Tài liệu Cơ sở hình thành và giá trị văn hóa của múa rối nước việt nam

  • Số trang: 187 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 168 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

0 BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI ------------------ LÊ THỊ THU HIỀN CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA MÚA RỐI NƢỚC VIỆT NAM Chuyên ngành: Văn hóa học Mã số: 62310640 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC HÀ NỘI - 2014 0 BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI ------------------ LÊ THỊ THU HIỀN CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA MÚA RỐI NƢỚC VIỆT NAM Chuyên ngành: Văn hóa học Mã số: 62310640 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS.TS. Trần Trí Trắc 2. PGS.TS. Đoàn Thị Tình HÀ NỘI - 2014 1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA MÚA RỐI NƢỚC VIỆT NAM là của riêng tôi và chƣa công bố. Các dẫn chứng trong luận án là trung thực. Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./. Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2014 TÁC GIẢ LUẬN ÁN Lê Thị Thu Hiền 2 MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU MỞ ĐẦU Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ MÚA RỐI NƢỚC VIỆT NAM 1.1. Một số khái niệm liên quan........................................................... 1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................. 1.3. Khái quát về Múa rối nƣớc trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam ........................................................................................ Tiểu kết chƣơng ............................................................................ Chƣơng 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH MÚA RỐI NƢỚC VIỆT NAM 2.1. Cơ sở tự nhiên ............................................................................... 2.2. Cơ sở xã hội ................................................................................... Tiểu kết chƣơng ............................................................................ Chƣơng 3: GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA MÚA RỐI NƢỚC VIỆT NAM 3.1. Giá trị nhận thức .......................................................................... 3.2. Giá trị giáo dục ............................................................................. 3.3. Giá trị giải trí ................................................................................ 3.4. Giá trị thẩm mỹ ............................................................................. Tiểu kết chƣơng ............................................................................ Chƣơng 4: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY MÚA RỐI NƢỚC VIỆT NAM 4.1. Thực trạng Múa rối nƣớc Việt Nam hiện nay ........................... 4.2. Quan điểm, định hƣớng bảo tồn và phát huy Múa rối nƣớc Việt Nam ............................................................... 4.3. Giải pháp bảo tồn và phát huy Múa rối nƣớc Việt Nam .......... Tiểu kết chƣơng ............................................................................ KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 4 11 11 16 26 40 42 44 53 67 71 71 79 83 85 97 99 99 120 122 140 142 148 149 159 3 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt ASEAN : Hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á (Asociation of South East Asian) BCH : Ban chấp hành CSVN : Cộng sản Việt Nam Festival : Đại hội liên hoan, Ngày hội, Hội diễn GS.TS : Giáo sƣ, Tiến sĩ HN : Hội nghị NGND : Nhà giáo nhân dân NGƢT : Nhà giáo ƣu tú NSND : Nghệ sĩ nhân dân NSƢT : Nghệ sĩ ƣu tú Nxb : Nhà xuất bản PGS.TS : Phó giáo sƣ, Tiến sĩ ThS. : Thạc sĩ Tr. : Trang TW : Trung ƣơng UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) XHCN : Xã hội chủ nghĩa 4 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Với đặc điểm tự nhiên giàu tài nguyên “nƣớc”, nghề nông là nghề chính và quan hệ sản xuất gắn kết các thành viên trong cộng đồng sinh sống theo các làng, hình thành nền văn hoá làng, nên Việt Nam đƣợc biết đến nhƣ cái nôi của nền văn hoá lúa nƣớc. Châu thổ sông Hồng là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lƣu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, đƣợc bao quanh bởi sông và biển, có đất đai trù phú. Bởi vậy, đời sống văn hoá làng của cƣ dân vùng châu thổ sông Hồng rất phong phú, đa dạng về lễ hội truyền thống - là cơ sở để cha ông ta sáng tạo nên các loại hình nghệ thuật dân gian, mà độc đáo nhất là Múa rối nƣớc, một di sản văn hoá phi vật thể đặc sắc, hiện nay chỉ còn có ở Việt Nam. Từ “trò chơi” mang yếu tố diễn xƣớng dân gian, Múa rối nƣớc đã trở thành bộ môn nghệ thuật truyền thống mang đậm sắc thái, tâm hồn ngƣời Việt, giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, ảnh hƣởng sâu sắc trong giáo dục đạo đức và thẩm mỹ đối với cƣ dân nông nghiệp vùng châu thổ sông Hồng. Múa rối nƣớc mang giá trị phản ánh sinh động, chân thực về đời sống văn hoá của nông dân, nông thôn vùng châu thổ sông Hồng, thể hiện mối quan hệ tƣơng tác giữa con ngƣời Việt với thiên nhiên. Qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, cùng với những giai đoạn biến thiên của lịch sử, Múa rối nƣớc truyền thống cũng trải qua những thăng trầm, lúc phát triển rực rỡ, khi lại trầm lắng, rơi vào nguy cơ mai một. Do đặc điểm hoạt động theo các phƣờng hội với bí quyết giữ nghề, khép kín, nên Múa rối nƣớc có nguy cơ thất truyền theo thời gian (đã có nhiều trò diễn, ngón nghề Múa rối nƣớc vì nhiều nguyên nhân đến nay không còn nữa). Vì thế, đòi hỏi cần phải tìm ra giải pháp cho các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, các phƣờng, hội có phƣơng thức hoạt động phù hợp, để phát triển, bảo tồn và phát huy Múa rối nƣớc, cả hiện nay và trong thời gian tới, góp phần thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc về bảo tồn, phát huy nghệ thuật truyền thống và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lƣu văn hóa diễn ra nhƣ một tất yếu, vấn đề 5 bản sắc văn hóa là yếu tố quan trọng để một dân tộc khẳng định mình. Nghị quyết HN lần thứ 5 BCH TW Đảng (khoá VIII) đã xác định phải xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Múa rối nƣớc Việt Nam đƣợc thế giới ngày càng quan tâm, yêu chuộng, nhìn nhận nhƣ một giá trị đặc biệt, góp phần làm nên văn hóa Việt Nam, trong khi khán giả trong nƣớc không mặn mà, thậm chí thờ ơ. Vậy giải pháp nào phù hợp cho Rối nƣớc Việt Nam và các đơn vị nghệ thuật múa rối nƣớc phát triển trong điều kiện hiện nay để giải quyết đƣợc nghịch lý trên? Cùng là nghệ thuật sân khấu truyền thống, nhƣng có lẽ Múa rối nƣớc là thể loại nghệ thuật đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm muộn màng nhất. Trong thực tế, có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về các thể loại nghệ thuật sân khấu truyền thống nhƣ Chèo, Tuồng..., nhƣng cho đến nay, chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về văn hoá trong Múa rối nƣớc với những tiền đề văn hóa trong nguồn gốc, sự hình thành, đúc rút các giá trị văn hoá của thể loại nghệ thuật này, để từ đó có những định hƣớng trong quản lý và bảo tồn, phát triển nghệ thuật, gìn giữ cho mai sau, gắn kết nó với công tác giáo dục thẩm mỹ và truyền thống trong học đƣờng, giới thiệu về văn hoá Việt Nam với bạn bè thế giới và phát triển du lịch. Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài Cơ sở hình thành và giá trị văn hoá của Múa rối nước Việt Nam làm luận án để giải quyết các vấn đề đặt ra. 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm làm rõ cơ sở văn hóa và giá trị văn hóa của Múa rối nƣớc Việt Nam, từ đó định hƣớng, đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát huy Múa rối nƣớc trong văn hóa. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hoá một cách chọn lọc và có phát triển ở mức độ nhất định những khái niệm về Múa rối, Múa rối nƣớc và những vấn đề lý luận về giá trị văn hóa để làm tiền đề cho việc tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu. - Tổng quan đƣợc tình hình nghiên cứu về Múa rối nƣớc. - Khái quát đƣợc Múa rối nƣớc trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam. 6 - Phân tích cơ sở văn hóa và đúc rút những giá trị văn hóa của Múa rối nƣớc Việt Nam. - Đánh giá, nêu ra các thành tựu, những hạn chế tồn tại, chỉ ra đƣợc nguyên nhân và đặt ra những định hƣớng, giải pháp bảo tồn, phát huy Múa rối nƣớc phù hợp với vị trí, vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam cũng nhƣ trong quá trình phát triển của đất nƣớc hiện nay. 4. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là Múa rối nƣớc và môi trƣờng sinh thái nhân văn vùng châu thổ sông Hồng. Cụ thể: Điều kiện địa lý, môi trƣờng tự nhiên, xã hội, đặc điểm cƣ dân, văn hóa làng vùng châu thổ sông Hồng; các đặc điểm, yếu tố cấu thành trò diễn rối nƣớc nhƣ buồng trò, sân khấu, nơi xem, hệ thống điều khiển, quân rối, nhân vật, trò và tích trò, văn học và âm nhạc, diễn xuất; một số trò diễn rối nƣớc truyền thống và các nghệ nhân biểu diễn của các phƣờng, hội rối nƣớc tiêu biểu; hoạt động biểu diễn của các phƣờng, hội rối nƣớc truyền thống, các nhà hát múa rối nƣớc chuyên nghiệp; phƣơng thức tổ chức, hoạt động, quản lý múa rối nƣớc. 5. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hƣởng của môi trƣờng tự nhiên, xã hội của vùng châu thổ sông Hồng đến sự ra đời và tồn tại, phát triển của Múa rối nƣớc. Tìm hiểu đặc trƣng nghệ thuật cũng nhƣ phƣơng thức tổ chức hoạt động biểu diễn Rối nƣớc để thấy đƣợc cơ sở hình thành của nghệ thuật, rút ra những giá trị văn hóa của thể loại nghệ thuật này. Trong tiến trình lịch sử, văn hóa Việt Nam đã có nhiều tiếp biến, giao lƣu văn hóa với nƣớc ngoài trên nhiều phƣơng diện khác nhau của đời sống xã hội. Đề tài này, tập trung nghiên cứu khía cạnh giao lƣu, tiếp biến văn hóa thể hiện trong Múa rối nƣớc đặt trong mối quan hệ với một số loại hình nghệ thuật sân khấu du nhập vào Việt Nam nhƣ Kịch, Múa, Xiếc (tiếp biến văn hóa với nƣớc ngoài)... Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa Múa rối nƣớc với loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống khác có nguồn gốc từ Việt Nam nhƣ Chèo (tiếp biến văn hóa vùng, tiểu vùng ở 7 Việt Nam), ở hai mặt nội dung và hình thức, để thao tác nghiên cứu, so sánh, đối chiếu, phân tích một cách khái quát, tìm ra những nét riêng của Múa rối nƣớc dƣới góc nhìn văn hóa học, mà không đi vào những chi tiết của nghệ thuật. - Về không gian: Đề tài tập trung khảo sát Múa rối nƣớc khu vực châu thổ sông Hồng, bao gồm 07 phƣờng rối nƣớc truyền thống và đơn vị nghệ thuật múa rối nƣớc chuyên nghiệp. Đề tài lựa chọn nghiên cứu trƣờng hợp năm phƣờng rối nƣớc truyền thống ở các địa phƣơng khác nhau: Đào Thục (Đông Anh, Hà Nội), Phú Đa (Thạch Thất, Hà Nội), Nguyên Xá, Đông Các(Đông Hƣng, Thái Bình), Nhân Hòa (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) và hai đơn vị nghệ thuật múa rối nƣớc chuyên nghiệp: Nhà hát Múa rối Việt Nam, Nhà hát Múa rối Thăng Long. - Về thời gian: Đề tài nghiên cứu Múa rối nƣớc trong sự phát triển văn hóa của thời kỳ phong kiến Đại Việt (từ thế kỷ XI cho đến nay) để khái quát về nguồn gốc và sự hình thành, phát triển của Múa rối nƣớc Việt Nam trong tiến trình lịch sử. Tuy nhiên, để phục vụ mục đích nghiên cứu cơ sở và giá trị văn hóa của Múa rối nƣớc, đề tài tập trung vào Múa rối nƣớc ở thời kỳ từ cuối thế kỷ XVI cho đến nay, vì thời kỳ này, văn hóa Việt Nam đã xuất hiện đình làng và thủy đình; qua đó hƣớng tới đề xuất giải pháp cho việc bảo tồn, phát huy Múa rối nƣớc Việt Nam cho những năm tiếp theo. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận án quán triệt chủ trƣơng, các quan điểm của Đảng CSVN; các văn bản của Nhà nƣớc về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, về kế thừa di sản văn hóa. Để thực hiện mục tiêu đặt ra, đề tài sử dụng hệ thống các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể sau: - Phƣơng pháp liên ngành: Văn hóa học, Nghệ thuật học, Sử học. Vì nghệ thuật sân khấu Múa rối nƣớc không chỉ là một loại hình văn học nghệ thuật, mà còn là một thành tố của văn hóa. Do đó, với phƣơng pháp liên ngành, trong đó, phƣơng pháp Văn hóa học là chủ đạo, ngƣời viết không chỉ tiếp cận đƣợc đối tƣợng nghiên cứu ở góc nhìn hẹp của loại hình, mà còn thấy đƣợc nguồn gốc hình thành, tạo nên bản sắc, nét riêng biệt trong thành tố cấu thành và đặc trƣng của nghệ thuật sân khấu Múa rối nƣớc, 8 cũng nhƣ thấy đƣợc sự vận động, tồn tại, phát triển và thích ứng của nó theo tiến trình lịch sử đặt trong không gian văn hóa của chính nó ở Chƣơng 1 của luận án. - Phƣơng pháp luận của lí thuyết tiếp cận địa - văn hóa, vùng văn hóa. Văn hóa là một thực thể có sự vận động trong không gian và thời gian. Sự vận động của nó là một tiến trình lịch sử và qua các vùng/miền khác nhau, với những điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử... Từ một hiện tƣợng văn hóa, nếu đƣợc đặt trong nền cảnh không gian mà nó nảy sinh, tồn tại, phát triển và đặt nó trong sự tƣơng tác với môi sinh sinh thái (địa lý là một phần trong môi trƣờng), đồng thời với các hiện tƣợng văn hóa khác để từ đó có quan hệ tƣơng đồng hay hội tụ (trong trƣờng hợp các nền văn hóa mặc dù ở cách xa nhau, nhƣng lại nằm trong điều kiện tự nhiên và xã hội tƣơng đồng) và khuếch tán, lan tỏa (nếu các tộc ngƣời chủ thể cũng nhƣ ngôn ngữ của họ xuất phát từ một gốc), phát triển thành nghệ thuật có thể thấy đƣợc nguồn gốc và “nhân lõi” sâu xa ẩn chứa bên trong. Múa rối nƣớc là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian thể hiện đậm chất nhất “sản phẩm” của nền văn hóa lúa nƣớc. Từ địa bàn sinh sống, điều kiện canh tác, sinh hoạt, phong tục, tập quán, tâm linh của cƣ dân ngƣời Việt, cho đến nghệ thuật tạo hình quân rối, cách thức tổ chức, quản lý và hoạt động Múa rối nƣớc... cũng thể hiện bản sắc của “văn hóa làng”. Xác định đƣợc lý thuyết, đề tài nghiên cứu văn hóa vùng châu thổ sông Hồng, về những đặc điểm tự nhiên - xã hội với những yếu tố cụ thể nêu trên để làm rõ cơ sở hình thành, nguồn gốc ra đời, chủ thể sáng tạo ra nghệ thuật Múa rối nƣớc Việt Nam; đi sâu nghiên cứu văn hóa tiểu vùng, cụ thể là khu vực Đông Anh, Hà Nội; Phú Đa, Thạch Thất, Hà Nội; Đông Hƣng, Thái Bình, Vĩnh Bảo, Hải Phòng, những nơi có phƣờng rối nƣớc tiêu biểu trong các phƣờng hội rối nƣớc của các tỉnh khu vực châu thổ sông Hồng. Trong đề tài, đặt ra một số câu hỏi sau để làm rõ các vấn đề nghiên cứu về văn hóa của Múa rối nƣớc: + Múa rối nƣớc và sự ra đời của nó là kết quả của quá trình thích ứng, chinh phục, tƣơng tác giữa cƣ dân Việt với thiên nhiên, môi trƣờng sống? Cơ sở văn hóa hình thành của Múa rối nƣớc là gì? + Giá trị văn hóa của Múa rối nƣớc thể hiện nhƣ thế nào? 9 + Múa rối nƣớc cần đƣợc định hƣớng, phát triển ra sao để vừa bảo tồn, lƣu giữ, phát huy giá trị của môn nghệ thuật truyền thống, vừa phát huy giá trị văn hóa thông qua nhận thức, giáo dục con ngƣời, góp phần quảng bá đất nƣớc Việt Nam và phát triển du lịch trong thời kỳ giao lƣu, hội nhập quốc tế hiện nay? - Phƣơng pháp điền dã: Nhằm thu thập, chuẩn bị nguồn tƣ liệu xác thực, cập nhật nhất. Vì vậy, quan sát, phỏng vấn, trao đổi ý kiến để thu thập thông tin về những vấn đề liên quan đến Múa rối nƣớc đƣợc đặc biệt chú trọng. Đến các cơ sở múa rối truyền thống, tìm hỏi các nghệ nhân cao tuổi, hay còn gọi là khai thác tài liệu sống nhằm tìm hiểu về nguồn gốc, các tục lệ, về đặc điểm nghệ thuật Múa rối nƣớc ở phƣờng hội mà các nghệ nhân đã biết hoặc còn giữ, đã có từ bao giờ? Cách thức tổ chức quản lý hoạt động của phƣờng hội, thực trạng nhƣ thế nào? - Phƣơng pháp nghiên cứu chọn mẫu: Múa rối nƣớc là nghệ thuật dân gian, một hiện tƣợng văn hóa mang đậm dấu ấn văn hóa vùng của cả khu vực châu thổ sông Hồng, đồng bằng Bắc bộ. Vì vậy, việc lựa chọn những nghiên cứu trƣờng hợp, chọn mẫu nghiên cứu giúp nghiên cứu sinh có thể đi sâu vào từng điểm khảo sát trọng tâm, để rút ra nhận định về bản chất vấn đề nghiên cứu, đó là xác định cơ sở văn hóa, những giá trị văn hóa của Múa rối nƣớc cũng nhƣ thực trạng hoạt động của các đơn vị Múa rối nƣớc. Trong đề tài, chúng tôi chọn nghiên cứu trƣờng hợp phƣờng rối nƣớc Đào Thục, (Đông Anh, Hà Nội), phƣờng Phú Đa (Thạch Thất, Hà Nội), và các phƣờng Nguyên Xá, Đông Các (Đông Hƣng, Thái Bình), Nhân Hòa (Vĩnh Bảo, Hải Phòng), Nhà hát Múa rối Việt Nam, Nhà hát Múa rối Thăng Long. - Phƣơng pháp khảo tả, phƣơng pháp phân tích - tổng hợp đƣợc dùng để nhận thức và phân tích đối tƣợng nghiên cứu. 7. Đóng góp của luận án 7.1. Về mặt lý luận - Lý giải sự hình thành, tồn tại, phát triển của Múa rối nƣớc trong tiến trình lịch sử xuất phát từ cơ sở văn hóa Việt Nam, đã tiếp nhận, thích ứng, ảnh hƣởng của văn hóa vùng châu thổ sông Hồng nhƣ thế nào. 10 - Phân tích, hệ thống những giá trị văn hóa của Múa rối nƣớc Việt Nam để khẳng định vai trò, vị trí của Múa rối nƣớc Việt Nam trong đời sống văn hóa cƣ dân vùng châu thổ sông Hồng và trong văn hóa Việt Nam. - Luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ngƣời nghiên cứu tiếp theo, những ngƣời quan tâm khi muốn nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề văn hóa của nghệ thuật Múa rối nƣớc. 7.2. Về mặt thực tiễn - Thông qua thực trạng mà luận án đã đánh giá, tổng kết những quan điểm, định hƣớng, giải pháp và khuyến nghị trong việc bảo tồn, phát huy Múa rối nƣớc, giúp cho các đơn vị nghệ thuật Múa rối nƣớc, các nghệ sĩ có đƣợc những suy nghĩ, lựa chọn đúng đắn về đƣờng lối phát triển của nghệ thuật, cho công việc sáng tạo, đổi mới của mình trong hoạt động Múa rối nƣớc, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nƣớc. - Luận án sẽ là tƣ liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong việc nghiên cứu quan điểm, lựa chọn giải pháp cho vấn đề bảo tồn và phát huy Múa rối nƣớc trong văn hóa Việt Nam. 8. Bố cục của Luận án Ngoài phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (6 trang), Tài liệu tham khảo (10 trang), Phụ lục (25 trang), nội dung chính của luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan về Múa rối nƣớc Việt Nam. Chƣơng 2. Cơ sở hình thành Múa rối nƣớc Việt Nam. Chƣơng 3. Giá trị văn hóa của Múa rối nƣớc Việt Nam. Chƣơng 4. Bảo tồn và phát huy Múa rối nƣớc Việt Nam. 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ MÚA RỐI NƢỚC VIỆT NAM 1.1. Một số khái niệm liên quan 1.1.1. Giá trị văn hóa Các quan niệm về văn hóa đều cho thấy, lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa. Nhƣng sáng tạo đó phải hƣớng về các giá trị nhân bản, và kết tinh thành giá trị, nhằm hoàn thiện con ngƣời thì mới trở thành văn hóa đích thực. Có nghĩa là, nói văn hóa là đề cập đến giá trị, hệ giá trị trở thành yếu tố thực thể của văn hóa. Bàn về giá trị, cho đến nay, cũng có không ít những định nghĩa, những quan niệm khác nhau về giá trị, xuất phát từ những góc độ tiếp cận khác nhau. Giá trị đƣợc xác định không phải bởi bản tính của thuộc tính tự nhiên, mà bởi tính chất cuốn hút của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con ngƣời. Theo sự giải thích của một số từ điển trong và ngoài nƣớc thì “giá trị” dùng để chỉ phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự vật hay của con ngƣời; là cái làm cho sự vật trở nên có ích, đáng quý; là ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của khách thể đối với con ngƣời... đƣợc phản ảnh trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, lý tƣởng, tâm thế, mục đích. Gần gũi với quan niệm này, T. Makiguchi - ngƣời sáng lập ra Hội giáo dục giá trị của Nhật Bản, cho rằng “Giá trị là sự thể hiện có tính định hƣớng về mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá và đối tƣợng của sự đánh giá” [126,tr. 48]. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về giá trị, nhƣng điểm gặp gỡ chung của các định nghĩa này ở chỗ: Tất cả đều xem giá trị nhƣ là kết quả của hoạt động đánh giá từ phía chủ thể (con ngƣời), có thể tựu chung lại nhƣ sau: 1) Giá trị là ý nghĩa của những hiện tƣợng vật chất hay tinh thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu tích cực của con ngƣời, là những thành tựu đóng góp vào sự phát triển của xã hội; 2) Giá trị có tính lịch sử khách quan, tức là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó, không phụ thuộc vào ý thức của con ngƣời mà do yêu cầu của từng thời đại lịch sử, trong đó con ngƣời sống và hoạt động; 3) Giá trị đóng vai trò quan trọng trong đời 12 sống con ngƣời. Cách thức và hành động của con ngƣời trong xã hội đƣợc chỉ đạo của các giá trị. Nó là cái mà con ngƣời dựa vào để xác định mục đích, phƣơng hƣớng cho hoạt động của mình. Nói đến giá trị là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói đến khả năng thôi thúc con ngƣời ta hành động và nỗ lực vƣơn tới. Có hai loại giá trị: giá trị vật chất (thỏa mãn những nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (thỏa mãn những nhu cầu tinh thần). Trong các giá trị tinh thần, ngƣời ta thƣờng nói đến giá trị khoa học (cái chân lý), giá trị chính trị (cái chính nghĩa, cái cách mạng), giá trị pháp luật (cái hợp pháp), giá trị đạo đức (cái thiện, cái tốt), giá trị thẩm mỹ (cái đẹp). Mỗi giá trị bao giờ cũng có một phản giá trị tƣơng ứng để làm thành một cặp hiện tƣợng đối lập, tƣơng phản: Cái chân lý, cái thật, cái đúng và cái vô lý, cái giả, cái sai; cái chính nghĩa và cái phi nghĩa; cái hợp pháp và cái phi pháp; cái thiện và cái ác; cái đẹp và cái xấu; cái thành thần và cái ma quỷ… Trên bình diện khác, ngƣời ta có thể chia các lĩnh vực giá trị thành giá trị kinh tế, giá trị chính trị, giá trị xã hội, giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị tôn giáo, giá trị văn hóa, giá trị lịch sử… Nhƣ vậy, giá trị là một phạm trù rất rộng, bao quát một phạm vi rộng lớn trong các quan hệ của con ngƣời với tự nhiên, với xã hội, với dân tộc, với thời đại, với giai cấp. Giá trị với tƣ cách là thành tố quan trọng của các quan hệ văn hóa vì các hoạt động nhận thức, ứng xử, sáng tạo đƣợc đánh giá bởi cộng đồng. Trong văn hoá học, giá trị cùng với các khái niệm giá trị văn hóa, truyền thống, bản sắc... tạo nên một hệ thống các khái niệm khác nhau nhƣng có mối liên hệ, giao thoa với nhau. Do vậy, khi tìm hiểu giá trị văn hoá, không thể không đề cập tới các khái niệm liên quan. Giá trị văn hóa là những tƣ tƣởng bao quát đƣợc tin tƣởng mạnh mẽ chung cho mọi ngƣời về cái gì là đúng là sai, là thiện là ác, là đẹp là xấu, là hợp lý là phi lý, là mong muốn và không mong muốn. Tuy nhiên, theo GS. Trần Văn Giàu thì: “Cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hƣớng dẫn nhất định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái 13 niệm giá trị truyền thống” [42, tr.51]. Giá trị văn hoá truyền thống đƣợc hiểu nhƣ là văn hoá và giá trị gắn với xã hội, đƣợc hình thành trong quá trình lịch sử nhất định, là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc. Nhờ những tính chất cơ bản về tính giá trị, tính lƣu truyền, tính ổn định mà văn hóa truyền thống, để chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, đƣợc trao truyền tiếp nối qua nhiều thế hệ, mang giá trị bền vững, đƣợc lịch sử thừa nhận. Do đó: Theo thời gian, truyền thống ấy không phải lặp lại nguyên gốc mà có gạn lọc, đổi mới, cách tân, phát triển thành một hệ giá trị mới, để rồi lại gia nhập vào truyền thống. Truyền thống và cách tân là hai chiều ngang dọc dệt nên bức tranh văn hóa đa sắc, làm nên giá trị bền vững, tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [42, tr.61]. Nhƣ vậy, truyền thống đƣợc hiểu nhƣ là các thành tố, các mặt của văn hóa, đặc trƣng bởi tính ổn định, kế thừa và đƣợc trao truyền qua các thế hệ. Truyền thống hình thành dần dần qua các hoạt động lịch sử của con ngƣời, bắt nguồn từ lịch sử. Tuy nhiên, không phải mọi thứ thuộc về lịch sử đều là truyền thống, mà chỉ những gì đƣợc gìn giữ, kế thừa, mới gọi là truyền thống. Vì vậy, ở mỗi dân tộc, truyền thống thƣờng đƣợc gắn liền với bản sắc. Văn hóa truyền thống là trở thành những khuôn mẫu đƣợc cố định hóa dƣới dạng nghệ thuật, phong tục tập quán, nghi lễ, pháp luật... Nói đến những giá trị văn hóa của Múa rối nƣớc là nói tới hệ giá trị văn hóa truyền thống trong Múa rối nƣớc truyền thống của Việt Nam. 1.1.2. Múa rối Bàn về nghệ thuật Rối, nhiều nƣớc trên thế giới, đều sử dụng khái niệm Sân khấu Rối hoặc Rối mà phƣơng tiện biểu đạt là những con rối. Điều dễ hiểu khi sử dụng khái niệm Sân khấu Rối hoặc Rối ở chỗ, từ khi ra đời, phát triển, cho tới hôm nay, con rối chỉ là phƣơng tiện để biểu diễn những tích, những trò nhời... rồi dần phát triển thành sân khấu Kịch Rối... Còn ở Việt Nam thì gọi nghệ thuật Rối là Múa rối. Cho đến nay, ở Việt Nam, chƣa có một khái niệm chính thức mang tính học thuật về khái niệm Múa rối. Căn cứ vào một số đặc điểm về quân rối, về kỹ thuật tạo 14 hình, lắp ráp quân rối, sân khấu và nghệ thuật biểu diễn Múa rối, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra một số khái niệm về Múa rối. Nhà nghiên cứu Tô Sanh là ngƣời đầu tiên đƣa ra khái niệm về Múa rối nhƣ sau: Múa rối là một loại hình nghệ thuật sân khấu có khả năng truyền cảm một cách cao độ, là sự phối hợp tài tình giữa kỹ thuật và nghệ thuật tạo hình với kỹ thuật và nghệ thuật điều khiển, lấy con rối làm phƣơng tiện chủ yếu để hoàn thành nhiệm vụ thể hiện mọi mặt phong phú của trí tƣởng tƣợng loài ngƣời của hiện thực khách quan. Nó có khả năng tập trung hoà hợp nhiều hình thức nghệ thuật, không gian và thời gian kể cả các loại hình sân khấu khác. Nó phục vụ mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thiếu nhi. Múa rối có rất nhiều loại. Nhân vật rối là trung tâm. Ngƣời diễn viên điều khiển thƣờng che dấu kín, sân khấu của nó và bản thân nó cần phù hợp với kích thƣớc với tính chất của ngƣời và rối, chứ không phải cơ bản do hoá trang ngƣời thật hoặc máy móc quyết định [91, tr.17]. Trong từ điển Văn học, Nxb Khoa học xã hội - 1984, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng cũng đƣa ra khái niệm về Múa rối: Một loại hình sân khấu truyền thống của hầu khắp các dân tộc thế giới, chuyên thể hiện nhân vật bằng diễn viên mang mặt nạ, đội lốt hay điều khiển các con nộm, con giống … (quen gọi chung là con rối) làm trò, đóng kịch. Con rối đƣợc sáng tạo, mô phỏng tự nhiên (động vật, thực vật) hay do tƣởng tƣợng (nhƣ thần, tiên, ma, quỷ, rồng, phƣợng …) bằng mọi chất liệu (gỗ, vải, giấy, bông, da, chất dẻo…) thành mọi kiểu (tƣợng, tròn, hình bẹt, hình bông…) và cử động nhờ phƣơng tiện: Tay (rối tay), que (rối que), dây (rối dây), máy (rối máy), gió (rối gió), hơi pháo (rối pháo), sức nƣớc (rối nƣớc). Nghệ sĩ Rối luôn luôn giấu kín mình, điều khiển con rối thể hiện hành động sân khấu cử động của thân hình nó và lời nói mƣợn ngƣời “lồng tiếng” tạo nên sự kỳ diệu của vật chết “sống dậy”, tái hiện chuyện đời thực và tƣởng tƣợng. Trong lịch sử văn hoá nhân loại, con rối đƣợc phát hiện có 15 mặt từ trong nền văn hoá Harappa (Ấn Độ), ở Việt Nam năm 1121 bia Sùng Thiện Diên Linh đã ghi rõ rối nƣớc, rối cạn... 1.1.3. Múa rối nước Về khái niệm Múa rối nước, nhà nghiên cứu Tô Sanh cho rằng: Múa rối nƣớc là một loại hình nghệ thuật sân khấu múa rối mà chỗ diễn của con rối là mặt nƣớc ao, hồ hay bể rộng. Buồng trò của ngƣời điều khiển là một cái nhà cất giữa ao hồ hoặc sát một mé hồ. Ngƣời điều khiển, ngâm mình dƣới nƣớc nấp sau bức mành điều khiển con rối, thông thƣờng bằng gỗ hoặc bằng chất liệu không thấm nƣớc, bằng cách giật dây hoặc khua sào có đính con rối ở dây và đầu sào. Nƣớc che kín các loại que, dây, máy... điều khiển bên dƣới nƣớc. Có nhiều loại rối nƣớc, rối ao, rối bể (ngƣời đứng ngoài bể cho tay vào điều khiển rối) rối nƣớc phối hợp với rối cạn... Sân khấu hoặc nhà hát cố định của Múa rối nƣớc là một cái nhà hai tầng tám mái xây cất bằng gạch ngói, có từ lâu đời. Múa rối nƣớc là một bộ môn nghệ thuật sân khấu nƣớc kỳ lạ chỉ còn thấy ở Việt Nam [91, tr.37]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng cũng quan niệm: Rối nƣớc là loại nhà hát ngoài trời, lấy ao hồ làm nơi dựng buồng trò che giấu nghệ thuật điểu khiển và mặt nƣớc làm sàn diễn cho quân rối làm trò đóng kịch. Ngƣời xem ngồi đứng trên bờ bãi phía trƣớc và hai bên sân khấu. Quân rối nƣớc là loại rối máy điều khiển ngầm từ xa bằng hai kiểu máy dây và máy sào [47, tr.231]. Có thể nói, các khái niệm nêu trên của hai nhà nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực nghệ thuật Múa rối, đều khẳng định Múa rối nói chung và Múa rối nước nói riêng là một thể loại sân khấu truyền thống, làm trò và đóng kịch. Ngoài ra, còn rất nhiều những khái niệm về Múa rối, song nhìn chung khái niệm về Múa rối ở Việt Nam là tƣơng đối thống nhất, bổ sung cho nhau. Múa rối nước là một trong những thể loại của nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam, một trong những thành tố của văn hóa. Nghiên cứu Múa rối nước có thể 16 phác thảo diện mạo văn hóa, đặc trƣng văn hóa vùng của cƣ dân vùng châu thổ sông Hồng. 1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Múa rối nƣớc xuất hiện và căn cứ vào lịch sử hình thành, có thể xác định là môn nghệ thuật dân gian ra đời sớm nhất trong số các bộ môn nghệ thuật dân gian của dân tộc Việt Nam, nhƣng so với các bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống chuyên nghiệp lại là bộ môn “có tuổi đời trẻ nhất”. Có lẽ do quan niệm là trò chơi dân gian của ngƣời nông dân, nên công sức nghiên cứu dành cho Múa rối nƣớc đến nay thực sự chƣa nhiều, và khá muộn màng. Các công trình nghiên cứu về Múa rối nói chung, Múa rối nƣớc nói riêng, chỉ thực sự bắt đầu từ sau khi đƣợc công nhận là bộ môn nghệ thuật truyền thống, cụ thể vào những năm 60 của thế kỷ XX và chủ yếu hƣớng nghiên cứu nó dƣới góc nhìn nghệ thuật, theo thời gian, phải kể đến các công trình nhƣ sau: 1.2.1. Những nghiên cứu chung về Múa rối Từ hƣớng tiếp cận về nghệ thuật Múa rối, đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc: - A.Phêdôtôp với công trình Múa rối đƣợc xuất bản năm 1964 do Tô Kỳ Hoàng dịch. Công trình này tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật múa rối; giới thiệu một số thể loại rối: Rối nửa mình, rối dây, rối bóng. - Vì một nền nghệ thuật Múa rối Việt Nam Xã hội chủ nghĩa là tổng hợp nghiên cứu của nhiều tác giả do Ban nghiên cứu sân khấu xuất bản năm 1974, trong đó nghiên cứu chuyên sâu về con rối, tạo hình trong nghệ thuật rối, lời của nhân vật trong trò rối, động tác của rối, trang trí, nghệ thuật biên kịch rối... - Công trình Nghệ thuật Múa rối Việt Nam xuất bản năm 1974 của Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng là một tài liệu chuyên khảo cho bộ môn nghệ thuật truyền thống này. Công trình nghiên cứu giúp tiếp cận một cách tổng quan những vấn đề khi bƣớc đầu tìm hiểu về nghệ thuật Múa rối truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, trong phạm vi của một công trình mang tính đại cƣơng nên tác giả chƣa giải quyết đƣợc vấn đề nghiên cứu, đó là nguồn gốc của Múa rối và lịch sử hình thành nghệ thuật Múa rối 17 Việt Nam. Tác giả khẳng định nghệ thuật tạo hình là cơ sở hình thành nghệ thuật Múa rối, lấy đó làm căn cứ để lý giải quá trình hình thành nghệ thuật Múa rối. Đóng góp lớn của tác giả ở công trình này là trình bày một cách hệ thống, logic về quá trình phát triển của nghệ thuật Múa rối Việt Nam. - Nghệ thuật Múa rối và vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em, của Hoàng Kim Dung (1992), là công trình nghiên cứu về nghệ thuật Múa rối trong phạm vi giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi nhỏ. Tác giả nhấn mạnh và phân tích vai trò của con rối - yếu tố cơ bản chi phối tất cả các nghệ thuật tham gia tạo thành nghệ thuật của sân khấu Múa rối. Dƣới góc độ tâm lý học, tác giả đƣa ra nhận định Múa rối là loại hình phù hợp tâm lý thiếu niên, nhi đồng. Công trình nhìn nhận dƣới góc nhìn mới mẻ, tạo hƣớng mở cho những ngƣời nghiên cứu tiếp theo tìm hiểu sâu hơn về đề tài này. Tuy nhiên, do công trình mới dừng lại ở mức giới thiệu nên chƣa thể gợi ra đƣợc những vấn đề sâu sắc để ngƣời đọc cùng suy ngẫm. - Múa rối Việt Nam những điều nên biết (1997) là công trình đƣợc Hoàng Kim Dung tập hợp các bài nghiên cứu, thể hiện một cách có hệ thống về hoạt động nghệ thuật Múa rối Việt Nam đƣơng đại, về một số đơn vị nghệ thuật múa rối chuyên nghiệp và một số gƣơng mặt nghệ sĩ múa rối tiêu biểu trong các vai trò đạo diễn, nghệ sĩ biểu diễn, họa sĩ, nhà nghiên cứu. Công trình mang tính giới thiệu, chƣa thể hiện đƣợc luận điểm nghiên cứu và giải quyết những bức xúc trong thực trạng đặt ra. - Lịch sử nghệ thuật Múa rối Việt Nam (2005) là công trình mà ở đó nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng đã căn cứ vào những hiện vật và các tƣ liệu sử sách, sƣu tầm đƣợc để suy luận về nguồn gốc, thời điểm ra đời của nghệ thuật Múa rối truyền thống Việt Nam: “Có thể manh nha từ thời nhà Thục, khoảng thế kỷ III trƣớc Công nguyên trở về trƣớc và từ các trò nhỏ phục vụ cho phƣơng thuật, tôn giáo, tín ngƣỡng”. Tuy nhiên, con rùa – thần Kim Quy giúp An Dƣơng Vƣơng xây thành Cổ Loa chỉ là truyền thuyết nên chƣa đủ cơ sở khoa học để khẳng định Múa rối nƣớc có từ thế kỷ III trƣớc Công nguyên. - Nghệ thuật Rối và một số đặc trưng của sân khấu Rối Việt Nam (2006) là một chuyên khảo của tác giả Nguyễn Thành Nhân, nghiên cứu sâu dƣới góc nhìn nghệ 18 thuật. Trên cơ sở kế thừa lý luận của các nhà nghiên cứu đi trƣớc và kết quả khảo cứu của bản thân về một số nền nghệ thuật sân khấu Rối, một số trƣờng phái cùng đặc trƣng cơ bản của nghệ thuật sân khấu Rối trên thế giới, công trình đã làm sáng tỏ những đặc trƣng cơ bản của nghệ thuật sân khấu Rối Việt Nam, cùng những đặc điểm mỹ học của Rối nƣớc Việt Nam. Cuốn sách là nguồn tƣ liệu tham khảo hữu ích cho những ngƣời nghiên cứu tiếp theo về nghệ thuật Múa rối của Việt Nam. Tuy nhiên, dù đặt ra một số câu hỏi về nguồn gốc, lịch sử hình thành của Múa rối nƣớc ..., nhƣng cuối cùng tác giả cũng đành chấp nhận rằng: “Rối đã hình thành và phát triển từ rất lâu rồi, từ xa xƣa”. - Sơ thảo lịch sử sân khấu Việt Nam (2006) do Nhà xuất bản Sân khấu xuất bản là tập hợp các công trình của nhiều tác giả về lịch sử sân khấu Việt Nam, phân tích bối cảnh lịch sử xã hội để xác định thời điểm ra đời của sân khấu Việt Nam. Cuốn sách đã đề cập đến diện mạo chung của nền sân khấu Việt Nam ở từng giai đoạn và đi vào các thể loại sân khấu, trong đó có nghệ thuật Múa Rối. Tuy nhiên, vấn đề nêu ra dƣới góc độ lịch sử mới dừng lại ở mức độ khái quát, sơ thảo, chƣa thể hiện đƣợc lịch sử sân khấu Việt Nam một cách đầy đủ. - Diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam (2007), một chuyên khảo khác của tác giả Nguyễn Huy Hồng, đề cập về các thể loại sân khấu dân tộc của Việt Nam, trong đó, nghệ thuật Rối có ở Việt Nam, nhƣ một bộ phận cấu thành. Công trình mang tính giới thiệu, lý luận chƣa làm rõ đƣợc mối quan hệ mật thiết giữa diễn xƣớng dân gian với các thể loại nghệ thuật sân khấu Việt Nam. - Nối tiếp các công trình nghiên cứu nghệ thuật múa Rối, tác giả Văn Học với cuốn Nghệ thuật Múa rối cổ truyền đất Thăng Long (2009) đã đề cập sự hình thành và phát triển của nghệ thuật Múa rối truyền thống, giới hạn trong phạm vi Thăng Long Hà Nội. Tuy vậy, nội dung phân tích của tác giả về đặc điểm điều kiện tự nhiên, xã hội của vùng đất Thăng Long - Hà Nội chƣa đủ thuyết phục về sự hình thành nghệ thuật Múa rối nƣớc. Đây chính là vấn đề mà những ngƣời nghiên cứu tiếp theo rút kinh nghiệm khi tìm hiểu, lý giải về sự hình thành nghệ thuật Múa rối nƣớc Việt Nam. - Nghiên cứu chung về Múa rối còn phải kể đến tập hợp các bài nghiên cứu của
- Xem thêm -