Tài liệu Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn đường sắt việt nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 272 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

tailieuonthi Lời nói đầu Ngày nay trong bối cảnh lịch sử của thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp và đặc biệt là yêu cầu đổi mới toàn diện của Nhà nước ta, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến toàn bộ đời sống xã hội, tạo nên những chuyển dịch lớn trong cơ cấu lao động xã hội, cơ cấu giai cấp công nhân nói chung và hoạt động Công đoàn nói riêng. Vì thế mà đòi hỏi công tác vận động công nhân của Đảng và tổ chức Công đoàn phải có những chuyển biến mới, phải xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm, có đủ bản lĩnh Chính trị, phẩm chất Cách mạng, năng lực trí tuệ và tổ chức thực hiện phù hợp điều kiện thực tại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những vấn đề trên đã đặt ra cho tổ chức Công đoàn nhiệm vụ Chính trị nặng nề trong giai đoạn Cách mạng mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất và bản lĩnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và sẵn sàng đón nhận những thử thách ngày càng cao của giai đoạn tiếp theo. Thực tế cho thấy, ở đâu cán bộ Công đoàn có năng lực, có bản lĩnh thì ở đó công tác Công đoàn được thực hiện tốt, thu hút đông đảo công nhân viên chức lao động tham gia hoạt động do Công đoàn tổ chức, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho người lao động. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống Công đoàn còn nhiều lúng túng, trong công tác cán bộ còn nhiều bất cập, chưa có biện pháp tạo nguồn bổ sung cán bộ, việc sử dụng tiếp nhận cán bộ còn nhiều chắp vá, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, không kịp bồi dưỡng cán bộ chủ chốt, nhất là cán bộ mới chuyển sang làm công tác Công đoàn. 1 tailieuonthi Công đoàn đường sắt Việt Nam là một ngành đã có đóng góp đáng kể cho sự ổn định và phát triển của đất nước ta. Để tiếp tục đẩy mạnh công nhiệp hoá, hiện đại hoá Công đoàn đường sắt Việt Nam đã phải có sự cộng tác của cả hệ thống Công đoàn, phải có phương hướng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Công đoàn ngành như thế nào đó nhằm đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nhiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đây cũng chính là lý do mà em chọn đề tài khoá luận “ Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đường sắt Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. 1. Mục tiêu đề tài. - Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ Công đoàn và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam. - Đề ra giải pháp khắc phục những tồn tại của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đường sắt Việt Nam trong những năm vừa qua. - Đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đường sắt Việt Nam trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 2. Cơ sở lý luận của đề tài. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các văn kiện của Đảng ta thông qua các quan điểm đại hội, các chỉ thị nghị quyết của bộ chính trị, ban chấp hành trung ương. Dựa vào các văn kiện đại hội Công đoàn Việt Nam, các chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội Đảng của ban cán sự đảng bộ Công đoàn đường sắt Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Khoá luận lấy việc luận giải cơ sở khoa học của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 2 tailieuonthi Khoá luận nghiên cứu tác động của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn ngành đường sắt trên phạm vi toàn quốc, cơ cấu tổ chức các Công đoàn cơ sở trong hệ thống Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam. 4. Phương pháp nghiên cứu. Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, chủ yếu là phương pháp điều tra, khảo sát thống kê, tổng kết thực tiễn, đồng thời kết hợp phương pháp lôgic lịch sử, phân tích tổng hợp và những tích luỹ, suy nghĩ của bản thân qua thời gian thực tập. 5. Kết cấu của đề tài. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm 3 phần chính: Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn hình thành cán bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phần thứ hai: Thực trạng đội ngũ cán bộ Công đoàn ở Công đoàn đường sắt Việt nam trong những năm qua. Phần thứ ba: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đường sắt Việt nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đề tài được hoàn thành với sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo trong cơ quan Công đoàn ngành đường sắt, sự hướng đẫn tận tình của đồng chí trưởng ban tổ chức Công đoàn đường sắt Việt nam cùng toàn thể các Thầy cô trong khoa, đặc biệt là dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo Nguyễn Anh Tuấn phó trưởng khoa Công đoàn Trường Đại học Công đoàn. Mặc dù sự hướng dẫn tận tình của quý cơ quan đơn vị, tập thể và các cá nhân, bản thân em cũng cố gắng học hỏi và nghiên cứu. Song do nội dung của đề tài quá rộng, khả năng bản thân còn hạn chế, thời gian nghiên cứu tìm hiểu lại không nhiều, do vậy khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế, em 3 tailieuonthi xin chân thành cảm ơn và em rất mong nhận được sự chỉ đạo của các đồng chí trong cơ quan Công đoàn đường sắt Việt nam cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo để khoá luận của em được hoàn thiện hơn và có thể đưa vào thực tế để áp dụng. Sinh viên thực hiện: Phạm Hoài Phương Phần thứ nhất Những vấn đề lý luận cơ bản về cán bộ, công tác cán bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. I. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về giai cấp công nhân cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. 1. Giai cấp công nhân theo quan điểm của Mác- Lênin. “ Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động hoạt động sản xuất trong trong các ngành công nghiệp thuộc trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời: ở các nước tư bản, họ là những người không có, hoặc về cơ bản có tư liệu sản xuất chủ yếulà cùng nhau hợp tác lao động cho mình”(1). Trải qua cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Quần chúng nhân dân (kể cả công nhân và nông dân) đã tuyển những cán bộ chính trị cho tổ chức mình về lãnh đạo phong trào. Vì vậy, Lênin đã khẳng định : “ Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được thống trị nếu không đào tạo ra những hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”(2). Qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, chủ nghĩa Mác- Lênin đã đúc rút được giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất. Bởi 4 tailieuonthi vậy, việc tuyển dụng cán bộ từ công nhân ưu tú, công nhân lâu đời và giai cấp nông dân là người bạn cùng chịu áp bức, bóc lột đã cùng giai cấp công nhân đứng lên làm cách mạng. Stalin chỉ ra rằng “ Giai cấp công nhân phải tự đào tạo lấy những người kỹ thuật, trí trức riêng của mình trong sản xuất, những người có thể tự bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân tức là của giai cấp thống trị trong sản xuất. Không một giai cấp thống trị nào không cần đến những người trí thức của mình”.(3) 2. Vị trí, tầm quan trọng của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng. Cán bộ là người đem chủ trương đường lối của Đảng và chính phủ tuyên truyền cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời tập hợp những vướng mắc của dân chúng phản ánh lại cho Đảng và Nhà nước để Đảng và nhà nước định ra chính sách cho đúng.Thực chất cán bộ là người giữ một chức vụ nào đó trong tổ chức. Do đó, nói đến cán bộ là nói đến chủ thể hành động, nói đến nhân tố quyết định con người. Cán bộ là khâu then chốt, khâu trọng yếu trong toàn bộ, trước hết là đội ngũ lãnh đạo, quản lý là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, quyết định vận mệnh của đất nước. Ngay từ ngày đầu thành lập Đảng, LêNin rất coi trọng công tác cán bộ, người trực tiếp chỉ đạo tổ chức, đào tạo, rèn luyện đội ngũ “ cán bộ chuyên nghiệp”, của Đảng một cách thường xuyên, phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn phát triển của cách mạng. Lấy đội ngũ cán bộ để làm nòng cốt tiến hành cuộc cách mạng tháng Mười thành công, lật đổ chế độ Nga Hoàng, thiết lập chính quyền xô viết và lãnh đạo xây dựng đất nước. Từ thực tiễn cách mạng Lê Nin đã khẳng định “ nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đã là then chốt, nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định xã hội chỉ là mớ giấy lộn”.(4) Stalin cũng cho rằng “ con người cán bộ là những vốn quý nhất, có ý nghĩa quyết định nhất, trong tất cả những vốn quý ở trên đã nêu biết rằng cán bộ quyết định hết thảy”(5). 5 tailieuonthi Như vậy, vị trí quan trọng của cán bộ là ở chỗ đảm bảo cho tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, không có cán bộ thì đường lối của Đảng có hay đến mấy cũng không thành hiện thực. Muốn áp dụng vào thực tiễn một đường lối chính trị đúng thì phải có cán bộ, những người am hiểu về đường lối chính trị của Đảng, nhìn nhận đường lối đó, áp chủ dụngnghĩa đường lối Lênin đó. 3,5. Trích: Stalin: Những vấn biết đề về Mác- NXB sự thật, trang 526. 4. Stalin về chủ nghĩa Mác –thể Lê hiện Nin,trên NXB hai sự khía Tầm Trích: quan trọng củanhững công vấn tác đề tổ chức cán bộ được cạnh cụ thể: - Tổ chức cán bộ đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện đường lối và nhiệm vụ chính trị. - Tổ chức cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. 3. Chủ nghĩa Mác Lê Nin về tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ. Tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ phù hợp với sự phân công của tổ chức, thước đo đánh giá cán bộ yếu hay tốt, hoàn thành hay không hoàn thành nhiệm vụ mà tổ chức giao cho. Bởi vì cán bộ là khâu then chốt là quyết định sự thành công hay thất bại của tổ chức. Do đó việc lựa chọn cán bộ phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn nhất định mang tính nguyên tắc, tính Đảng, tính quần chúng. Theo Stalin “Lựa chọn cán bộ, thứ nhất phải xét phẩm chất chính trị, tức là về mặt chính trị họ có đủ trách nhiệm không, thứ hai là phải theo năng lực công tác chuyên môn tức là phải xét họ có thích hợp với một công tác cụ thể nào không” (6). Hiểu theo cách nói của Stalin về phẩm chất chính trị của cán bộ là phải có lập trường quan điểm rõ ràng tuyệt đối trung thành với quần chúng nhân dân, hết sức tận tâm, tận tụy phục vụ nhân dân, được quần chúng tín nhiệm. Bên cạnh phẩm chất chính trị còn có năng lực, chuyên môn, nắm chắc chuyên môn của mình phụ trách, đồng thời có khả năng am hiểu chuyên môn kỹ thuật có liên quan giúp cho công tác nghiệp vụ của mình mà tổ chức giao phó. Việc lựa chọn cán bộ có những căn cứ là cơ sở tiêu chuẩn để lựa chọn trên những công việc cụ thể, bố trí sử dụng cán bộ. Vì vậy phải xuất phát từ thực tế 6 tailieuonthi từ quá trình hoạt động của quần chúng, được trưởng thành từ phong trào giáo dục và đào tạo, qua thử thách tuyển chọn, đề bạt, sàng lọc cán bộ thì việc tuyển chọn cán bộ sẽ đúng người đứng việc, thực sự là vấn đề quyết định thành công của tổ chức. Lê Nin chỉ ra rằng: “Hết sức bền bỉ, hết sức thận trọng, chúng ta chú ý tìm cho ra và lấy công tác để thử thách những nhà tổ chức thực sự, những người có óc sáng suốt và có bản lĩnh thực tiễn, những con người vừa trung thành với chủ nghĩa xã hội vừa có khả năng lặng lẽ khơi đà cho công tác (Mặc dù sự ổn định và hỗn loạn của người khác), công tác mà số đông những người trong phạm vi tổ chức Xô Viết đều kiên quyết và đồng lòng cùng làm. Đó là những người mà sau khi chúng ta đã thách thức họ đến hàng chục lần bằng cách cho ho trải qua những nhiệm vụ đơn giản nhất đến những nhiệm vụ khó khăn nhất, chúng ta sẽ đề bạt họ lên những trọng trách lãnh đạo của nhân dân, trọng trách lãnh đạo của công tác quản lý”(7). Vấn đề “Lựa chọn nhân tài và kiểm tra việc chấp hành” (Lê Nin) là một nguyên tắc và nhiệm vụ của Đảng và chính quyền. Coi đây là nhiệm vụ thường xuyên quan tâm hàng đầu của tổ chức cán bộ. Trên cơ sở đó có kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ đầy đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị, đáp ứng với nhu cầu của sự nghiệp cách mạng đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng quy hoạch cán bộ cho tổ chức. 4. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ văn hoá khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý cho cán bộ là nhiệm vụ thường xuyên. Đây là một nhiệm vụ thường xuyên mang tính bắt buộc của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị, nhằm trau dồi, nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, có như thế mới trang bị cho cán những tri thức mới, phương pháp luận khoa học, tiếp thu những kiên thức của nhân loại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra của tổ chức, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, vận dụng một cách 7 7. Trích: Tuyển tập tiếng việt NXB sự thật – Hà Nội, năm 1962, tailieuonthi sáng tạo, lịnh hoạt để giải quyết những vấn đề yếu kém của cán bộ nhằm nâng cao chất lượng của cán bộ. Lê Nin đã dạy “Học – Học nữa – Học mãi”, học trong sách học trong cuộc sống, trong công tác, trong kinh nghiệm của tập thể, kinh nghiệm của quần chúng, kinh nghiệm của nước bạn, lý luận gắn với thực tiễn, thực tiễn luôn soi sáng những lý luận đó là phương pháp để trau dồi tư duy lý luận và năng lực thực tiễn làm cho thực tiễn thêm sinh động và phong phú. Như vậy, người cán bộ một mặt được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ văn hoá, lý luận chính trị, khoa học kỹ thuật mặt khác luôn tự trau dồi, học hỏi để tự mình nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân giúp cho bản thân thành thạo trong lĩnh vực mình phụ trách, đồng thời phải am hiểu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, phương pháp tổ chức quản lý liên quan đến tổ chức mình. Để chứng minh cho điều nói trên, Lê Nin đã chỉ rõ “ Muốn quản lý thì người phải thông thạo chuyên môn, phải biết một cách đầy đủ, chính xác, tất cả những điều của sản xuất, phải hiểu được điều kiện kỹ thuật của nền sản xuất đó, phải có trình độ khoa học kỹ thuật nhất định”. Như vậy, chất lượng cán bộ là vấn đề then chốt, quyết định sự thành công hay thất bại của tổ chức. Vì vậy, để đảm bảo cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội, cần phải nắm vững những quan điểm cơ bản, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về công tác cán bộ. Đảng cộng sản Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay luôn lấy tiêu chuẩn người cán bộ mà chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra trong mọi thời kỳ cách mạng: “ Có lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, có tinh thần trách nhiệm và giải quyết những hoàn cảnh khó khăn, tôn trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, luôn chăm lo đến lợi ích quần chúng, có tinh thần tập thể cao, thương yêu đoàn kết với đồng bào, đồng chí, có tính tổ chức kỹ luật tốt… cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị, không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất và năng lực công tác 8 tailieuonthi của bản thân”(8). Lấy chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Đảng ta vận dụng những quan điểm đó một cách sáng tạo khoa học vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử. Vận dụng và bổ sung vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin đó là tư tưởng Hồ Chí Minh – người đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta, nhờ đó trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống thù trong giặc ngoài và xây dựng 8. Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ – NXB Sự thật 1974, Trang26. chủ nghĩa xã hội Đảng ta luôn chú trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ, đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. II. Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. 1. Tầm quan trọng của cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Công tác cán bộ chính là việc xác định các tiêu chuẩn cho mỗi chức danh, tuyển chọn cán bộ theo tiêu chuẩn, lên kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ. Vì lẽ đó, từ khi ra đời đến nay Đảng luôn xem công tác cán bộ là một vấn đề quan trọng, giữ vị trí quan trọng đối với toàn sự nghiệp cách mạng của mình. Đảng đã từng bước xây dựng một đội ngũ cán bộ có đủ sức thực hiện nhiệm vụ trong từng giai đoạn Cách mạng. Thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên đó, Đảng lãnh lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng những kẻ thù xâm lược hung bạo nhất trong lịch sử giành lại độc lập tự do, thống nhất đất nước, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc tổ quốc đưa đất nước bước sang một kỷ nguyên mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực tiễn cho thấy, khi Đảng đã có đường lối chính trị đúng đắn thì đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có tư chất và năng lực cao sẽ đóng vai trò quyết định việc tổ chức thực hiện, biến đường lối chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống. Vì thế, nghị quyết hội nghị lần thứ III ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện 9 tailieuonthi đại hoá khẳng định “ Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. 2. Những quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ Tịch đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, đến lựa chọn, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ. Người luôn cho rằng vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng và đối với công cuộc xây dựng Đảng. Người dạy: “ Cán bộ là cài gốc của mọi công việc”(9), “Bất cứ chính sách công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công”. Người chăm lo giáo dục cán bộ về những nhiệm vụ cách mạng và động viên mọi người hăng hái thực hiện những nhiệm vụ ấy. ở mỗi bước phát triển của cách mạng căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, Người đã ân cần chỉ ra phương hướng phấn đấu và rèn luyện của cán bộ. * Tiêu chuẩn cán bộ. Một yêu cầu không thể thiếu được của người cán bộ là sự gắn bó mật thiết với quần chúng, gần gũi với công nhân, tri thức, gần gũi với cấp dưới cơ sở, sâu sát với công việc cụ thể. Thực tế Lê nin cho rằng: Bất kỳ cán bộ nào nếu sa vào “vũng lầy quan liêu đáng nguyền rủa” là đã “ tự treo cổ mình”. Như vậy tiêu chuẩn lựa chọn, đề bạt cán bộ là một trong những quan tâm của công tác cán bộ, nắm vững và xác định đúng quan điểm này sẽ tạo cho hệ thống chính trị một đội ngũ cán bộ có đầy đủ năng lực, phẩm chất công tác có hiệu quả và là tiền đề định hướng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng quy hoạch cán bộ. Tiêu chuẩn người cán bộ mà chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra đối với cán bộ, có thể áp dụng trong mọi giai đoạn của cách mạng Việt Nam là: “ có lòng trung thành với sự nghiệp Cách mạng của Đảng của nhân dân, có tinh thần cao, hoàn 10 9.10. Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ – NXB Sự thật 1974, Trang26. tailieuonthi thành tốt nhiệm vụ được giao. Cần kiệm liêm chính chí công vô tư, khiêm tốn giản dị, không ngừng học tập nâng cao trình độ năng lực, phẩm chất của bản thân”(10). Để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, để người cán bộ thực sự là người lãnh đạo và là người đầy tớ trung thành của dân thì người cán bộ phải: “ có đạo đức có tài, có phẩm chất chính trị và năng lực lãnh đạo trong đó đức là gốc”. Người nhấn mạnh: “ cái làm nền tảng trước hết là đạo đức cách mạng, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng một cách vẻ vang”. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, Người đặc biệt coi trọng việc giữ gìn và nâng cao đạo đức Cách mạng. Công tác cán bộ nói chung, tiêu biểu cán bộ nói riêng, có vai trò quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu, đòi hỏi người cán bộ trong tình hình hiện nay: + Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. + Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, không tham nhũng và cương quyết đấu tranh chống tham nhũng. + Có trình độ hiểu biết lý luận chính trị quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. + Năng động sáng tạo dám nghĩ, dám làm, giám chịu trách nhiệm. Các tiêu chuẩn có mối quan hệ mật thiết với nhau coi trọng cả đức và tài được chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh. Trên cơ sở tiêu chuẩn chung, các cấp các ngành cần chủ động xây dựng tiêu chuẩn của ngành mình, đơn vị mình đó là căn cứ để làm tốt công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. * Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Hồ Chủ Tịch chỉ rõ: “ việc huấn luyện học tập không phải là một việc đơn giản muốn làm thì phải hiểu cho rõ”(11) và Người chỉ ra những vấn đề cần phải 11 tailieuonthi trả lời trong công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ là “ huấn luyện ai? ai huấn luyện? huấn luyện như thế nào ? huấn luyện gì ? huấn luyện như thế nào ? và tài liệu huấn luyện. Người dùng trong công tác huấn luyện thì cần huấn luyện về lý luận, phải dùng lý luận Mác- Lênin cho người. Người biết lý luận mà không thực hành thì vô ích. Học lý luận mà để áp dụng vào việc làm, làm mà không có lý luận thì không khác gì đi vào trong đêm tối, vừa chậm vừa hay vấp váp. Ngoài lý luận phải dùng về công tác, về văn hoá và về chuyên môn. Huấn luyện cần thiết thực chu đáo hơn tham nhiều.Việc cốt yếu là phải lấy người cấp dưới lên huấn luyện rồi trả lại cho cấp dưới, để họ huấn luyện cho cấp dưới nữa. Huấn luyện phải gắn liền lý luận với công tác thực tế, phải nhằm đúng nhu cầu và cần chú trọng 11. Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ, NXB Sự thật 1974, Trang 27. việc cải tiến tư tưởng. Đi đôi với việc huấn luyện là phải nâng cao và hướng dẫn tự học nâng cao kiến thức thông qua việc đọc nghiên cứu tài liệu. Công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy Đảng phải nuôi dưỡng cán bộ, như người làm vườn vun trồng cây cối quý báu phải trọng nhân tài, phải trọng cán bộ, trong mỗi người có ích cho công việc của chúng ta. Đảng phải biết rõ cán bộ một cách cho đúng và phải khéo léo dùng cán bộ bởi vì : Không có ai cái gì cũng tốt, vì vậy chúng ta phải khéo léo dùng người, sữa chữa những khuyết điểm cho họ. Thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng người . Đào tạo, bồi dưỡng người cán bộ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cách mạng từ đó cung cấp những cán bộ ưu tú cho Đảng để không bao giờ thiếu cán bộ. Hồ Chí Minh căn dặn: Phải dùng lòng nhân ái để giúp đỡ lãnh đạo cán bộ luôn luôn kiểm tra và để thúc đẩy giáo dục cán bộ các cơ quan, lãnh đạo hiểu cán bộ để có thể đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ có kết quả cao nhất. 12 tailieuonthi 3. Những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nghị quyết hội nghị lần thứ ba ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định : Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của Cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người lãnh đạo cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, tư tưởng của Người về cán bộ đặt trên nền “ cán bộ là gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(12). Có nghĩa là muốn thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng cần có đội ngũ cán bộ cách mạng và xem xét mọi vấn đề liên quan đến cán bộ và công tác cán bộ gắn với nhiệm vụ của Cách mạng do đó Đảng thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ. 12. Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ – NXB Sự thật 1974, Trang26. 3.1. Công tác cán bộ gắn với đường lối và nhiệm vụ chính trị. Vấn đề cán bộ có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với đường lối chính trị, với tổ chức, với phong trào cách mạng của quần chúng, trong những mối quan hệ ấy cán bộ vừa là "quả" vừa là "nhân" của phong trào . Bởi vì người cán bộ có vai trò trong sự nghiệp Cách mạng của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân. Đường lối và nhiệm vụ chính trị là căn cứ để làm tốt công tác cán bộ đó là đào tạo, bồi dưõng, sử dụng, quy hoạch, xác định chức danh, tiêu chuẩn, quản lý cán bộ và thực hiện chính sách cán bộ. Đường lối nhiệm vụ chính trị đúng đắn sẽ xây dựng được đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất và năng lực. Nếu đường lối nhiệm vụ chính trị sai sẻ đẩy hàng loạt cán bộ đến sai lầm và khuyết điểm. Chính vì lẽ đó đòi hỏi đường lối và nhiệm vụ chính trị cần được xây dựng trên cơ sở khoa học và hợp lòng dân. Những tác động trở lại của cán bộ 13 tailieuonthi cũng có ý nghĩa quyết định đối với bản thân đường lối. Khi đã có đường lối đúng thì tất cả vấn đề là tổ chức thực hiện. Vận dụng quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đòi hỏi các cấp, các ngành, từng cơ quan đơn vị cần xác định đúng nhiệm vụ chính trị cho cơ quan đơn vị mình và cho từng cán bộ. Có xác định nhiệm vụ chính trị mới có thể thành cán bộ tốt. Khi cán bội thực hiện đường lối và nhiệm vụ chính trị thì tổ chức và người làm công tác tổ chức cán bộ cần theo dõi kiểm tra, nhắc nhở, uốn nắn họ tránh tình trạng làm công tác cán bộ theo kiểu quản lý chung chung không hiểu người, không hiểu việc của cán bộ. Khi nhiệm vụ Cách mạng thay đổi, đường lối chính trị thay đổi, công tác cán bộ cũng cần được đổi mới cho phù hợp. 3.2. Công tác cán bộ phải gắn liền với tổ chức. Cán bộ là nhân tố chủ yếu, nhân tố hàng đầu, nhân tố "động " nhất của tổ chức, tổ chức là do con người lập ra, con người là nhân tố chủ yếu cấu thành tổ chức. Vì vậy nói đến cán bộ là không thể không nói đến tổ chức. Công tác cán bộ và công tác tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau, có nhiệm vụ chính trị mới lập ra tổ chức, có tổ chức mới bố trí công tác cán bộ không vì cán bộ mà lập ra tổ chức. Vì vậy muốn làm tốt công tác cán bộ thì phải căn cứ vào nhiệm vụ, yêu cầu tổ chức để đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ. Không vì cá nhân mà lập ra để giải quyết tại chỗ; không vì có cán bộ mà sinh ra tổ chức làm cho bộ máy tổ chức cồng kềnh, khó quản lý cán bộ. Xây dựng một tổ chức phải dựa trên cơ sở đầy đủ các yếu tố cơ bản để nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặt ra. 3.3. Công tác cán bộ phải gắn liền với phong trào cách mạng của quần chúng. Phong trào Cách mạng là toàn bộ hoạt động xã hội của các tổ chức đoàn 14 tailieuonthi thể trong hệ thống tổ chức chính trị- xã hội phong trào Cách mạng của quần chúng và công tác cán bộ có mối quan hệ "cán bộ xây dựng phong trào, phong trào đẻ ra cán bộ đó là quy luật khi nói về cán bộ". Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phong trào Cách mạng là do quần chúng nhân dân sáng tạo, nhằm xoá bỏ cái cũ, cái lạc hậu để xây dựng cái mới, cái tiến bộ phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Phong hoạt động cách mạng của quần chúng và công tác cán bộ có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Phong trào Cách mạng quần chúng là cái nôi sản sinh, nuôi dưỡng, rèn luyện tốt cán bộ cho Đảng. Không có đội ngũ cán bộ tốt thì không xây dựng và duy trì được phong trào Cách mạng của quần chúng và cũng không thể có phong trào Cách mạng sôi nổi liên tục nếu không có đội ngũ cán bộ tốt. Cán bộ có đầy đủ bản lĩnh và năng lực sẽ thúc đẩy phong trào đi lên. Vì vậy muốn có đội ngũ cán bộ tốt thì khi tiến hành công tác cán bộ thì phải lấy cán bộ trưởng thành từ phong trào Cách mạng quần chúng để đào tạo, bồi dưỡng, nhiệm vụ vào cương vị của tổ chức. 3.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ dựa trên cơ sở giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin – tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng lập trường quan điểm của giai cấp công nhân. Coi sự nghiệp Cách mạng là của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là lực lượng sản xuất chính trong giai đoạn hiện nay. Giáo dục chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là giáo dục cho giai cấp công nhân viên chức, lao động nắm được triết học MácLênin, chỉ cho giai cấp công nhân về hoạt động đấu tranh giai cấp và quy luật vận động phát triển đồng thời dạy cho giai cấp công nhân biết quản lý Nhà nước, kinh tế chủ nghĩa cộng sản khoa học, dạy cho giai cấp công nhân các phương pháp đấu tranh giành chính quyền và giữ chính quyền. 15 tailieuonthi 3.5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng nắm công tác cán bộ là nguyên tắc.Vì Đảng là đội tiên phong của giai cấp thống trị xã hội, mà cán bộ Đảng là vai trò then chốt có tính quyết định trong việc thực hiện đường lối của giai cấp cho nên Đảng nắm công tác cán bộ và quản lý cán bộ là một nguyên tắc không thể thay đổi. Những chủ trương chính sách, đánh giá bố trí, sử dụng, điều động, khen thưởng, kỷ luật cán bộ do cấp uỷ Đảng có thẩm quyền quyết định, nghiêm túc chấp hànhcác quyết định của cấp uỷ về cán bộ và công tác cán bộ, cá nhân chấp hành quyết định của tập thể, tổ chức Đảng cấp dưới phải chấp hành quyết định của tổ chức Đảng cấp trên. III. Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ Công đoàn. 1. Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng. Để góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì hoạt động công đoàn cần có sự đổi mới mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng. Để đáp ứng với tình hình đất nước thì việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cần được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách, vừa mang ý nghiã chiến lược, tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ, vừa nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn, thực hiện nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. * Đào tạo: Là việc tổ chức giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn việc giáo dục đạo đức nhân cách với việc cung cấp các kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nhằm chuẩn bị cho người học thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định. Có nhiều loại hình đào tạo như: Đào tạo tập trung, đào tạo tại chức, đào tạo ngắn hạn, đào tạo dài hạn… - Đào tạo lại: Những người đã được đào tạo, song do quá trình phát triển của xã hội, của công nghệ mới và yêu cầu của tiến trình sản xuất công tác sẽ 16 tailieuonthi phải đào tạo thêm một số học phần để hoàn chỉnh kiến thức nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu đặt ra. - Tự đào tạo: Là quá trình tự thân vận động để lĩnh hội kiến thức hoặc tham gia hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút ra những kinh nghiệm. Một người đang tham gia hình thức đào tạo kiến thức nào cũng phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo thì mới đạt kết quả đào tạo. Những người có nhu cầu và khẳ năng học tập mà không có khẳ năng đến trường lớp, có thể tự đào tạo các chương trình “ đào tạo từ xa”, “ tự học có hướng dẫn”, qua các phương tiện thông tin đại chúng… hoặc tự mình tìm kiếm học tập để nâng cao trình độ. * Bồi dưỡng: Là tăng cường thêm về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm để nâng cao chất lượng, nâng cao năng lực sản xuất, công tác cho người học. Thời gian tổ chức bồi dưỡng thường ngắn hơn so với đào tạo. Đối tượng tham gia học tập đã có ít nhiều về ngành nghề chuyên môn nhất định. Các dạng bồi dưỡng là: Bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng, bồi dưỡng chuyên đề… 2. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho cán bộ và cán bộ Công đoàn. Mỗi người cán bộ là một tấm gương cho quần chúng noi theo về lòng trung thực với lý tưởng XHCN, về tính tổ chức và tính kỷ luật nghiêm ngặt nhất, về nhiệt tình cách mạng sôi nổi, say sưa trong công tác. Điều đó đòi hỏi bản thân mỗi cán bộ những nỗ lực thường xuyên và lớn nhất, một tinh thần trách nhiệm nghiêm túc trong việc tự trau dồi, rèn luyện để không ngừng nâng cao kiến thức ngang tầm đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ. Việc nâng cao trình độ kiến thức cho cán bộ, Đảng viên là điều hết sức cần thiết. Thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ được nâng cao trí tuệ, hiểu biết quy luật vận động, nắm bắt được thực tiễn. 17 tailieuonthi Thực tế đã khẳng định trình độ học vấn, trình độ chính trị và trình độ giác ngộ cách mạng của cán bộ càng cao thì chất lượng của cán bộ đó càng cao. Do đó mọi cán bộ không kể cương vị công tác như thế nào, không kể là cán bộ lâu năm hay cán bộ mới đều phải nỗ lực học tập. Vấn đề cán bộ giữ một vị trí quan trọng trong công tác xây dựng Đảng nói riêng, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung. Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển luôn lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Vì vậy Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, coi việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp cách mạng ở mỗi giai đoạn. Đại hội IX Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra chiến lược cán bộ: Nâng cao công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết là đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp về chủ nghĩa Mác- Lênin và tưởng Hồ Chí Minh, về quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, về xây dựng Đảng, về quản lý Nhà nước theo cơ chế mới. Từ nay đến năm 2005, phần lớn cán bộ chủ chốt từ cấp huyện trở lên học xong chương trình cao cấp về lý luận và có kiến thức Đại học về một chuyên ngành nhất định. Nghị quyết số 05/NQ-TLĐ ngày 30 tháng 11 năm 2000 của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã đặt ra phương hướng và nhiệm vụ chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ. Trong đó có nội dung về công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ Công đoàn như sau: - Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn nhằm tập trung nâng cao trình độ cho lực lượng cán bộ đang hoạt động, nhất là cán bộ Công đoàn ở cơ sở, cán bộ Công đoàn không chuyên trách, cán bộ Công đoàn ngoài quốc doanh. Đồng thời chuẩn bị đội ngũ cán bộ Công đoàn cho lâu dài. - Đào tạo cán bộ Công đoàn những năm tới phải căn cứ vào sự phát triển của tổ chức, nhu cầu cán bộ, quy hoạch cán bộ, yêu cầu chuẩn bị cán bộ chủ chốt, giữ nguồn trong các kỳ Đại hội. Phải phân loại cán bộ và căn cứ vào tiêu 18 tailieuonthi chuẩn cán bộ để có hình thức đào tạo thích hợp. Hàng năm phải có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ Công đoàn các cấp, nhất là cán bộ chuyên trách. Mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng cán bộ ngắn ngày, tạo điều kiện cho tất cả cán bộ Công đoàn không chuyên trách, từ uỷ viên ban chấp hàng Công đoàn trở lên, nhất là cán bộ mới tham gia hoạt động ban chấp hành Công đoàn lần đầu, được tập huấn về nội dung và phương pháp hoạt động Công đoàn. - Mỗi cán bộ Công đoàn phải có kế hoạch tự học tập, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác và trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học. 3. Tình hình đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ Công đoàn. * Về công tác cán bộ: Dự thảo các văn kiện Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ về thực trạng và chiến lược cán bộ như sau: Trình độ kiến thức và năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chưa theo kịp yêu cầu của thời kỳ mới; việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm, một số tổ chức Đảng và các cơ quan Nhà nước để xãy ra những mâu thuẫn với nhân dân, chậm được giải quyết, gây bất bình trong nhân dân; tổ chức chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước chưa tốt. Để đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng đã đặt ra chiến lược cán bộ: Xây dựng cho được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu mới, trước hết là đội ngũ cốt cán của Đảng và Nhà nước các cấp, đặc biệt là ở cấp chiến lược, thực sự vững vàng về chính trị, có bản lĩnh, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Các cấp uỷ và tổ chức Đảng phải làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa chuẩn bị đội ngũ cán bộ lâu dài; hàng năm có đánh giá, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch. Đổi mới việc đánh giá, bồi dưỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở dựa vào tiêu chuẩn, chú trọng cả phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng 19 tailieuonthi lực trí tuệ và hoạt động thực tiễn của cán bộ, lấy hiệu quả công tác làm thước đo chủ yếu; có phương pháp khoa học, khách quan, công tâm, theo một quy trình chặt chẽ dựa vào nhân dân để nhân dân giới thiệu, góp ý và giám sát cán bộ… * Về công tác Công đoàn: Hội nghị ban chấp hành Công đoàn Tổng liên đoàn lao động Việt Nam lần thứ 5- khoá VIII đã thảo luận báo cáo đoàn chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam về tình hình cán bộ Công đoàn; công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn trong thời gian qua và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn trong thời gian qua. Trong đó ghi rõ: “ Đội ngũ cán bộ Công đoàn đều trưởng thành từ phong trào công nhân và Công đoàn, có nhiệt tình tâm huyết, được quần chúng tín nhiệm. Là những người có phẩm chất đạo đức, tin tưởng, biết vận dụng đường lối quan điểm của Đảng và phong trào công nhân, hoạt động Công đoàn. Có tránh nhiệm luôn cố gắng trong nhiệm vụ được giao, gắn bó với tổ chức Công đoàn, gắn bó với người lao động, được đào tạo về chuyên môn, chính trị, công tác Công đoàn, tích cực học tập nâng cao trình độ mọi mặt, bước đầu thích ứng với điều kiện hoạt động Công đoàn trong nền kinh tế thị trường. Đội ngũ cán bộ Công đoàn đã giữ vững vai trò quyết định đẩy mạnh phong trào công nhân và hoạt động phong trào Công đoàn trong thời gian qua, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước”. Dự thảo văn kiện Đại hội IX của Đảng đặt ra mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; trước tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực của cả dân tộc gắn với tận dụng mọi nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với từng bước 20
- Xem thêm -