Tài liệu Công chức trong nền kinh tế thị trường

  • Số trang: 94 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 163 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục luc 1 MỞ ĐẦU Chương 1: VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM VỀ CÔNG CHỨC 5 TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1. Khái niệm công chức 5 1.2. Vị trí, vai trò của công chức trong nền kinh tế thị trường 13 1.3. Đặc trưng cơ bản của công chức trong nền kinh tế thị trường 24 1.4. Thực trạng hoạt động của công chức trong nền kinh tế thị trường 26 1.4.1. Số lượng cán bộ công chức 26 1.4.2. Chất lượng cán bộ công chức 27 1.5. Lịch sử phát triển công chức của Việt Nam 30 Chương 2: 42 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 2.1. Địa vị pháp lý của công chức phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 42 2.1.1. Pháp luật điều chỉnh công chức trong nền kinh tế thị trường luôn gắn với chính sách đối nội, đối ngoại, đổi mới và hội nhập quốc tế 42 2.1.2. Thể hiện tư tưởng tôn trọng quyền con người, tôn trọng người có đức, có tài 42 2.2. Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh công chức trong nền kinh tế thị trường 42 2.3. Quyền và nghĩa vụ của công chức trong nền kinh tế thị trường 44 2.3.1. Quyền của công chức trong nền kinh tế thị trường 44 2.3.2. Nghĩa vụ của công chức trong nền kinh tế thị trường 47 2.3.3. Những việc mà công chức không được làm 50 2.4. Những bất cập của pháp luật trong việc quy định địa vị pháp lý của công chức 51 2.4.1. Về quy định của pháp luật về cán bộ công chức (quản lý cán bộ công chức) 51 2.4.2. Về trình độ chuyên môn của cán bộ công chức 55 2.4.3. Hiện tượng chảy máu chất xám trong các cơ quan nhà nước 57 2.4.4. Vấn đề lương của cán bộ công chức trong nền kinh tế thị trường 63 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 65 CỦA CÔNG CHỨC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả của chế độ công vụ trong nền kinh tế thị trường 65 3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả của công chức trong nền kinh tế thị trường 69 3.2.1. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật 69 3.2.2. Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho cán bộ, công chức 70 3.2.3. Nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng, bố trí, tổ chức cán bộ 72 3.2.4. Thực hiện đúng chế độ tiền lương 80 3.2.5. Giáo dục, nâng cao giá trị nghề nghiệp của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước 82 3.2.6. Xây dựng và nâng cao vai trò của văn hóa công sở trong việc phát huy tính tích cực lao động của cán bộ, công chức 84 3.2.7. Tạo môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến 85 KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay thế giới đang phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa. Sự giao lưu quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã và đang bước vào sân chơi của nền kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường có ưu điểm là tự do kinh doanh, khuyến khích cạnh tranh, thông qua thị trường mà phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, phát huy đến mức cao nhất các tài năng sáng tạo. Nền kinh tế của nước ta đã đổi mới căn bản cả thế và lực, đang đứng trước những cơ hội to lớn và triển vọng sáng sủa hơn bao giờ hết. Đó là sự thay đổi chất lượng quan trọng của quá trình phát triển, đưa nền kinh tế nước ta sang một giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện và sâu sắc hơn. Nhưng cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật mà chủ yếu là cạnh tranh vô tổ chức, độc quyền, gây ra phân hóa giàu nghèo, hủy hoại môi trường. Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường với đội ngũ công chức có nhiều sự thay đổi về chất và lượng. Điều mà ai cũng phải thừa nhận đó là thu nhập bình quân trên đầu người ở nước ta trong những năm gần đây đã tăng rất nhanh so với những thập kỷ trước, chất lượng cuộc sống cũng được nâng cao. Tuy nhiên, vấn đề tiền lương của công chức vẫn còn thấp so với mặt bằng chung, năng lực của công chức trong quá trình hội nhập còn nhiều hạn chế, nạn chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư khá nhiều... Vấn đề công chức luôn được quan tâm trong bất cứ giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, cán bộ và công tác cán bộ cũng đều giữ vị trí đặc biệt quan trọng, cán bộ là một trong những nhân tố cơ bản quyết định thành công hay thất bại của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập tổ chức và rèn luyện Đảng ta khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". 1 Trong Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ VI năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới đổi mới kinh tế nước ta và đã tạo tiền đề cho nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa VII) đã đặt nền tảng cho công cuộc cải cách hành chính của nước ta. Đổi mới hoạt động của Nhà nước nhằm chuyển nước ta sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong chiến lược cải cách hành chính trong giai đoạn 2001- 2010 nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội X của Đảng cũng đã chỉ rõ, một trong những giải pháp nhằm đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là phải: "Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng. Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài, dù là đảng viên hay người ngoài Đảng" [9]. Trong đề tài luận văn này, tác giả muốn tìm hiểu lý do của hiện tượng trên? Thực tế của công chức trong nền kinh tế thị trường như thế nào? Và các giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả của công chức trong nền kinh tế thị trường. Với nghiên cứu về đề tài này, tác giả mong muốn có thể đóng góp phần nào vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra trong việc xây dựng đội ngũ công chức trong nền kinh tế thị trường - công cuộc mà Đảng và Nhà nước đang rất quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Như vậy, trong công cuộc cải cách hành chính thì hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế thị trường. 2 Việc chọn đề tài "Công chức trong nền kinh tế thị trường" làm đề tài luận văn của mình cũng xuất phát từ sự cần thiết về mặt lý luận - cụ thể là sự hạn chế của việc nghiên cứu trong lĩnh vực này. 2. Mục đích của đề tài Góp phần vào công cuộc nghiên cứu, xây dựng nền tảng lý luận về đội ngũ công chức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, từ đó có thể đóng góp vào thực tiễn cải cách hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. 3. Nhiệm vụ của đề tài Làm rõ vấn đề lý luận về cán bộ công chức trong nền kinh tế thị trường, nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thực trạng đội ngũ công chức trong nền kinh tế thị trường và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về cán bộ công chức Việt Nam. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài: Luận văn dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương bồi dưỡng, chăm lo nguồn nhân lực, nhân tài và công chức của Đảng và Nhà nước ta. - Phương pháp trừu tượng hóa khoa học của kinh tế chính trị; - Phương pháp phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử; - Phương pháp điều tra, khảo sát, tình hình thực tế của công chức trong nền kinh tế thị trường. 5. Ý nghĩa của đề tài - Việc chọn đề tài "Công chức trong nền kinh tế thị trường" làm đề tài luận văn của mình cũng xuất phát từ sự cần thiết về mặt lý luận - cụ thể là sự hạn chế của việc nghiên cứu trong lĩnh vực này. 3 - Với nghiên cứu về đề tài này, tác giả mong muốn có thể đóng góp phần nào vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong nền kinh tế thị trường. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn 3 chương. Chương 1: Vị trí, vai trò và đặc điểm về công chức trong nền kinh tế thị trường. Chương 2: Các quy định của pháp luật về công chức trong nền kinh tế thị trường. Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả công chức trong nền kinh tế thị trường. 4 Chương 1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM VỀ CÔNG CHỨC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.1. Khái niệm công chức Để thực hiện chức năng của mình, Nhà nước phải làm rất nhiều công việc, trong đó có một bộ phận lớn công việc của Nhà nước được gọi là công vụ. Để làm những việc này, trong suốt thời gian dài của sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, các Nhà nước của tất cả các quốc gia đều phải tuyển dụng một số người nhất định từ công dân của quốc gia mình. Những người này được coi là người của nhà nước, là nhà chức trách, được tuyển dụng bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có thi tuyển từ những người có trình độ để lấy người làm những việc có tầm quan trọng và đòi hỏi trình độ và tri thức và phẩm chất nhất định, tổ chức họ thành bộ máy và nhà nước và giao công vụ cho họ bằng các văn bản quy phạm chung hoặc bằng các công lệnh cá biệt đối với một số việc có tính chất và nhiệm vụ đặc nhiệm. Tất cả những người này được gọi chung bằng nhiều tên gọi khác nhau, tùy theo chế độ chính trị, xã hội, văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia, trong đó từ ngữ được dùng chung trong thời đại ngày nay là công chức. Trong môi trường độc tôn ấy, nội hàm của thuật ngữ công chức không có vấn đề gì phải tranh luận. Nhưng từ nửa cuối thế kỷ thứ XX đến nay, lâu nay những việc của Nhà nước chỉ do người nhà nước làm đã từng bước được chuyển giao hoặc kết hợp với khu vực tư, với tên gọi chung là xã hội hóa. Những việc đó bao gồm giáo dục, y tế, kinh tế và một số khâu thuần túy mang tính quản lý, như giam giữ tù nhân, giám định các chứng cứ pháp lý cho các hoạt động tư pháp, công chứng, kiểm toán, điều tra, thanh tra... Cách tổ chức các công việc trên đã làm thay đổi cả hình thức pháp lý của những người thực thi công vụ. Cụ thể, là những người làm 5 trong nhà nước không chỉ thuần túy là những người của nhà nước nữa, mà có cả người ngoài nhà nước. Từ đây phát sinh vấn đề định danh cho những người làm công vụ, có địa vị khác nhau như đã trình bày ở trên. Nhìn nhận vấn đề công chức, thường có hai quan niệm: Một là, quan niệm chính thức về công chức và mỗi Nhà nước đưa ra thông qua các quy định của mỗi Nhà nước đó; Hai là, nhóm quan niệm về công chức của các nhà khoa học. Ngay ở nhóm thứ nhất thì quan niệm công chức ở mỗi nước lại có sự khác nhau. Ví dụ, Quy chế công vụ Vương Quốc Anh 1977 đã quy định công chức là công dân Anh, bao gồm những nhân viên công tác trong ngành hành chính như nội chính và ngoại giao, làm việc tại các bộ ngành ở trung ương. Công chức Anh được được chia thành ba nhóm chính: nhóm phục vụ, làm việc tại các bộ khác nhau (mỗi nhóm có thang bảng lương riêng và yêu cầu trình độ chuyên môn khi vào làm trong công vụ); nhóm chuyên gia, kỹ thuật và các ngạch riêng của mỗi bộ như: thanh tra thuế, hải quan, giám ngục và nhân viên xuất nhập cảnh. Nhân viên chính trị, tư pháp, quân đội, Vương thất và những người làm dịch vụ công với những người làm việc khác với công chức. Còn Luật công vụ Trung Quốc 2005 đã quy định công chức: là công dân Trung Quốc, làm việc trong khu vực công, được đưa vào biên chế, hưởng lương từ ngân sách. Công chức của Trung Quốc có bảy loại, công chức của cơ quan Đảng, công chức của cơ quan lập pháp, công chức của các cơ quan hành pháp, công chức của mặt trận hiệp thương, công chức giữ các chức danh thẩm phán, công chức trong viện kiểm sát nhân dân, công chức làm việc trong các Đảng phái chính trị khác. Người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp không được gọi là công chức. Như vậy, có thể hiểu rằng: Thứ nhất: Về mặt thể chế, không có quy định chung về khái niệm công chức cho mọi nhà nước. Mỗi nhà nước, xuất phát từ những điều kiện 6 chủ quan và khách quan sẽ đưa ra khái niệm công chức có tính pháp lý của riêng mình. Thứ hai: khái niệm đó dù thế nào cũng đáp ứng được mục đích của quản lý người làm công vụ. Ở Việt Nam khái niệm công chức là trọng tâm của luật hành chính. Luật Cán bộ công chức năm 2008 có quy định về khái niệm công chức: Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an mà không phải là sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý đơn vị sự nghiệp ngoài công lập thì được đảm bảo hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [32]. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử và giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức: 7 Điều 3. Công chức trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam - Ở Trung ương: + Người giữ chức vụ, chức danh cấp phó, trợ lý, thư ký của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cục, vụ, cơ quan thường trực tại Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng của Văn phòng Trung ương Đảng, cơ quan Ủy ban kiểm tra Trung ương và các Ban Đảng ở Trung ương; + Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của Đảng ủy khối và Đảng ủy ngoài nước trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng; + Người làm việc trong bộ phận giúp việc của cơ quan, tổ chức do Bộ Chính trị, Ban bí thư, cơ quan do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập. - Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh). + Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của tỉnh ủy, thành ủy. + Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của Đảng ủy khối trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy. + Người làm việc chuyên trách trong văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên truyền, cơ quan kiểm tra của Đảng ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở trực thuộc tỉnh Ủy, thành ủy. - Ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện): 8 Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh. Điều 4. Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, Phó Tổng kiểm toán Nhà nước, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập. Điều 5. Công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính Phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập. - Thứ trưởng và người giữ chức danh, chức vụ tương đương, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, vụ, thanh tra và tổ chức khác không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ. - Tổng cục trưởng và tương đương, Phó Tổng cục trưởng và tương đương, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, vụ, thanh tra thuộc Tổng cục và tương đương. - Cục trưởng, Phó Cục trưởng, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, phòng, thanh tra, chi cục thuộc Cục. - Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong các tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập. Điều 6. Công chức trong các cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện 9 - Ở cấp tỉnh: + Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân; + Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc Ủy ban nhân dân. - Ở cấp huyện: + Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân; + Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Điều 7. Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân - Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án các tòa và tòa chuyên trách; Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Thư ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, vụ, ban và các tòa, tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao; - Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án, Phó Chánh án các tòa chuyên trách, Thẩm định Tòa án nhân dân 10 cấp tỉnh, thư ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, phòng, ban và Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh; - Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện, thư ký tòa án; người làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện. Điều 8. Công chức trong hệ thống viện kiểm sát nhân dân - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, thuộc viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; - Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và người làm việc trong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện. Điều 9. Công chức trong cơ quan tổ chức chính trị - xã hội - Ở Trung ương: + Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng, Trưởng ban, Phó trưởng ban và người làm việc trong văn phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức ở Trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam (sau đây gọi là tổ chức chính trị - xã hội). + Người làm việc trong bộ phận giúp việc của Ủy ban thuộc tổ chức chính trị - xã hội. - Ở cấp tỉnh 11 + Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng, Trưởng ban, phó Trưởng Ban là người làm việc trong văn phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tương đương. - Ở cấp huyện Người làm việc trong các cơ quan của các tổ chức chính trị xã hội và tổ chức tương đương. Điều 10. Công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Người làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp. Điều 11. Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập. - Đơn vị sự nghiệp công lập nói tại Nghị định này là các tổ chức được cơ quan có thẩm quyền của Đảng, cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động thương - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định. - Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ. - Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc các Ban và cơ quan tương đương của Trung ương Đảng, Văn 12 phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan Trung ương và các tổ chức chính trị - xã hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. - Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc Tổng cục, Cục và tương đương trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh ủy, thành ủy, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh ủy, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. - Người giữ các vị trí việc làm gắn với nhiệm vụ quản lý nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước [2]. Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hành chính nhà nước thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến công vụ, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cập đội ngũ công chức. Mặc dù hiện nay quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có khác nhau. Có nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia dịch vụ công. Hay hẹp hơn như tại Anh, nơi công chức là những người thay mặt nhà nước giải quyết công việc công, nhất là ở tại Trung ương, nên phạm vi công chức thu hẹp hơn rất nhiều. Lịch sử phát triển của đội ngũ công chức Việt Nam đã đưa ra khái niệm công chức rất cụ thể, từ đó tạo cơ sở cho chúng ta hiểu thế nào là cán bộ công chức ở Việt Nam. 1.2. Vị trí, vai trò của công chức trong nền kinh tế thị trƣờng Hội nhập kinh tế quốc tế có thể mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Việc nhập khẩu các sản phẩm trung gian và thu hút đầu tư mà trong nước không 13 thể cung cấp với giá tương ứng, việc chuyển giao công nghệ và các ý tưởng từ những nước phát triển hơn, và việc tiếp cận thị trường vốn và hàng hóa quốc tế có thể giúp chúng ta giải quyết một số hạn chế cố hữu để tăng trưởng và phát triển nhanh hơn. Nhưng đó là những lợi ích tiềm năng chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng khi trong nước chúng ta có nội lực vững mạnh với những chính sách và thể chế bổ trợ. Kinh nghiệm của những nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là phải kết hợp tốt giữa việc mở cửa tự do hóa với việc duy trì mức tiết kiệm - đầu tư cao, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực và quản lý nhà nước tốt. Đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các từ trung ương đến địa phương. Hiệu lực quản lý nhà nước được thực hiện bởi số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: "Cán bộ nào thì phong trào ấy". Do vậy, nhận biết được thực trạng của đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố cơ bản có tính quyết định góp phần đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nước. Đội ngũ công chức của nền hành chính không chỉ là nguồn lực chủ yếu để cấu thành nền hành chính mà nó còn có vai trò quyết định cơ chế vận hành, tổ chức các hoạt động và sự thành công hay thất bại của cơ chế vận hành hay các hoạt động đó. Hiệu quả của nền hành chính phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ công chức: Các chính phủ hoạt động có hiệu quả hơn khi họ biết lắng nghe giới doanh nghiệp và các công dân, và hợp tác với họ trong việc quyết định và thực thi chính sách. Ở đâu các chính phủ thiếu các cơ chế biết lắng nghe, ở đó các chính phủ không đáp ứng được lợi ích của người dân, đặc biệt là người dân thuộc các sắc tộc thiểu 14 số và người nghèo, những đối tượng thường ráng sức làm cho tiếng nói họ nghe thấu đến hành lang quyền lực [17]. Phải khẳng định rằng, đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước đã và đang góp phần đáng kể vào tiến trình cải cách hành chính theo mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, có tính chuyên nghiệp cao mà Đảng và nhân dân ta đã đặt ra trong thời kỳ mới. Muốn hiểu về vai trò, trách nhiệm của công chức trong nền kinh tế thị trường chúng ta phải tìm hiểu nền kinh tế thị trường cụ thể là như thế nào? Tại sao công chức trong nền kinh tế thị trường tạo điều kiện thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển. Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế - kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam cũng như nhiều nước khác đã áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công tác chỉ 15 đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức của toàn Đảng, toàn dân trong nhiều năm. Hội nghị Trung ương 3 (tháng 3-1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con 16 đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định: "Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước" [6]. Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: "Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng" [7]. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm "kinh tế thị trường". Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ IX đã khẳng định: Xúc tiến cải cách hành chính toàn diện về tổ chức, cán bộ, cơ chế hoạt động. Phát huy vai trò điều hành của bộ máy hành pháp. Xây dựng quan hệ chế độ trách nhiệm công vụ. Tổ chức đào tạo lại cán bộ, nhân viên trong bộ máy nhà nước bảo đảm tính liên tục của nền hành chính. Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 20012010 cũng đã xác định mục tiêu là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có 17 phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng phát triển đất nước [3]. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo 18
- Xem thêm -