Tài liệu Công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên

  • Số trang: 117 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 9 |
  • Lượt tải: 0
quocphongnguyen

Tham gia: 21/04/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƢ PHÁP TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ------------------ NGUYỄN THÁI HÀ CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ TÀI SẢN CỦA CON CHƢA THÀNH NIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – NĂM 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƢ PHÁP TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ------------------ NGUYỄN THÁI HÀ CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ TÀI SẢN CỦA CON CHƢA THÀNH NIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự Mã số: 60380103 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Hằng HÀ NỘI – NĂM 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này. Tác giả luận văn Nguyễn Thái Hà DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật dân sự BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự Luật HN&GD : Luật Hôn nhân và gia đình NLHVDS : Năng lực hành vi dân sự NLPLDS : Năng lực pháp luật dân sự MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1 CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ TÀI SẢN CỦA CON CHƢA THÀNH NIÊN ........................ 9 1.1.Khái niệm, đặc điểm của công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên ........................................................................................................ 9 1.1.1.Khái niệm công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên ................................................................................................................. 9 1.1.2.Đặc điểm của công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên ............................................................................................................ 15 1.2. Ý nghĩa của công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên ......................................................................................................................... 23 1.2.1. Ý nghĩa trong hoạt động quản lý nhà nước .................................................. 23 1.2.2. Ý nghĩa đối với các bên tham gia giao dịch ................................................. 23 1.2.3. Ý nghĩa về xã hội ......................................................................................... 24 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc công chứng Hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên................................................................................................ 24 1.3.1. Quy định của pháp luật liên quan đến công chứng hợp đồng, giao dịch của con chưa thành niên................................................................................................ 24 1.3.2. Trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của công chứng viên .............................. 25 1.3.3. Trình độ hiểu biết pháp luật của người yêu cầu công chứng ....................... 28 1.3.4. Chính sách kinh tế, xã hội và tập quán của địa phương ............................... 29 1.3.5. Sự phối hợp của các cá nhân, tổ chức và cơ quan hữu quan........................ 30 CHƢƠNG 2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ TÀI SẢN CỦA CON CHƢA THÀNH NIÊN ...................................................................................................... 32 2.1. Chủ thể và phương thức tham gia giao dịch dân sự của con chưa thành niên 32 2.1.1. Chủ thể của hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên.......... 32 2.1.2. Phương thức tham gia giao dịch dân sự của con chưa thành niên ............... 34 2.1.3. Người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên .............................. 38 2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”. .......................................................................................... 39 2.1.4.Ý chí tự nguyện tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch ............................... 46 2.2. Đối tượng của hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên ......... 48 2.3.Mục đích, nội dung của Hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên ............................................................................................................... 52 2.4.Thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên . 54 CHƢƠNG 3. THỰC TIỄN CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ TÀI SẢN CỦA CON CHƢA THÀNH NIÊN – VƢỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT .................................................................. 57 3.1. Thực tiễn xác định chủ thể và phương thức tham gia giao dịch dân sự của con chưa thành niên ...................................................................................................... 58 3.1.1. Xác định giám hộ cho con chưa thành niên ................................................. 58 3.1.2. Việc định đoạt tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ ................................................................ 60 3.1.2.1. Thực trạng pháp luật ................................................................................. 60 3.1.3. Hình thức thể hiện sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, người giám sát việc giám hộ trong một số trường hợp.............................................................. 61 3.2. Thực tiễn xác định mục đích, nội dung công chứng hợp đồng, giao dịch ...... 62 liên quan đến tài sản của con chưa thành niên ....................................................... 62 3.2.1. Xác định “lợi ích của con chưa thành niên”................................................. 62 3.2.2. Xác định nội dung của việc tặng cho tài sản của con chưa thành niên ........ 67 3.3. Thực tiễn việc trực tiếp tham gia giao dịch dân sự của con chưa thành niên . 68 KẾT LUẬN ........................................................................................................... 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Công chứng là hoạt động pháp lý đặc thù và ngày càng trở nên phổ biến. Ngoài những loại hợp đồng, giao dịch mà luật quy định phải được công chứng, chứng thực thì việc công chứng hợp đồng, giao dịch có thể được thực hiện theo yêu cầu của các bên giao kết. Xuất phát từ giá trị chứng cứ của văn bản công chứng, các tình tiết, sự kiện tại văn bản công chứng không cần phải chứng minh nên công chứng viên ngoài việc đảm bảo hợp đồng, giao dịch đúng quy định pháp luật về hình thức, còn phải đảm bảo nội dung văn bản không trái quy định của pháp luật. Đây là cơ sở phòng ngừa và hạn chế tranh chấp, rủi ro cho các bên tham gia giao dịch dân sự. Trong thực tiễn hiện nay, ngày càng có nhiều yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản con chưa thành niên và công chứng viên gặp không ít khó khăn, vướng mắc khi áp dụng quy định của pháp luật có liên quan để giải quyết yêu cầu công chứng. Quyền sở hữu tài sản của cá nhân được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ, cùng với đó, cá nhân có quyền định đoạt đối với tài sản của mình. Việc định đoạt tài sản của con chưa thành niên trong các giao dịch dân sự nói chung và các hợp đồng, giao dịch xác lập thông qua hình thức công chứng nói riêng đặt ra những vấn đề pháp lý cơ bản nào khi xử lý các yêu cầu công chứng này? Đây là câu hỏi mà công chứng viên cần giải quyết trong thực tiễn công chứng. Khác với người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên khi tham gia giao dịch dân sự pháp luật quy định phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp và có một số hạn chế hoặc điều kiện ràng buộc. Trên phương diện lý luận, nghiên cứu những đặc thù của công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản của con chưa thành nhiên có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh BLDS năm 2015 có nhiều sửa đổi cơ bản so với BLDS năm 2005 về vấn đề này, cũng như những điểm mới của Luật HN & GĐ năm 2014 so với Luật HN & GĐ năm 2000. Trên phương diện thực tiễn nghề nghiệp, Công chứng viên phải có sự hiểu biết về các quy định pháp luật có liên quan đến con chưa thành niên và việc 2 tham gia giao dịch dân sự của con chưa thành niên để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp và rủi ro cho các bên tham gia giao kết và bảo vệ được các quyền và lợi ích của con chưa thành niên. Xuất phát từ thực tế và giá trị của văn bản công chứng như đã nêu ở trên, đề tài tiếp cận nội dung nghiên cứu tổng quan các quy định của BLDS năm 2015 và Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan điều chỉnh về hoạt động “Công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên” nhằm giúp cho hoạt động công chứng các hợp đồng, giao dịch có chủ thể là con chưa thành niên được thực hiện hiệu quả và đúng quy định của pháp luật. 2. Tình hình nghiên cứu Trong quá trình tìm hiểu các công trình khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả nhận thấy đã có một số công trình, tài liệu nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp như: - Hoàng Thị Vân Anh (2014), Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên trong việc thực hiện các giao dịch dân sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội: Nội dung nghiên cứu tác giả đã phân tích, bình luận các quy định liên quan đến giao dịch dân sự do người chưa thành niên thực hiện và việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên trong một số giao dịch dân sự điển hình (ví dụ: trong hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng lao động). Tại kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả đã đề xuất, khuyến nghị về các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên trong các giao dịch dân sự. Đề tài tiếp cận với các quy định của BLDS năm 2005 về các vấn đề liên quan đến thực hiện giao dịch dân sự của người chưa thành niên, chưa đề cập đến các vấn đề pháp lý đặt ra khi người chưa thành niên tham gia giao kết, xác lập hợp đồng, giao dịch qua hình thức công chứng. - Hà Duy Tân (2012), Giám hộ cho người chưa thành niên – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội: Khóa luận thực 3 hiện phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc giám hộ cho người chưa thành niên, trên cơ sở đó tìm ra những bất cập, thiếu hụt trong hệ thống pháp luật Việt Nam mà trọng tâm là pháp luật dân sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan: Luật HN&GĐ năm 2000; Luật bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004; ... - Lý Thị Thanh Xuân (2013), Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội. Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, phân tích đánh giá khái quát về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con trong hệ thống pháp luật nước ta. Đối với đề tài nghiên cứu này, tác giả sẽ kế thừa các nội dung nghiên cứu và phân tích về quan hệ về tài sản giữa cha mẹ và con chưa thành niên, cụ thể là quyền có tài sản riêng của con và việc định đoạt tài sản của con chưa thành niên. - Nguyễn Thị Hiền (2007), Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội: Đề tài đã nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm, năng lực chủ thể, phân tích nội dung năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên, xác định các mức độ năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên,…. Qua đó lập luận, lý giải và những đề xuất để hoàn thiện quy định pháp luật về người chưa thành niên. Tiếp thu kết quả nghiên cứu của đề tài này, tác giả tham khảo có chọn lọc các nội dung liên quan đến nội dung năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên và các mức độ năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên. Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được công bố trên tạp chí chuyên ngành như: Tuấn Đạo Thanh, Đặng Trung Kiên (2014), “Bàn về chủ thể là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi trong hoạt động công chứng”, Dân chủ và Pháp luật, (03/2014), tr. 13-18; Tuấn Đạo Thanh, Đặng Trung Kiên (2014), “Một số vấn đề về chủ thể là người dưới mười tám tuổi trong hoạt động công chứng”, Nghề luật, (02/2014), tr.40-46; bài viết “Bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời 4 gian trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý trong pháp luật dân sự Việt Nam” của tác giả Phạm Kim Anh đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01 năm 2008... Đây là những bài viết của các tác giả là những người có kinh nghiệm hành nghề công chứng, đề cập đến những vấn đề thực tế đặt ra liên quan đến chủ thể là người chưa thành niên trong hoạt động công chứng. Có thể thấy, ở các đề tài nghiên cứu hay bài viết nêu trên mới dừng lại ở việc nghiên cứu một khía cạnh nào đó trong các vấn đề pháp lý liên quan đến người chưa thành niên như: năng lực hành vi dân sự; người đại diện, giám hộ; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên mà chưa nghiên cứu một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến người chưa thành niên để từ đó tổng hợp, thống nhất các quy định thành một hệ thống, từ đó tìm ra những quy định khác biệt giữa các văn bản luật có liên quan như: BLDS năm 2015, Luật HN&GĐ năm 2014, Luật trẻ em năm 2016, … và các văn bản hướng dẫn. Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu đến những điểm mới sửa đổi, bổ sung cơ bản của BLDS năm 2015, Luật HN&GĐ năm 2014 và Luật công chứng năm 2014 về công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên. 3. Mục đích nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu nhằm một số mục đích sau: Thứ nhất, phân tích, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản của công chứng hợp đồng, giao dịch lên quan đến tài sản của con chưa thành niên gồm: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các yếu tố ảnh hưởng. Trên cơ sở đó làm rõ được bản chất của công chứng hợp đồng giao dịch về tài sản của con chưa thành niên. Thứ hai, phân tích, đánh giá toàn diện các quy định của BLDS năm 2015 và Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Công chứng năm 2014 về công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản của con chưa thành niên trên phương diện thực trạng pháp luật. Đề tài chú trọng nghiên cứu sâu về chủ thể của giao dịch dân sự là con chưa thành niên như năng lực hành vi dân sự, các ràng buộc, hạn chế khi con chưa thành niên tham gia giao dịch dân sự; Phân tích, làm rõ các quy định về con chưa thành niên, trọng tâm là các quy định liên quan đến tài sản của con chưa 5 thành niên; xác định vai trò của người đại diện (là cha mẹ, người giám hộ) cho con chưa thành niên trong giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của con chưa thành niên. Thứ ba, từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến một số loại hợp đồng, giao dịch công chứng phổ biến để chỉ ra những vướng mắc, hạn chế và đưa ra phương án giải quyết cũng như đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật để việc công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên được đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích của con chưa thành niên. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Xuất phát từ đặc điểm của đề tài nghiên cứu theo định hướng ứng dựng, đối tượng nghiên cứu của đề tài là công chứng các hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên theo quy định của pháp luật hiện hành gồm: BLDS năm 2015, Luật HN&GĐ năm 2014 và Luật công chứng năm 2014. Trong đó, tác giả đi vào phân tích các quy định của pháp luật về công chứng các hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên, thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về vấn đề này, .... để tìm ra những điểm thành công, những vấn đề còn thiếu sót, bất cập, hạn chế của pháp luật khi áp dụng trên thực tiễn và kiến nghị những giải pháp hoàn thiện. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi đề tài nghiên cứu mang tính thực tiễn áp dụng luật, tác giả chú trọng nghiên cứu các vấn đề liên quan đến con chưa thành niên trong lĩnh vực luật học như khái niệm, quyền và nghĩa vụ, ... Đề tài nghiên cứu con chưa thành niên có cha mẹ, có cha hoặc mẹ là người người diện, con chưa thành niên có người giám hộ trong trường hợp cha mẹ không đủ điều kiện làm người đại diện cho con chưa thành niên, cha mẹ bị tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và loại trừ trường hợp người chưa thành niên không xác định được cha mẹ. 6 Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản của con chưa thành niên theo quy định của BLDS năm 2015, Luật HN&GĐ năm 2014 và Luật Công chứng 2014 cũng như thực tiễn hoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên trên địa bàn tại thành phố Hà Nội. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: - Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được áp dụng khi nghiên cứu cơ sở và các vấn đề pháp lý liên quan đến con chưa thành niên. - Phương pháp so sánh: Phương pháp này được dùng để so sánh các quy định liên quan đến người chưa thành niên theo quy định tại BLDS năm 2015 với các quy định liên quan đến con chưa thành niên theo quy định tại Luật HN&GĐ năm 2014, từ đó tìm ra các quy định còn chưa thống nhất giữa hai văn bản luật này. - Phương pháp kế thừa: tác giả kế thừa có chọn lọc một số kết quả nghiên cứu, quan điểm của các tác giả khác trong một số đề tài nghiên cứu, hoặc bài viết trước đây có liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu này. - Phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn: dựa trên các quy định của pháp luật, đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật khi công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên để tìm ra những điểm bất cập, hạn chế, thiếu sót. Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu ở Chương 2 và Chương 3 của đề tài. 7 Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp giải thích, bình luận để hoàn thành đề tài này. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Hoạt động công chứng về tài sản của con chưa thành niên ngày càng đa dạng và phức tạp trên thực tế. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng quát công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên. Đến thời điểm hiện tại, mới chỉ có các công trình nghiên cứu ở mức độ khái quát gắn với hiệu lực của giao dịch dân sự hay giải quyết hậu quả pháp lý do giao dịch dân sự không đáp ứng yêu cầu về mặt chủ thể hoặc chỉ nghiên cứu ở một khía cạnh nhất định của về giao dịch với con chưa thành niên. Trên thực tế, việc hiểu và áp dụng một cách thống nhất các quy định của BLDS năm 2015 về vấn đề này còn gặp khó khăn, trở ngại do một số quy định của BLDS năm 2015 mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa quy định rõ ràng, cụ thể, chưa thống nhất với các văn bản pháp luật khác có liên quan. Dựa trên việc nghiên cứu thực tiễn hoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch nói chung và các hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên nói riêng, tác giả muốn đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật có liên quan đến giao dịch về tài sản của con chưa thành niên nói riêng và của người chưa thành niên nói chung. Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm đề xuất các kiến nghị để các cơ quan hữu quan xem xét trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật một cách thống nhất và hiệu quả. Tác giả hy vọng đề tài này sẽ là một tài liệu khoa học hữu ích cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu pháp luật dân sự liên quan đến công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên. Đối với các cơ quan Nhà nước, kết quả của đề tài này có thể sử dụng để tham khảo trong quá trình xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự, pháp luật hôn nhân và gia đình một cách thống nhất. 7. Bố cục của luận văn Luận văn được chia làm 03 phần, bao gồm: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận. Nội dung luận văn gồm 3 chương như sau: 8 + Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên. + Chương 2: Nội dung quy định của pháp luật về công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên. + Chương 3: Thực tiễn công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên – Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. 9 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ TÀI SẢN CỦA CON CHƢA THÀNH NIÊN 1.1. Khái niệm, đặc điểm của công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chƣa thành niên 1.1.1. Khái niệm công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên Khái niệm là một danh từ chỉ sự phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và những mối liên hệ giữa chúng. Để xác định được bản chất của công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên cần phải làm rõ các yếu tố cấu thành khái niệm thông qua hệ thống các khái niệm có liên quan gồm: công chứng hợp đồng, giao dịch; tài sản và con chưa thành niên. * Khái niệm công chứng hợp đồng, giao dịch Xét về mặt từ ngữ, “công chứng” có thể được hiểu là “công quyền làm chứng”. Nhà nước trao một phần quyền lực “công” cho một cá nhân – là công chứng viên (người này phải trải qua quy trình đào tạo, bổ nhiệm chức danh chặt chẽ) để thay mặt Nhà nước làm chứng/chứng kiến cho việc xác lập, thực hiện các giao dịch. Từ trước đến nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về công chứng được thể hiện ở dạng quan điểm cá nhân hoặc được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước (Thông tư số 574/QLTPK); Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/NĐ-CP ngày 18/05/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (Nghị định 31/NĐCP); Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực; Luật công chứng ngày 29/11/2006 (Luật công chứng năm 2006) và Luật công chứng ngày 20/06/2014 (Luật công chứng năm 2014). Lần đầu tiên khái niệm công chứng được ghi nhận tại Thông tư số 574/QLTPK như sau: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước, nhằm giúp công 10 dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.” Với khái niệm này, công chứng là hoạt động mang quyền lực công – “Công chứng nhà nước” với 2 nhiệm vụ là “lập và xác nhận văn bản, sự kiện” và “hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện” để đạt được mục đích là “làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện”. Nhà nước đã sử dụng quyền lực công của mình để nhằm bảo đảm hiệu lực, giá trị thực hiện của các giao dịch, sự kiện thông qua hoạt động của Công chứng nhà nước – đây cũng là sự ghi nhận mô hình tổ chức công chứng đầu tiên. Ngoài ra, khái niệm công chứng nêu trên còn ghi nhận vai trò “bổ trợ tư pháp” bên cạnh vai trò “quản lý nhà nước bằng pháp luật” thể hiện ở việc “ngăn ngừa vi phạm” và“giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi”. Nghị định số 45/HĐBT đã đưa ra khái niệm công chứng với một số thay đổi: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”. Ở khái niệm này, các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của công chứng vẫn được giữ nguyên. Tuy nhiên, thay vì “lập và xác nhận văn bản sự kiện” và “hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện” thì khái niệm công chứng trên quy định mục đích công chứng rõ ràng hơn đó là “chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ”. Ở khái niệm này, giá trị thi hành của văn bản công chứng không được nhắc đến trong khi đó lại lần đầu tiên các nhà làm luật khẳng định giá trị “chứng cứ” của văn bản, giấy tờ 11 được công chứng. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Nếu như ở hai khái niệm trên đều không đề cập đến chủ thể công chứng, mà chỉ quy định “công chứng nhà nước là việc …”, thì tại Nghị định 31/NĐ-CP đã khẳng định chủ thể công chứng bao gồm “công chứng nhà nước” và “ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”. Cũng tại Nghị định 31/NĐ-CP này đã có sự phân tách hai hành vi đó là: “chứng nhận của công chứng nhà nước” và “chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền” thể hiện sự phân công lại công việc giữa các chủ thể công chứng. Nghị định 75/2000/NĐ-CP đưa ra khái niệm công chứng như sau: “công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (Sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này”. Như vậy, chủ thể công chứng được xác định là “Phòng công chứng”, mục đích công chứng vẫn là “chứng thực tính xác thực” của hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên, giá trị của văn bản công chứng không được ghi nhận trong khái niệm này. Luật công chứng năm 2006 ra đời thay thế cho Nghị định 75/2000/NĐ-CP đã xây dựng khái niệm công chứng có đầy đủ các yếu tố: chủ thể, mục đích, phạm vi của công chứng, cụ thể: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng1”. Thay đổi quan trọng nhất trong khái niệm này là đã khẳng định chủ thể của công chứng chỉ là công chứng viên Hiện tại, khi Luật Công chứng năm 2014 được ban hành và đang có hiệu lực thực hiện thì khái niệm công chứng một lần nữa có sự thay đổi, quy định rõ hơn về chủ thể và mở rộng đối tượng của công chứng:“Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp 1 Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2006. 12 của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ Tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang Tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”2. Với khái niệm này, chúng ta có thể xác định được các yếu tố: Thứ nhất, chủ thể công chứng là công chứng viên hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng; Thứ hai, đối tượng công chứng: Hợp đồng, giao dịch, bản dịch. Thứ ba, phạm vi công chứng: (i) Thực hiện theo quy định của pháp luật: luật quy định hình thức của hợp đồng, giao dịch phải được công chứng; (ii) Thực hiện theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Có thể thấy, tại mỗi một giai đoạn khác nhau, khái niệm công chứng lại có những thay đổi nhất định, sự thay đổi này xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhận thức của người dân và cách nhìn nhận của nhà nước về công chứng. Tuy nhiên, mục đích hướng tới của công chứng là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong giao dịch có sự đồng nhất trong các khái niệm ở tất cả các văn bản nêu trên. Từ các yếu tố chủ thể, đối tượng, phạm vi công chứng có thể nhận diện: Công chứng hợp đồng, giao dịch là một trong những hoạt động của công chứng viên trong hoạt động công chứng nói chung, có đối tượng là hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản. * Khái niệm tài sản Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm khác nhau về “tài sản” như: Tài sản là các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lơi ích vật chất khác. Tài sản bao gồm vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như họa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo lại theo mẫu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiền và các 2 Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014. 13 giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản3”. Có thể thấy, trong trường hợp này, tài sản ở đây được xác định gồm: Vật có giá trị bằng tiền, đối tượng của quyền tài sản và lợi ích vật chất khác. Hoặc BLDS năm 2015 quy định như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản4” và “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai5”. So sánh hai khái niệm tài sản ở trên, có thể thấy, BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm tài sản dưới hình thức liệt kê cụ thể gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản và được phân loại tùy vào đặc tính của từng loại tài sản, gồm: động sản/bất động sản; tài sản hiện có/tài sản hình thành trong tương lai; quyền tài sản. Thuật ngữ tài sản có thể được hiểu đơn giản là của cải được con người sử dụng hoặc là vật cụ thể được con người sử dụng, có thể nhận biết được thông qua các giác quan hoặc những vật vô hình được hữu hình hóa thông qua việc xác định giá trị của nó bằng tiền. Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, tài sản là khách thể một trong ba yếu tố cấu thành nên quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Ngoài yếu tố đáp ứng nhu cầu sử dụng của con người, những tài sản được xác định là vật hữu hình hoặc chắc chắn sẽ được hình thành phải được gắn với quyền sở hữu (thể hiện của quyền đối vật) và những tài sản thuộc về nhóm quyền tài sản - thể hiện của quyền đối nhân, tức là quyền của một chủ thể này đối với một chủ thể khác và quyền này trị giá được bằng tiền như: quyền đòi nợ, quyền yêu cầu bồi thường, quyền yêu cầu chia một phần giá trị trong khối tài sản chung, … Do công chứng là hoạt động gắn liền với việc áp dụng pháp luật nên tài sản sẽ được xác định trên khái niệm mà BLDS năm 2015 đưa ra bao gồm: Vật; Tiền; Giấy tờ có giá, gồm: cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác trị giá được bằng tiền và được phép giao dịch6. 3 Từ điển luật học – Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp – Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa – Nhà xuất bản Tư Pháp – tr.685 4 Khoản 1 Điều 105 BLDS năm 2015 5 Khoản 2 Điều 105 BLDS năm 2015 6 Khoản 1 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 14 - Tài sản hình thành trong tương lai; - Quyền tài sản, bao gồm: Quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; Quyền sử dụng đất; Quyền tài sản khác. * Khái niệm con chưa thành niên Một cá nhân được coi là người trưởng thành khi tâm sinh lý và thể chất phát triển đến một mức độ hoàn chỉnh. Các nghiên cứu về tâm lý học, sinh học đã chỉ ra rằng cá nhân đạt đến sự phát triển hoàn chỉnh về tâm sinh lý và thể chất khi đủ mười tám tuổi và được coi là người thành niên. Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu khoa học của nhiều ngành khác nhau mà các văn bản pháp lý, công ước, điều ước quốc tế về trẻ em đều ghi nhận “trẻ em được xác định là người dưới mười tám tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn7” và “những người chưa thành niên là người dưới mười tám tuổi8”. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm “người chưa thành niên” được quy định tại rất nhiều văn bản luật thuộc các ngành luật khác nhau như: dân sự, hình sự, hôn nhân và gia đình, lao động, … và đều thống nhất “người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”. Tuy nhiên, ở mỗi một ngành luật sẽ quy định về người chưa thành niên ở các nhóm tuổi khác nhau phù hợp với đối tượng điều chỉnh riêng như: đủ mười lăm tuổi là độ tuổi của người lao động (theo pháp luật lao động), đủ mười bốn tuổi là độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự (theo pháp luật hình sự), trẻ em là người dưới mười sáu tuổi (theo Điều 1 Luật trẻ em năm 2016), … Con chưa thành niên là khái niệm được nhắc đến trong ngành luật hôn nhân và gia đình có nghĩa hẹp hơn khái niệm người chưa thành niên, tuy nhiên chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa khái niệm này. Trong phạm đề tài nghiên cứu này, con chưa thành niên không chỉ được đặt trong mối quan hệ với cha mẹ mà còn được đặt trong mối quan hệ với những người thân trong gia đình (như: cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, anh chị em ruột, ông bà nội, ông bà ngoại, …), người 7 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 Điều 11 Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1990. 8
- Xem thêm -