Tài liệu Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin

  • Số trang: 507 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 58 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ---------------------- ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2009 -2010 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN PHỤC VỤ XÂY DỰNG LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN Chủ nhiệm đề tài : PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Chủ nhiệm khoa Hành chính- Nhà nước Đại hoc luật Hà Nội Thư ký đề tài: Th.s. Trần Ngọc Định Giảng viên Khoa Hành chính- Nhà nước Đại học luật Hà Nội Cơ quan chủ trì: Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp 8985 HÀ NỘI, 2011 1 ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ: NĂM 2009-2010 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN PHỤC VỤ XÂY DỰNG LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN Chủ nhiệm đề tài : PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Chủ nhiệm khoa Hành chính- Nhà nước Đại học luật Hà Nội Thư ký đề tài: Th.s. Trần Ngọc Định Giảng viên Khoa Hành chính- Nhà nước Đại học luật Hà Nội Cơ quan chủ trì: Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp Thành viên tham gia nghiên cứu: 1. PGS.TS Thái Vĩnh Thắng - Đại học luật Hà Nội. 2. PGS.TS Nguyễn Như Phát - Viện Nhà nước và Pháp luật. 3. TS Nguyễn Kim Thoa - Vụ Pháp luật hình sự- hành chính, Bộ tư pháp. 4. PGS.TS Nguyễn Thị Hồi - Đại học luật Hà Nội. 5. TS Tô Văn Hoà - Đại học luật Hà Nội. 6. ThS Trần Ngọc Định - Đại học luật Hà Nội. 7. PGS.TS Tường Duy Kiên - Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. 8. TS Hoàng Thị Ngân - Văn phòng Chính phủ. 9. TS Bùi Thị Đào - Trường Đại học luật Hà Nội. 10. GS.TS Nguyễn Đăng Dung - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. 11. ThS. Nguyễn Thị Hạnh - Vụ pháp luật hình sự- hành chính, Bộ tư pháp. 12. TS Nguyễn Thị Thu Vân -Vụ pháp luật kinh tế - dân sự, Bộ Tư pháp. 13. GS.TSKH Lê Văn Cảm – Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. 14. ThS Nguyễn Đức Lam - Văn phòng Quốc hội 15. TS Nguyễn Quốc Hoàn - Đại học luật Hà Nội 16. LG Nguyễn Chu Dương - Nhà nghiên cứu luật học 2 MỤC LỤC A. BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Phần Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu Chương 1: Cơ sở lý luận pháp luật về tiếp cận thông tin 1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin và pháp luật về tiếp cận thông tin 1.2 Tầm quan trọng của pháp luật về tiếp cận thông tin đối với mỗi quốc gia. 1.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về tiếp cận thông tin 1.3.1 Phạm vi cung cấp thông tin /giới hạn cung cấp thông tin 1.3.2 Các nguyên tắc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin 1.3.3 Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin 1.3.4 Các yếu tố cấu thành quyền tiếp cận thông tin 1.3.5 Thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin 1.3.6 Thủ tục khiếu nại, khiếu kiện 1.3.7 Hình phạt, các biện pháp bảo hộ,các biện pháp khuyến khích thực thi pháp luật Chương 2: Luật tiếp cận thông tin/tự do thông tin trong pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước trên thế giới 2.1 Luật tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế 2.2 Luật tiếp cận thông tin của một số nước trên thế giới 2.2.1 Luật tiếp cận thông tin của một số nước Châu Âu 2.2.2 Luật tiếp cận thông tin của một số nước Châu Mỹ- La Tin 2.2.3 Luật tiếp cận thông tin của một số nước châu Phi 2.2.4 Luật tiếp cận thông tin của một số nước Châu Á và châuÚc 2.3 Những đặc điểm chung và đặc thù trong pháp luật tiếp cận thông tin và thực hiện pháp luật tiếp cận thông tin của một 3 3 7 7 7 13 25 25 26 26 28 35 35 38 39 43 49 53 56 57 57 58 58 70 79 82 94 số nước trên thế giới 2.4 Những kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay Việt Nam hiện nay 3.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam 3.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay 3.3 Thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay Chương 4. Xây dựng Luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay 4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam 4.2 Nội dung cơ bản của dự thảo Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam 4.3 Một số kiến nghị đối với dự thảo Luật tiếp cận thông tin B. CÁC BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ Phần1. Cơ sở lý luận pháp luật về quyền tiếp cận thông tin Chuyên đề 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về quyền tiếp cận thông tin PGS-TS Thái Vĩnh Thắng&TS Tô Văn Hoà Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 2. Khái niệm và nội dung của quyền tiếp cận thông tin TS nguyễn Quốc Hoàn Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 3. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về tiếp cận thông tin PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 4. Vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với công dân trong tham gia phản biện, giám sát xã hội, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, hiệu quả TS Nguyễn Thị Thu Vân Vụ pháp luật kinh tế- dân sự, Bộ tư pháp Chuyên đề 5. Giới hạn của quyền tiếp cận thông tin PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 6. Những điều kiện đảm bảo quyền tiếp cận thông tin 4 97 100 100 102 107 121 121 125 128 133 133 133 146 162 174 190 201 TS Bùi Thị Đào Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 7. Thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, thủ tục khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến quyền tiếp cận thông tin TS Nguy ễn Kim Thoa Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp Phần 2. Pháp luật về tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài Chuyên đề 8. Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế PGS-TS Tường Duy Kiên & LG Phạm Hồng Sơn Chuyênđề 9. Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Âu PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương Chuyên đề 10. Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Mỹ - Latin và châu Phi PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương Chuyên đề 11. Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Á và châu Úc PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương Chuyên đề 12. Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện luật về tiếp cận thông tin của một số quốc gia trên thế giới Th.S Nguyễn Thị Hạnh, Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp Chuyên đề 13. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về tiếp cận thông tin: thực tiễn các nước và liên hệ với Việt Nam Th.S Nguyễn Đức Lam Văn phòng Quốc hội Phần 3. Thực trạng pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay Chuyên đề14. Sự hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & PGS-TS Tường Duy Kiên Chuyên đề 15. Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam hiện nay PGS-TS Tường Duy Kiên Chuyên đề 16. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền được thông tin của công dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & PGS-TS Tường Duy Kiên 5 218 263 263 271 283 295 307 321 351 351 360 379 Chuyên đề 17. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và yêu cầu đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Chuyên đề 18. Những hạn chế và bất cập của pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay GS-TS Nguyễn Đăng Dung Phần 4. Xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay Chuyên đề 19. Sự cần thiết phải xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay PGS-TS Thái Vĩnh Thắng Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 20. Những nguyên tắc cơ bản của dự luật tiếp cận thông tin TS Tô Văn Hoà Đại học luật Hà Nội Chuyên đề 21. Quyền tiếp cận thông tin và xây dựng Chính phủ mở trong điều kiện hội nhập quốc tế TS Hoàng Thị Ngân Văn phòng Chính phủ Chuyên đề 22. Cấu trúc và những chế định cơ bản của dự thảo Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam Th.S Nguyễn Thị Hạnh Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp Tài liệu tham khảo 394 404 415 415 425 441 471 499 6 A. BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Quyền tiếp cận thông tin (Right to access to information) là quyền của con người và công dân được tiếp cận các thông tin, đã ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền đặc biệt là các cơ quan hành chính Nhà nước. Các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không vì bản thân họ mà với tư cách là người bảo vệ lợi ích của công chúng. Thông tin được coi là tài sản Quốc gia và cũng như mọi tài sản khác không thể để cho một cá nhân hay tổ chức nào độc quyền chiếm đoạt nếu đó không phải là các thông tin liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh, bí mật trong giai đoạn điều tra tội phạm, bí mật cá nhân. Quyền tiếp cận thông tin được coi là một trong những quyền cơ bản của con người và công dân. Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào mà không có biên giới”. Điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng đã quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp vào. Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ”. Trong khoảng 20 năm gần đây đã diễn ra một cuộc cách mạng toàn cầu về quyền tiếp cận thông tin. Bản chất của cuộc cách mạng này là công nhận quyền của cá nhân được tiếp cận thông tin của cơ quan công quyền. Quyền này ngày nay đã được nhìn nhận rộng rãi là một quyền con người cơ bản, như hòn đá tảng của nền dân chủ và của nền quản trị tốt và là công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Quyền được thông tin/ tiếp cận thông tin không những được quy định trong nhiều văn kiện của Liên Hợp Quốc, trong Hiến pháp của hầu hết các nước trên thế giới mà còn được thể hiện bằng Luật về tiếp cận thông tin. Nếu năm 1990 trên thế giới chỉ có 13 nước đã ban hành Luật tiếp cận thông tin thì đến năm 2009, đã có 86 nước ban hành luật về tiếp cận thông tin: Thụy Điển (1766), Colombia (1885), Phần Lan (1919), Mỹ (1966), Na Uy (1970), Pháp (1978), Úc (1982), Canada (1983), Đan Mạch (1985), Hà Lan (1991); Hungary (1992), Hàn Quốc (1996), Kirgizstan (1997), Thái Lan 7 (1997), Anbani (1999), Bungary (2000, Nam Phi (2000), Anh (2000), Jamaica (2002), Mexico (2002), Thổ Nhĩ Kỳ (2003), Pêru (2003), Nhật Bản (2004), Ấn Độ (2005), Azerbaijan (2005), Uganda (2005), LB Nga (2006), Indonesia (2007)… Trung Quốc cũng đã ban hành Pháp lệnh về quyền tiếp cận thông tin năm 2007; 30 quốc gia khác đang nỗ lực xem xét ban hành luật này. Ở Việt Nam, quyền được thông tin đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và nhiều văn bản pháp luật khác, tuy nhiên cho đến nay Nhà nước ta vẫn chưa có đạo luật riêng quy định về quyền này. Quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay được thể hiện rãi rác trong nhiều văn bản pháp luật: Luật phòng chống tham nhũng năm 2005, Luật báo chí năm 1989, Luật xuất bản năm 2004, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2004, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật kiểm toán Nhà nước năm 2005, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí năm 2005, Pháp lênh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003. Đặc biệt trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 đã quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết, nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát, trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, của cơ quan tổ chức cá nhân có liên quan. Những quy định trên đây về việc tiếp cận thông tin của công dân và nghĩa vụ của cơ quan Nhà nước về cung cấp thông tin trong một số lĩnh vực và phạm vi địa bàn áp dụng cũng đã khá rõ tuy nhiên việc thực hiện các quy định nói trên còn rất hạn chế vì trong tất cả các văn bản pháp luật nói trên hầu như rất ít chế tài quy định về vấn đề xử phạt việc không cung cấp thông tin và những quy định nói trên nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau và thiếu tính hệ thống nên vẫn chưa có một cơ chế hữu hiệu để đảm bảo cho công dân được thực hiện một cách đầy đủ quyền tiếp cận thông tin. Theo Toby Mendel, chuyên gia hàng đầu của Liên hợp quốc về quyền tiếp cận thông tin, trong công trình nghiên cứu “Tầm quan trọng của Quyền tiếp cận thông tin: Xu hướng, Địa vị và Đặc điểm” 1, tổ chức phi Chính phủ Quốc tế về nhân quyền có tên là ARTICLE 19 đã coi thông tin là “khí oxy của nền dân chủ”. Thông tin là nguồn sống cơ bản của nền dân chủ vì về bản chất dân chủ là khả năng của cá nhân tham gia một cách hiệu quả vào quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến cá nhân đó 2.Quyền tiếp cận thông tin 1 Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam” ngày 06-07/05/2009 tại Hà Nội.- (Trang 30) 2 Tài liệu đã dẫn trang 32 8 xứng đáng được coi là “oxy của nền dân chủ” bởi suy cho cùng nó là quyền để thực hiện mọi quyền. Vì không có thông tin thì người dân không thể biết, không thể bàn, không thể làm, không thể kiểm tra về bất cứ vấn đề gì. Nói một cách khác tất cả các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội của công dân đều chỉ có thể đảm bảo thực hiện trên cơ sở đảm bảo quyền tiếp cận thông tin. Quyền tiếp cận thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các quyền chính trị, dân sự và các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội của công dân. Quyền chính trị của công dân bao gồm các quyền: tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, tham gia xây dựng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, tham gia thực hiện giám sát bộ máy nhà nước, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật, tự do thể hiện ý chí của mình khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý . Muốn thực hiện các quyền trên đây trước hết công dân phải có đầy đủ các thông tin. Nếu không có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ công dân không thể thực hiện các quyền Hiến định đó của mình; chẳng hạn để thực hiện quyền bầu cử nếu các cơ quan có thẩm quyền không cung cấp đầy đủ các thông về các ứng cử viên trong danh sách bầu cử, người dân không biết lựa chọn người nào vì vậy mặc dù có quyền lựa chọn nhưng người dân không thể thực hiện được quyền này. Các đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn các thành viên của Chính phủ trong các phiên họp của Quốc hội nhưng nếu các đại biểu Quốc hội không được cung cấp thông tin đầy đủ hoặc không có bộ máy giúp việc có năng lực hoặc không có các cơ quan chuyên môn của Quốc hội như Thanh tra Quốc hội (Ombudsman) hay Kiểm toán Quốc hội (Parliamentary Audit), các đại biểu Quốc hội không thể có thông tin để đối chiếu với những số liệu mà các Bộ trưởng đã đưa ra khi trả lời chất vấn thì quyền chất vấn cũng chỉ là hình thức. Ngay quyền bỏ phiếu để thông qua kế hoạch dài hạn và ngắn hạn nếu không có thông tin đầy đủ thì các đại biểu Quốc hội cũng không dám chắc việc “bấm nút” của mình đúng hay sai. Mức độ tham gia của công dân vào việc xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh được hình thành trên cơ sở các thông tin mà công dân nắm được. Việc các khu đô thị mới ở Hà Nội hình thành một cách nhanh chóng với dân số ngày càng tăng theo mức độ phát triển của các khu đô thị, tuy nhiên các trường học từ mẫu giáo đến tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông ở các khu vực đó lại không được xây dựng dẫn đến tình trạng các trường học ở Hà Nội bị quá tải, trẻ em các khu vực đô thị mới phải đi học xa hoặc phải chịu mọi sự bất tiện do thiếu trường học trên địa bàn của mình cũng là hệ quả của việc thiếu các thông tin toàn diện và việc thiếu vai trò điều hoà, phối 9 hợp giữa các bộ, ngành do các bộ ngành này không nắm được thông tin của các bộ ngành khác. Do không có các thông tin đầy đủ, việc thực hiện quyền khiếu nại tố cáo của công dân sẽ rất khó khăn. Chẳng hạn họ không biết gửi đơn khiếu kiện đến cơ quan nào, thủ tục giải quyết khiếu kiện sẽ ra sao, ai là người chịu trách nhiệm chính về loại vụ việc này. Do không có thông tin đầy đủ người dân có thể buộc phải chịu đựng tình trạng vi phạm pháp luật của các cơ quan công quyền, vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà không dám đấu tranh vì các cơ quan công quyền đặc biệt là các cơ quan hành chính Nhà nước đã bưng bít các thông tin. Mọi công dân đều có đầy đủ các quyền dân sự của mình. Một trong các quyền dân sự của công dân là quyền được yêu cầu bồi thường khi họ là nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp. Công dân chỉ có thể đấu tranh để thực hiện quyền này khi họ được cung cấp thông tin về điều kiện và mức độ bồi thường, cơ quan bồi thường. Nếu không có các thông tin đó người dân sẽ rất khó khăn khi bảo vệ các quyền của mình. Quyền tài sản là quyền dân sự đặc biệt quan trọng của công dân. Khi vì lợi ích công các bất động sản của công dân có thể bị nhà nước trưng dụng với sự đền bồi thoả đáng. Tuy nhiên, công dân chỉ có thể bảo vệ được quyền đền bù thoả đáng này khi họ được nhà nước cung cấp đầy đủ và chính xác về giá cả đền bù và các thủ tục cần thiết trong việc đền bù do giải phóng mặt bằng. Như vậy nếu không có thông tin đầy đủ thì các quyền dân sự của người dân khó có thể được đảm bảo thực hiện. Quyền tiếp cận thông tin có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội của công dân. Quyền tự do kinh doanh là một quyền cơ bản của công dân, tuy nhiên muốn thực hiện quyền này công dân phải có đầy đủ thông tin trong lĩnh vực kinh tế chẳng hạn công dân cần phải có đầy đủ các thông tin về nhu cầu tiêu dùng của xã hội, về thị trường tiêu thụ hàng hoá trên cơ sở đó người dân đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới có hiệu quả. Khi có đầy đủ thông tin công dân có thể xác định đúng sản xuất mặt hàng gì, yêu cầu chất lượng như thế nào và tiêu thụ ở đâu. Tình trạng nhiều nơi nông dân trồng mía, nuôi bò sữa, trồng các loại hoa quả, chăn nuôi các loại gia cầm, gia súc nhưng không bán được sản phẩm của mình do nhu cầu tiêu thụ ít nhưng sản xuất lại nhiều, mặt hàng cần thì không có, mặt hàng có thì không cần chính là do sự thiếu thông tin theo quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường. Hoặc trong trường hợp khác, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cung cấp cho người dân biết những thông tin về nguy cơ phá sản hay tình trạng đã phá sản của một số doanh nghiệp của Nhà nước cũng như tư nhân thì người dân có thể sẽ mất trắng hàng trăm triệu, hàng chục tỷ đồng nếu làm ăn với các doanh nghiệp đã hoặc đang trên đà phá sản mà họ không biết. 10 Đối với quyền học tập của công dân cũng vậy. Các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền phải có nghĩa vụ cung cấp cho người dân những thông tin cần thiết về các nghề nghiệp mà xã hội đang cần, mặt khác cũng cần cung cấp các thông tin về những ngành nghề mà nhiều người đã tốt nghiệp được cấp các bằng đại học, cao đẳng hoặc trung cấp chuyên nghiệp nhưng không có việc làm . Nếu không có thông tin đầy đủ về các chỉ số trên đây thì sẽ dẫn đến tình trạng đào tạo tràn lan, đào tạo theo nhu cầu cảm tính, cán bộ vừa thừa vừa thiếu. Con số ước tính chỉ có khoảng 40% sinh viên các trường đại học sau khi tốt nghiệp có việc làm theo đúng chuyên ngành đào tạo hiện nay ở Việt Nam đã nói lên tình trạng này, chưa nói đến những sai lầm về đào tạo cán bộ trong thời kỳ theo cơ chế hành chính quan liêu bao cấp. Trong thời kỳ đó do thiếu thông tin cần thiết nên chúng ta đã gửi các con em đi đào tạo ở nước ngoài không đúng trọng tâm, trọng điểm. Do không biết ngành gì đào tạo ở trường nào, ở nước nào thì có chất lượng cao nhất nên hầu như trong thời kỳ này, các sinh viên đi học nước ngoài bất cứ ngành gì cũng gửi đi đào tạo ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trong khi đó các trường có chất lượng cao nhất trong lĩnh vực đó như ở Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp, Đức , Canađa và các nước tư bản phát triển thì Nhà nước không gửi người đi đào tạo. Do thiếu thông tin khoa học đặc biệt là những thông tin khoa học cập nhật, các lĩnh vực khoa học đặc biệt là khoa học xã hội của Việt Nam đã lạc hậu so với nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Cũng do thiếu thông tin về hình thức và phương pháp đào tạo ở nước ngoài nên trong một thời gian dài chỉ có hình thức đào tạo công lập đồng thời phương pháp đào tạo mang tính chất cổ truyền, đào tạo theo chương trình tín chỉ chỉ được đào tạo trong thời gian gần đây. Quyền tiếp cận thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các chính sách tạo công ăn việc làm cho công dân đặc biệt là các chính sách xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Do không có thông tin đầy đủ và chính xác về việc làm và chế độ tiền lương ở nước ngoài mà một số công nhân xuất khẩu lao động với những chi phí tốn kém để ra nước ngoài lao động ở nước ngoài nhưng khi ra nước ngoài họ đã thất vọng vì công việc nặng nhọc mà đồng lương thấp, hoặc không có việc làm buộc họ phải trở về nước với những khoản nợ nặng nề do chi phí cho các dịch vụ môi giới tìm kiếm việc làm ở nước ngoài. Sự thiếu thông tin cần thiết và đầy đủ cũng tước đi khả năng của công dân có thể hưởng thụ những tinh hoa văn hoá của nhân loại như thông tin về những thành tựu mới trong văn học nghệ thuật, âm nhạc, trong phát minh sáng chế, trong các thành tựu y học về giải phẩu về khả năng chữa các căn bệnh hiểm nghèo, các thành tựu trong lĩnh vực vật liệu xây dựng và công nghệ sinh học tạo ra các giống cây mới, vật nuôi mới có năng suất và giá trị kinh tế cao. 11 Việc cung cấp đầy đủ các thông tin cho công dân về môi trường, chất lượng đào tạo, ngành nghề đào tạo, phương pháp đào tạo ở nước ngoài có thể giúp cho các bậc phụ huynh chọn đúng trường, đúng ngành nghề, phù hợp với khả năng kinh tế của mình để có thể định hướng cho con em họ có thể đến những nơi tốt nhất để học tập, rèn luyện để sớm thành đạt trong nghề nghiệp của mình khi ra trường. Một trong các quyền thuộc về lĩnh vực các quyền kinh tế,văn hoá, xã hội là quyền được sống trong môi trường trong sạch, tuy nhiên nếu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không cung cấp thường xuyên các số liệu về mức độ ô nhiễm không khí, sự trong sạch của các nguồn nước thì người dân có thể không biết họ đang sống trong một môi trường bị ô nhiễm về mức độ tiếng ồn, về mức độ bụi trong không khí, về các nguồn nước uống có chứa các chất độc hại, các thực phẩm mà người dân sử dụng hàng ngày nếu không có thông tin đầy đủ người dân cũng có thể sử dụng các thực phẩm độc hại như hoa quả được tẩm hoá chất để bảo quản lâu ngày, các loại rau quả bị nhiễm thuốc trừ sâu, các loại thịt có nguy cơ được đưa đến từ một vùng mà súc vật đang bị các bệnh dịch. Từ những phân tích trên đây có thể đi đến kết luận quyền tiếp cận thông tin chính là điều kiên tiên quyết để đảm bảo thực hiện các quyền con người và quyền công dân. Việc ban hành Luật tiếp cận thông tin đối với Việt nam hiện nay là cần thiết và cấp bách. Trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá quyền tiếp cận thông tin đã và đang trở nên một quyền cơ bản và là một trong những quyền quan trọng nhất của con người và công dân. Quyền tiếp cận thông tin ( Right to acces to information) là một trong những quyền cơ bản của công dân, của con người, bảo đảm quyền được thông tin là một trong những điều kiện cần thiết để xây dựng một thể chế dân chủ và nhà nước pháp quyền. Trong bối cảnh đất nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, thông tin trở thành một yêu cầu vô cùng cần thiết trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội và an sinh xã hội, nâng cao dân trí, xây dựng nhà nước và hoàn thiện pháp luật để phát huy rộng rãi sự tham gia của người dân vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giám sát công quyền, tăng cường tính công khai minh bạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phòng và chống tham nhũng, lãng phí, sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước. Quyền tiếp cận thông tin cũng bảo đảm mỗi cá nhân thực hiện các quyền khác tốt hơn và bảo vệ các lợi ích hợp pháp của họ. Phương châm các công việc quan trọng của nhà nước “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” theo tư duy lô gic của một chuyên gia về luật tiếp cận thông tin có thể diễn đạt như sau: “ dân biết nhờ có thông tin, dân bàn nhờ có thông tin, dân làm nhờ có thông tin, dân kiểm tra nhờ có thông tin”. Nói cách khác thông tin là tất cả, là điều kiện tiên quyết để thực hiện các 12 quyền con người và công dân. Thông tin là ô xy của nền dân chủ, nếu thông tin không được đảm bảo, thông tin sai lệch hoặc bưng bít thông tin, quyền làm chủ của nhân dân khó có thể thực hiện được. Nhận thức được tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin trong việc phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường tính công khai minh bạch và hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành TW Đảng (Khoá X) tháng 8-2006 đã chỉ rõ: “ Xem xét, sửa đổi các danh mục bí mật nhà nước nhằm mở rộng công khai” và “Nghiên cứu ban hành Luật về bảo đảm quyền được thông tin của công dân”. Đây là chủ trương quan trọng của Đảng, là định hướng quan trọng cho việc bảo đảm thực tế quyền được thông tin ở nước ta, góp phần vào cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền công dân và quyền con người ở Việt Nam. Thực hiện Nghị quyết của Đảng, việc nghiên cứu đề tài Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng Luật tiếp cận thông tin là hết sức cần thiết. Đề tài đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận cũng như thực tiễn hiện nay ở Việt Nam. 2.Tình hình nghiên cứu 2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Quyền được thông tin hay quyền tiếp cận thông tin (Right to access to information) được coi là một trong các quyền cơ bản của con người đã được Liên Hợp Quốc cũng như nhiều tổ chức quốc tế và khu vực công nhận. Phần lớn các quốc gia trên thế giới, khi tham gia vào các điều ước quốc tế về quyền con người ở cấp quốc gia và khu vực đều trực tiếp hay gián tiếp công nhận, tôn trọng quyền được thông tin của cá nhân. Sự bùng nổ của internet và tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thông tin, nhận thức về dân chủ, tự do cá nhân và yêu cầu phát triển kinh tế tại các quốc gia đã đưa đến sự bùng phát làn sóng ban hành Luật tự do thông tin/ Luật tiếp cận thông tin lan rộng trên toàn cầu và tại khắp các lục địa. Cho đến nay đã có gần 90 quốc gia trên thế giới ban hành một đạo luật riêng để cụ thể hoá và bảo đảm thực thi quyền được thông tin ở quốc gia mình, từ những nước phát triển như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản, Canada cho đến những nước đang phát triển như Thái Lan, Ấn Độ, Hy Lạp, Mexico, Georgia, Ba Lan, Romania, Bulgary, Peru, Azerbaijan , Jordani, hay thậm chí cả những nước còn đang phát triển ở trình độ tương đối thấp như Pakistan, Kyrgyzstan, Albania, Nepal hay Uganda. Sự bùng nổ pháp luật thực định về quyền được thông tin ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế là một dấu hiệu cho thấy sự dồi dào các tài liệu nghiên cứu dưới các hình thức khác nhau cung cấp cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho việc nghiên cứu xây 13 dựng một cách toàn diện pháp luật về quyền được thông tin. Các nghiên cứu quốc tế trong lĩnh vực này đã có sự phát triển từ rất lâu đời và cho đến nay đã ở trình độ cao ở cả khía cạnh chiều rộng và chiều sâu. Ở mức độ nghiên cứu khái quát, những công trình nghiên cứu có uy tín cao của các nhà luật học Anh như Freedom of Information: The Law, the Practice and the Ideal ( Tự do thông tin: Pháp luật, thực tiễn và lý tưởng) của Patrick Birkinshaw (2001) hay Blackstone’s Guide to the Freedom of Information Act ( Bình luận của Blackston về đạo luật tự do thông tin) của John Wadham, Jonathan Griffiths và Kelly Marris (2002). Đặc biệt là công trình nghiên cứu: “Báo cáo đánh giá so sánh pháp luật về tiếp cận thông tin” của chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Luật tiếp cận thông tin là Tony Mendel, xuất bản năm 2008. Các công trình nghiên cứu này đã phân tích, so sánh quyền tiếp cận thông tin trong mối quan hệ với các quyền khác của con người đã được quy định trong các điều ước quốc tế như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do xuất bản; vai trò của nó trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và đảm bảo thực hiện các quyền công dân và quyền con người…Những tác phẩm này rất có giá trị trong việc cung cấp một cách nhìn về quyền được thông tin từ góc độ pháp luật quốc tế về quyền con người. Đi sâu vào nghiên cứu nội dung của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong các tác phẩm như Freedom of Information: The Law, the Practice and the Ideal (Tự do thông tin: Pháp luật, thực tiễn và lý tưởng) của Patrick Birkinshaw (2001) hay Blackstone’s Guide to the Freedom of Information Act (Bình luận Blackstone về đạo luật về quyền tự do thông tin) của John Wadham, Jonathan Griffiths và Kelly Marris (2002) ta thấy những tác phẩm này phân tích cụ thể những vấn đề liên quan đến quyền được thông tin như vai trò, bối cảnh ra đời, nội dung các quyền, các trường hợp miễn trừ và các cơ chế bảo đảm thực thi. Đặc biệt các đề xuất liên quan tới kinh nghiệm xây dựng các khung thể chế và thiết chế cụ thể để bảo đảm thực thi quyền được thông tin theo các chuẩn mực quốc tế đã nhận được sự tham gia rộng rãi của cả giới nghiên cứu và những người xây dựng chính sách. Các công trình này cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình quy định và thực thi quyền được thông tin ở một số quốc gia điển hình như Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Đức,… có thể làm cơ sở tham khảo quý về kinh nghiệm đối với vấn đề này từ góc độ so sánh. Ở mức độ chuyên sâu hơn nữa trong lĩnh vực này có rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí luật học nước ngoài hoặc sách chuyên khảo. Nội dung và các khía cạnh khác nhau của quyền tiếp cận thông tin được đề cập ở các hình thức nghiên cứu rất đa dạng và phong phú. Ví dụ như bài Freedom of Information and Openness: Fundamental Human Right? (Tự do thông tin và công khai - Quyền cơ bản của con người?) của Patrick Birkinshaw (tạp 14 chí Administrative Law Review, 2006) trình bày và phân tích sâu các quan điểm đa chiều của giới luật học về ưu điểm cũng như hạn chế của pháp luật về quyền được thông tin của một số quốc gia trên thế giới. Trong đó có những lập luận có giá trị tham khảo về ưu điểm của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin như giúp tăng thêm tính dân chủ của chính quyền, tính trách nhiệm của cơ quan hành pháp, tăng cường vai trò giám sát tối cao của Nghị viện,… hay về nhược điểm của pháp luật về quyền này như trong quá trình thực hiện dễ vi phạm đến quyền tự do cá nhân hay quyền lợi của bên thứ ba, hay mối quan hệ với an ninh quốc gia…Các khía cạnh chuyên sâu khác của pháp luật về quyền được thông tin cũng được quan tâm như mối quan hệ giữa quyền được thông tin với bảo đảm bí mật quốc gia trong bài Freedom of Information and State Secrets (Tự do thông tin và bí mật quốc gia) (tạp chí 9 E. Eur.Const.Rev.102 (2000)), với quyền tự do cá nhân trong bài Freedom of Information: Is Privacy Winning (Tự do thông tin là chiến thắng của cá nhân) (tạp chí 13 Nottingham L.J. 17 (2004)), với bí mật và an ninh quốc gia trong sách chuyên khảo: “Secrecy and Liberty: National Security, Freedom of Expression and Access to Information” ( Bí mật và tự do: an ninh quốc gia, tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin) (International Studies in Human Rights) của tập thể tác giả F.D’Souza , Sandra Coliver, Paul Hoffiman, Stephen Bowen, Joan Fitzpatrick, hay vấn đề thực hiện quyền được thông tin qua thiết chế Thanh tra Nghị viện (Ombudsman) trong công trình nghiên cứu: Freedom of Information – An Ombudsman’s Perspective ( Tự do thông tin - viễn cảnh của Thanh tra Quốc hội) (tạp chí 29 Fed.L.Rev. 359 (2001)). Các công trình nghiên cứu về việc bảo đảm và thực hiện quyền được thông tin ở các nước, ngoài hình thức là các sách chuyên khảo như đề cập trên đây, cũng được công bố nhiều dưới hình thức các bài báo trên các tạp chí luật học và đều có giá trị tham khảo, như loạt bài: “Human Rights in Theory and Practice: A Time of Change and Development in Central and Eastern Europe”( Các quyền con người trong lý luận và thực tiễn: thời kỳ đổi thay và phát triển ở Trung và Đông Âu” trên tạp chí Conn.J.Int’l L. năm 1993 đề cập chi tiết kinh nghiệm của các nước Đông Âu hay bài: “Freedom of Information in Australia” (Tự do thông tin ở Úc) của Peter Bayne trên tạp chí Acta Juridica số 15 năm 1993 về kinh nghiệm của Australia. Có thể nói các tài liệu nghiên cứu về quyền được thông tin trên thế giới cho đến nay được thực hiện dưới những hình thức khác nhau và có nội dung hết sức phong phú. Đó là những tư liệu cung cấp kiến thức lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn cho các nước đang đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai và hoàn thiện thiết chế pháp lý trong lĩnh vực này như Việt Nam. 2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước: 15 Có thể nói, pháp luật về tiếp cận thông tin chỉ được các học giả Việt Nam nghiên cứu trong những năm gần đây. Các công trình nghiên cứu này chủ yếu chỉ dừng lại ở những cách tiếp cận khác nhau về quyền tiếp cận thông tin, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về pháp luật về tiếp cận thông tin. Về hình thức, các công trình này cũng mới chỉ được thực hiện như các bài tham luận, báo cáo khoa học viết cho các hội thảo hoặc đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Hội thảo Tiếp cận thông tin – quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt Nam, Đan Mạch, Hà Nội ngày 5-6/10/2006 và Hội thảo khoa học: Tiếp cận thông tin – thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm của Vương quốc Anh tháng 10/2007 với các bài tham luận của các tác giả: - Nguyễn Chí Dũng – Quyền tiếp cận thông tin: Yêu cầu của quản lý nhà nước hiệu quả, vì phát triển; - Tường Duy Kiên – Hoàng Mai Hương – Chu Thuý Hằng – Tìm hiểu pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được đảm bảo thông tin của Việt Nam; - TS.Dương Thanh Mai – Quyền được thông tin và sự tham gia của nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam; - TS. Đinh Văn Minh – Chuẩn mực tiếp cận thông tin và cuộc đấu tranh chống tham nhũng; - TS. Hoàng Minh Thái – Tiếp cận thông tin – Những vẫn đề đang đặt ra; - TS. Nguyễn Đức Thuỳ - Quyền tiếp cận thông tin- Kinh nghiệm Việt Nam và Vương quốc anh; - Phạm Quốc Anh – Sự cần thiết và đề xuất khuôn khổ của luật tiếp cận thông tin của Việt Nam; - TS. Cao Đức Thái – Quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền được thông tin của công dân trong thời kỳ đổi mới; - GS.TS. Trần Ngọc Đường- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với quyền được tiếp cận thông tin; - TS. Nguyễn Quốc Việt – Minh bạch hoá pháp luật, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; - TS. Ngô Đức Mạnh – Một số vấn đề về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam; - PGS.TS Vũ Văn Phúc – Công tác tuyên giáo với việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; - TS.Đinh Văn Minh – Bảo đảm quyền thông tin, góp phần đấu tranh chống tham nhũng của Việt Nam; - PGS.TS Hồ Trọng Ngũ – Giới hạn của quyền được thông tin; - ThS. Vũ Công Giao – Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan ở Việt Nam; - GS. Paul Okojie – Tiếp cận thông tin – kinh nghiệm của Anh 16 - TS. Tường Duy Kiên – Quyền được thông tin – cách tiếp cận quốc tế và đặc điểm chung của luật tiếp cận thông tin một số nước trên thế giới. Những bài viết trên đây đề cập đến Luật tiếp cận thông tin trên những phương diện và phạm vi khác nhau như thực trạng pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam, những nội dung cơ bản quyền tiếp cận thông tin ở nước ngoài, những giới hạn của quyền tiếp cận thông tin, những kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện Luật tiếp cận thông tin ở Anh, tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin trong đời sống hàng ngày của mỗi quốc gia, mối quan hệ giữa việc xây dựng nhà nước pháp quyền và việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tính cấp thiết của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay. Đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu và nâng cao nhận thức về quyền tiếp cận thông tin là việc xuất bản cuốn sách: “ Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin” do Viện nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức dịch và biên soạn, Nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2007. Cuốn sách này đã dịch toàn văn và trích dịch các Văn kiện Quốc tế liên quan đến quyền tiếp cận thông tin như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự năm 1966, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003, Chương trình hành động chống tham nhũng dành cho châu Á và khu vực châu Á, Thái Bình Dương năm 2001. Cuốn sách này cũng đã dịch nguyên văn và trích dịch các Luật về tiếp cận thông tin/ tự do thông tin của nhiều nước trên thế giới như Luật về tiếp cận thông tin trong các tài liệu chính thức của Anbani năm 1999, Luật về quyền được thông tin của Ấn Độ năm 2005, Luật về tiếp cận thông tin công của Ba Lan năm 2001, Luật tiếp cận thông tin của Bulgary năm 2000, Luật tiếp cận thông tin của Canada năm 1985, Luật quy định về quản lý tiếp cận chung đối với các thông tin của Chính phủ của Hà lan năm 1991, Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền của Hàn Quốc 1996, Luật về quyền tiếp cận của công chúng đối với các tài liệu hành chính công của Na Uy năm 1970 ( sửa đổi bổ sung năm 2003), Luật thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam Phi năm 2000, Luật về tiếp cận thông tin của các cơ quan hành chính của Nhật Bản năm 1999 , Luật về thông tin, công nghệ thông tin và bảo vệ thông tin của Liên Bang Nga năm 2006, Luật về minh bạch và tiếp cận thông tin của Peru năm 2003, Luật về tiếp cận thông tin của Pháp năm 1978, Luật về tiếp cận thông tin của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2004, Luật tự do báo chí của Thụy Điển 1949, Pháp lệnh về công khai thông tin của chính quyền của Trung Quốc năm 2007, Luật tự do thông tin của Úc năm 1982, Luật tự do thông tin của vương quốc Anh năm 2000. 17 Trong khuôn khổ dự án Xây dựng luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam (Project on Assisting of Law on Access to Information in Vietnam) do Đại sứ quán Anh tài trợ, tại Hà Nội vào 2 ngày 06-07/5/2009 Hội thảo quốc tế : “ Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam”( Drafting law on Access to Information in Vietnam) đã được tiến hành. Tại cuộc Hội thảo này một số báo cáo đã được chuẩn bị công phu và đã được đánh giá cao tại Hội thảo: – James Anderson, Chuyên gia cao cấp về quản trị quốc gia của Ngân hàng thế giới - Kinh nghiệm của một số nước Đông Âu trong việc thực thi Luật tiếp cận thông tin; – Jairo Acuna Alfaro, Cố vấn chính sách về cải cách hành chính và chống tham nhũng của UNDP tại Việt Nam - Quyền tiếp cận thông tin tại các nước khu vực Đông Nam Á; – Matt Ottoson, Bí thư thứ nhất và cố vấn pháp luật của Bộ phận kiểm soát các chương trình phát triển và hợp tác nghiên cứu của Đại sứ quán Thụy Điển – Kinh nghiệm của Thụy Điển về việc thực thi Luật tiếp cận thông tin; – Toby Mendel, Chuyên gia cao cấp của Tổ chức Article 19 - Tầm quan trọng của Quyền tiếp cận thông tin: Xu hướng, Địa vị và Đặc điểm; – TS. Hoàng Thị Ngân, Chuyên gia nhóm nghiên cứu của Hội luật gia Việt Nam - Kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về Luật tiếp cận thông tin của một số quốc gia trên thế giới; – GS-TS Nguyễn Đăng Dung, Đại học quốc gia Hà Nội - Kết quả khảo sát thực tiễn tại địa phương về thực thi quyền được thông tin; – TS Tường Duy Kiên, Trung tâm nghiên cứu về quyền con người, Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh – Chính sách và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin; – Th.S Ngô Trung Thành, Phó vụ trưởng Vụ pháp luật, Văn phòng Quốc hội - Mối quan hệ giữa Luật tiếp cận thông tin và các văn bản có liên quan khác của Việt Nam; Cuộc Hội thảo ngày 6 -7 tháng 5 năm 2009 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về quyền tiếp cận thông tin và pháp luật về tiếp cận thông tin tại Việt Nam. Với các báo báo của các chuyên gia cao cấp về quản trị quốc gia, về cải cách hành chính, chuyên gia pháp luật có uy tín của nước ngoài và Việt Nam như James Anderson, Jairo Acuna Alfaro, Matt Ottoson, Toby Melden, Hoàng Thị Ngân, Nguyễn Đăng Dung, Tường Duy Kiên, Ngô Trung Thành, Hội thảo đã phân tích những kinh nghiệm thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở các nước Đông Âu là những nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, các nước Đông Nam Á là những nước láng giềng hoặc cận kề với Việt Nam, kinh nghiệm thực thi 18 pháp luật của Thụy Điển, nước đi đầu trong lĩnh vực pháp luật về tiếp cận thông tin. Các báo cáo mang tính chất so sánh trên đây cho chúng ta thấy rõ bên cạnh những điểm khác nhau, nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông tin của các quốc gia khác nhau cũng có những điểm chung giống nhau như đều có những quy định chung mang tính chất nguyên tắc, những thông tin phải công bố rộng rãi, những thông tin không được phép công bố, những cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp thông tin, các chủ thể có quyền được cung cấp thông tin, thủ tục cung cấp thông tin, thủ tục giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về quyền tiếp cận thông tin, cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện về quyền tiếp cận thông tin. Bên cạnh các báo cáo của các chuyên gia nước ngoài, các báo cáo của các nhà khoa học trong nước cũng đã nghiên cứu về lý luận và khảo sát thực tiễn để tìm hiểu thực trạng pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam. Báo cáo khảo sát thực tiễn của Đoàn khảo sát do Bộ tư pháp chủ trì tại các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An cho chúng ta những kết quả đáng được lưu ý về ý thức pháp luật, tình trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay. Theo báo cáo khảo sát rất ít người dân biết quyền họ được cung cấp các thông tin liên quan đến cuộc sống của họ. Mặc dù đã có những quy định đơn lẻ về việc cung cấp thông tin cho nhân dân ở các văn bản pháp luật đơn ngành nhưng hầu hết các công chức không coi việc cung cấp thông tin là trách nhiệm của họ vì rằng việc cung cấp thông tin không phải là nhiệm vụ chính của việc thực hiện chính sách được quy định trong các văn bản nói trên. Hầu hết các phiếu điều tra đều cho rằng các cán bộ rất lúng túng khi gặp những trường hợp yêu cầu phải được cung cấp thông tin. Phần lớn trong số họ đều chuyển yêu cầu lên cấp trên. Cán bộ, công chức và thủ trưởng cơ quan đều không quen với việc thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin. Hầu hết đều không nhận thấy thông tin của cơ quan nhà nước là tài sản nhân dân, được tạo ra do các công việc được nhân dân giao phó. Hiện tượng đóng dấu mật lên các công văn giấy tờ không thuộc phạm trù mật còn tràn lan. Việc khai thác và sử dụng các trang Web chưa được rộng rãi. Quyền được thông tin mặc dù được quy định nhưng không có điều kiện thực thi sở dĩ như vậy là do chưa có một đạo luật riêng quy định đầy đủ về vấn đề này. Tất cả các phiếu điều tra đều nhất trí về việc cần thiết ban hành Luật tiếp cận thông tin3. Với sự phối hợp tổ chức và tài trợ của Trung tâm nhân quyền Na Uy, Hội luật gia Việt Nam đã tiến hành Hội thảo quốc tế : “ Luật tiếp cận thông tin – kinh nghiệm một số nước trên thế giới” vào các ngày 19- 20/8/2009 tại 3 Xem GS-TS Nguyễn Đăng Dung – Báo cáo tóm tắt kết quả khảo sát thực tiễn tại địa phương về thực thi quyền được thông tin, Tài liệu Hội thảo quốc tế Xây dưng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội ngày 06-07/5/2009, tr.45 19 thành phố Nha Trang. Tại cuộc Hội thảo này nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được trình bày: - GS-TSKH Đào Trí Úc, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội luật gia Việt Nam - Tổng quan về Luật tiếp cận thông tin và vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở các nước trên thế giới; - TS Hoàng Thị Ngân, Phó vụ trưởng Vụ tổ chức hành chính và công vụ, Văn phòng Chính phủ - Tiến trình xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở Việt nam; - Toje R. Ruud, Cố vấn pháp luật, Vụ lập pháp,Bộ tư pháp và Công an Na Uy - Luật tiếp cận thông tin ở Na Uy và vai trò của các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và thực hiện luật này; - GS Sung Nak In, Chủ tịch Hội giảng viên luật Hàn Quốc, Đại học quốc gia Seoul, Hàn Quốc - Luật tiếp cận thông tin ( Luật công khai thông tin của các cơ quan nhà nước) ở Hàn quốc và vai trò của các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và thực hiện luật này; - Th.S Phạm Anh Tuấn, Phó Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng - Luật tiếp cận thông tin với công tác phòng chống tham nhũng; - PGS-TS Phạm Duy Nghĩa, Chủ nhiệm bộ môn Luật kinh tế, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh – Tương quan giữa Luật tiếp cận thông tin, Luật báo chí và Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước; - Fany Davidova, Chuyên gia Chương trình tiếp cận thông tin của Bulgary – Vai trò của Chương trình tiếp cận thông tin của Bungary trong việc thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin; - Ngô Minh Hương, Chuyên gia của Viện nhân quyền Na Uy - Kinh nghiệm tiếp cận thông của một số nước Bắc Âu; - GS-TSKH Lê Cảm, Tổng biên tập tạp chí : “ Pháp luật và phát triển” – Vai trò của giới luật gia trong việc thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin. Các bài tham luận của các nhà khoa học luật Việt Nam và nước ngoài trong hai cuộc Hội thảo khoa học trong tháng 9 năm 2009 tại Hà Nội và Nha Trang đánh dấu sự phát triển đáng ghi nhận của sự quan tâm và hiểu biết về pháp luật về quyền tiếp cận thông tin/ tự do thông tin ở Việt Nam. Ở một mức độ sâu rộng hơn so với cuộc Hội thảo đầu tiên hai cuộc Hội thảo này đã tổng kết kinh nghiệm xây dựng và thực hiện Luật tiếp cận thông tin của nhiều quốc gia trên thế giới như các nước Đông Âu, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Hàn Quốc , Bungary, Mexico, Thái Lan. Hội thảo đã đề cập đến tính cấp thiết và những nội dung cơ bản của dự thảo Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam. Hai cuộc Hội thảo này đã góp những ý kiến quan trọng cho việc xây dựng bản dự thảo Luật tiếp cận thông tin phù hợp với Việt Nam. 20
- Xem thêm -