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của công nợ của Công ty. Số đầu năm Số cuối năm Chênh lệch Chỉ tiêu Số tiền Công 2.415.419.316 TT (%) Số tiền TT (%) Số tiền TL TT (%) (%) 100 3.031.683.730 100 616.264.414 25,51 0 1.419.588.968 58,73 1.048.875.736 34,6 -370.713.232 -26,11 - nợ phải thu Phải 24,17 thu khách hàng Trả 162.309.495 6,72 930.516.571 30,69 768.207.076 473,8 23,97 595.891.642 24,67 887.237.526 29,27 291.345.884 48,89 4,6 237.629.211 165.053.897 -72.575.214 -30,54 4,4 100 163.368.403.666 100 8.249.712.145 102,01 0 100 163.368.403.666 100 8.249.712.145 102,01 0 trước người bán Phải thu tạm ứng Phải 9,84 5,44 thu khác Công 8.087.128.221 nợ phải trả Nợ 8.087.128.221 ngắn hạn Tình hình công nợ phải thu của Công ty tăng lên với số tiền và tỷ lệ khá cao. Đó là do việc Công ty tạm ứng trước và trả trước cho người bán tăng lên, còn phải thu của khách hàng giảm so với đầu năm. Công nợ phải trả của Công ty hoàn toàn là nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn của Công ty tăng lên với tỷ lệ rất cao, tới 102,01%. Khả năng thanh toán của Công ty: vì Công ty Bách hoá Hà Nội là Công ty thương mại, nên ta chỉ quan tâm đến nguồn thanh toán nợ ngắn hạn. Khả năng thanh toán;toàn bộ nợ ngắn hạn = Error! = Error! = 2,54 Khả năng thanh toán toàn bộ nợ ngắn hạn của Công ty là rất tốt, Công ty hoàn toàn có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và vẫn có thể hoạt động kinh doanh bình thường. Khả năng thanh;toán nhanh nợ;ngắn hạn = Error! = Error! = 0,809 Khả năng thanh toán nhanh nợ ngắn hạn của Công ty không được tốt, bởi vì hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản lưu động. phần III tình hình thực hiện các nghiệp vụ kế toán của Công ty I. Kế toán nghiệp vụ mua hàng. 1. Chứng từ sử dụng.  Hoá đơn do người bán lập gồm có: - Hoá đơn bán hàng. - Hoá đơn giá trị gia tăng.  Biên bản giao nhận hàng hoá  Phiếu nhập kho  Các chứng từ thanh toán. - Phiếu chi - Phiếu báo nợ - Giấy nhận nợ 2. Tài khoản sử dụng Tài khoản 156 hàng hoá Tài khoản 133 3. Phương pháp hạch toán  Khi mua hàng hoá vào nhập kho, căn cứ hoá đơn phiếu nhập kho, kế toán ghi: Nợ TK 1561 Nợ TK 133
- Xem thêm -