Tài liệu Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước tại việt nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện

  • Số trang: 98 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 103 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ -------***------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: Cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Huyền Lớp : Anh 5 Khoá : 45 Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Việt Dũng Hà Nội, tháng 05/2010 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nƣớc là một giải pháp quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc trong chủ trƣơng đổi mới và sắp xếp lại khối Doanh nghiệp Nhà nƣớc đƣợc tiến hành trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế đất nƣớc từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng Xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ thực trạng kinh doanh kém hiệu quả của hệ thống doanh nghiệp Nhà nƣớc và mục đích chuyển đổi nền kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trƣờng thì việc đa dạng hoá các thành phần kinh tế cũng nhƣ hình thức sở hữu nền kinh tế là một điều tất yếu. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nƣớc nhằm đa dạng hoá hình thức sở hữu, đổi mới phƣơng thức quản lý đồng thời nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Hơn nữa, cổ phần hoá là một yếu tố quan trọng thúc đẩy thị trƣờng chứng khoán ở Việt Nam – thị trƣờng vốn yếu tố nội lực để phát triển nền kinh tế và hiện nay chƣa thể nói là đã phát triển hoàn thiện nhƣng lại rất quan trọng khi Việt Nam đang mở cửa để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng nhƣ thế giới. Khối doanh nghiệp Nhà nƣớc nắm giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Việt Nam với những ƣu thế rất lớn. Cổ phần hóa DNNN vừa nhằm xã hội hóa phƣơng thức tổ chức sản xuất kinh doanh, vừa nâng cao chất lƣợng hoạt động của hệ thống doanh nghiệp Nhà nƣớc. Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nƣớc đã đƣợc tiến hành ở Việt Nam trong gần 20 năm, nhƣng việc đổi mới hệ thống doanh nghiệp này là một quá trình lâu dài và có rất nhiều những khó khăn thử thách. Nhận định đƣợc mục tiêu, lợi ích cũng nhƣ tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam, em đã chọn đề tài nghiên cứu khóa luận của mình là: “Cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam: 1 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”. Qua đề tài, em nghiên cứu lý luận về công ty cổ phần, cổ phần hóa và phân tích thực trạng cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam từ đó đƣa ra giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn quá trình cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nƣớc. 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu là nhằm phân tích quá trình cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam để thấy đƣợc những kết quả đạt đƣợc, những mặt còn hạn chế và từ đó đƣa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  Đối tƣợng nghiên cứu : đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam trong thời gian vừa qua.  Phạm vi nghiên cứu : nghiên cứu và phân tích những nét khái quát cơ bản về nội dung, tính chất cơ bản của công ty cổ phần, cổ phần hóa và thực trạng cổ phần hóa dewoanh nghiệp Nhà nƣớc 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Khai thác thông tin từ các sách, báo, tạp chí nhằm tìm kiếm số liệu của tổng cục thống kê, các ban ngành chỉ đạo, tham khảo những nghiên cứu của những công trình trong nƣớc và quốc tế, từ đó phân tích, tổng hợp lại những kết quả về vấn đề này. 5. Kết cấu của khóa luận Khóa luận gồm có: Chương I: Những lý luận cơ bản về cổ phần hóa và sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa tại Việt Nam. Chương II: Thực trạng cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam Chương III: Giải pháp hoàn thiện cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam 2 Đây là một đề tài tƣơng đối rộng và phức tạp chính vì vậy khóa luận không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý phê bình của các thầy cô, độc giả để có thể có những hiểu biết hơn về vấn đề này. Em xin chân thành cám ơn sự hƣớng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy giáo TS. Nguyễn Việt Dũng đã giúp em hoàn thành khóa luận này. Hà Nội, ngày 15/4/2010 Sinh viên Nguyễn Thị Huyền 3 CHƢƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HOÁ TẠI VIỆT NAM I. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA 1. Công ty cổ phần 1.1 Khái niệm Công ty cổ phần là một công ty có số vốn đƣợc chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và đƣợc thành lập gồm nhiều hội viên gọi là cổ đông và chỉ chịu lỗ lãi trong số vốn mà họ đã góp. Giấy chứng nhận cổ phần gọi là cổ phiếu. Hiện nay ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp 2005,CTCP là doanh nghiệp, trong đó: vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác. 1.2 Đặc điểm 1.2.1 Là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập Pháp luật về công ty của các nƣớc đều xác lập một cách cụ thể về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của công ty cổ phần với tƣ cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực và tƣ cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty. Trong quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của mình; với tƣ cách chủ thể là pháp nhân thông qua ngƣời đại diện của mình theo qui định của pháp luật. Khi công ty mua sắm các tài sản mới, thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty chứ không thuộc sở hữu của các cổ đông công ty vì lúc này 4 CTCP là một pháp nhân, tách biệt hoàn toàn với các cổ đông. Trong trƣờng hợp này, cổ đông không đƣợc xem tài sản mà công ty mới mua sắm là tài sản của cá nhân mình; mặc dù trên thực tế cổ đông là chủ sở hữu một số quyền lợi có giá trị của công ty cổ phần nhƣ: quyền tham gia quản lý, điều hành công ty theo qui định, quyền đƣợc chia cổ tức, quyền đƣợc chia tài sản theo tỷ lệ cổ phần sở hữu khi công ty giải thể … Tuy nhiên, với tƣ cách là một pháp nhân, CTCP có quyền sở hữu tài sản riêng còn các cổ đông chỉ đƣợc sở hữu cổ phần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty. 1.2.2 Các cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn Khi một tổ chức hay cá nhân mua cổ phiếu của CTCP tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những phƣơng thức nhất định vào công ty cổ phần và trở thành tài sản thuộc sở hữu của CTCP, nhƣng cổ đông vẫn đƣợc hƣởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn. Vốn thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tƣ vào công ty, nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty đƣợc hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tƣ vào cổ phiếu của mình. Xét về phƣơng diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của công ty cổ phần nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty cổ phần; công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình. Cả CTCP lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ trƣờng hợp cổ đông nợ công ty do chƣa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chƣa thanh toán đủ cho công ty cổ phần số tiền mua cổ phiếu phát hành. Đây là điểm khác nhau cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh, đối với công ty hợp danh hay doanh nghiệp tƣ nhân (theo pháp luật Việt Nam) và đối với công ty đối nhân hay doanh nghiệp một chủ của hầu hết các nƣớc thì các thành viên hợp danh (hay thành viên nhận vốn) và chủ doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm cá nhân vô 5 hạn về các nghĩa vụ của công ty hay của doanh nghiệp bằng tài sản của mình, bất kể tài sản đó có liên quan đến hoạt động kinh doanh hay không. Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tƣ đầu tƣ vào CTCP nhiều hơn so với đầu tƣ vào các loại hình doanh nghiệp khác mà ở đó họ phải chịu trách nhiệm vô hạn. Bất kỳ nhà đầu tƣ nào cũng hiểu rằng khi mình đầu tƣ vào công ty cổ phần với tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông thì không bao giờ mình bị mất nhiều hơn so với số vốn đã bỏ ra đầu tƣ vào công ty cổ phần nên họ ít sợ rủi ro hơn ngƣời đầu tƣ vốn vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tƣ nhân, những ngƣời này phải thấp thỏm lo âu khi tình hình kinh doanh của doanh nghiệp xấu đi, vì họ có thể mất toàn bộ tài sản bất kỳ khi nào. Chính lợi thế này mà các CTCP có khả năng huy động rất lớn các nguồn vốn đầu tƣ của xã hội vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình. 1.2.3 Chuyển nhượng phần vốn góp một cách tự do Hầu hết pháp luật về công ty của các nƣớc trên thế giới đều qui định và cho phép chuyển nhƣợng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành từ cổ đông sang chủ sở hữu mới. Vì khác với các loại công ty khác, vốn điều lệ của CTCP đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Việc góp vốn vào CTCP đƣợc thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu đƣợc xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông. Các cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là hàng hoá nên các cổ đông khi sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhƣợng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho ngƣời khác thì họ thực hiện rất dễ dàng. Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo qui định của pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhƣợng các phần vốn góp của mình, thành viên đó phải chuyển nhƣợng 6 trƣớc hết cho các thành viên còn lại trong công ty hoặc chỉ đƣợc chuyển nhƣợng cho ngƣời không phải là thành viên công ty trong trƣờng hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết. Đó là lý do giải thích vì sao có rất nhiều ngƣời muốn đầu tƣ vào CTCP chứ không muốn đầu tƣ vào các loại hình doanh nghiệp khác. Đây cũng là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trƣờng chứng khoán. 1.2.4 Cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt CTCP không thể đƣợc thành lập và hoạt động nếu không có vốn. Vốn là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng nhƣ quan hệ với các đối tác bên ngoài. Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty đƣợc xem là cội nguồn của quyền lực. Với đặc trƣng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong CTCP sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty. Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của CTCP là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty. Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong CTCP là yếu tố năng động nhất. Các qui luật kinh tế thị trƣờng chỉ ra rằng cùng với sự lƣu thông hàng hoá là sự lƣu thông tiền tệ, tức là sự tru chuyển các nguồn vốn. Sự phát triển của CTCP tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế. Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế, vừa bị ảnh hƣởng bởi ý chí chủ quan của con ngƣời. Điều này đặt ra một đòi hỏi là con ngƣời phải tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn để có thể đáp ứng đƣợc sự vận động linh hoạt của vốn. Sự linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tƣ, vừa không mất đi bản chất vốn có của CTCP. Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân công ty cổ phần khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tƣ cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhƣợng đó mà bị thay đổi. 7 Theo các qui định của Luật Doanh nghiệp thì công ty cổ phần ở Việt Nam có thể qui định và phát hành nhiều loại cổ phiếu khác nhau nhƣ: cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ƣu đãi (trong cổ phiếu ƣu đãi có: cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết, cổ phiếu ƣu đãi cổ tức, cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại và các loại cổ phiếu ƣu đãi khác…) và các loại trái phiếu. Đây sẽ là những loại chứng khoán đƣợc phát hành rộng rãi ra công chúng nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu tƣ cho kinh doanh của công ty. Ngoài ra, khi xây dựng giá trị các cổ phiếu của công ty thì các công ty thƣờng xác lập mệnh giá của cổ phiếu thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà đầu tƣ dù cho khả năng tài chính không nhiều nhƣng vẫn có khả năng tham gia đầu tƣ vốn vào CTCP. 1.2.5 Tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và không hạn chế về thời gian tồn tại Với các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân hay công ty hợp danh, sự tồn tại của các doanh nghiệp này luôn luôn gắn liền với tƣ cách của chủ sở hữu doanh nghiệp hay các thành viên hợp danh; bởi vì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này có thể sẽ bị kết thúc cùng với cái chết, sự rút lui hay sự khánh tận của chủ doanh nghiệp tƣ nhân hay của một trong các thành viên hợp danh của công ty. Nhƣng đối với CTCP thì hoạt động kinh doanh của công ty hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì có thể xảy ra đối với các cổ đông trong công ty; bởi vì CTCP có tƣ cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc thậm chí cái chết có xảy ra đối với các cổ đông thì công ty cổ phần vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển mà hoàn toàn không hề bị ảnh hƣởng gì. Đây chính là một ƣu điểm bảo đảm cho việc kinh doanh của công ty diễn ra một cách liên tục và ổn định. Mặt khác, các luật công ty hiện đại của một số nƣớc đều không hạn chế thời gian tồn tại của công ty cổ phần trừ những trƣờng hợp nhƣ: công ty phá sản hoặc các cổ đông cùng thoả thuận chấm dứt hoạt động hay vì một lý do nào khác mà điều lệ công ty qui định. Chính sự ổn định trong kinh doanh và thời gian hoạt 8 động lâu dài đã tạo cho các CTCP có đƣợc sự thu hút mạnh mẽ và đƣợc ƣa chuộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. 1.2.6 Cơ chế quản lý tập trung cao Với tƣ cách là một pháp nhân độc lập, trong CTCP có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý. Đó là việc các cổ đông sẽ bầu ra Ban giám đốc và Ban giám đốc sẽ thay mặt các cổ đông quản lý công ty. Nhƣ vậy, trong CTCP việc quản lý đƣợc tập trung hoá cao vào Ban giám đốc mà không dàn trải đều việc quản lý cho các cổ đông nhƣ đối với công ty hợp danh; bởi vì trong công ty hợp danh việc quản lý công ty đƣợc thực hiện bởi các thành viên hợp danh với tƣ cách là những ngƣời chịu trách nhiệm vô hạn hoặc liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của công ty nên họ đƣợc toàn quyền quản lý công ty và nhân danh công ty trong các hoạt động. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn đƣợc thể hiện ở việc luật công ty hiện đại của một số nƣớc còn qui định cho phép giám đốc quản lý công ty có thể không phải là cổ đông của công ty. Giám đốc có thể là ngƣời đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, là ngƣời điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Rõ ràng việc qui định nhƣ vậy một mặt thu hút đƣợc những ngƣời quản lý chuyên nghiệp đƣợc công ty thuê làm công tác quản lý, mặt khác tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý đã tạo cho CTCP có đƣợc sự quản lý tập trung cao thông qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý các doanh nghiệp có qui mô lớn. Khác với doanh nghiệp tƣ nhân là việc quản lý mang tính chất nội bộ gia đình, CTCP có một cơ chế quản lý hợp lý, minh bạch rõ ràng. Tóm lại: Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi chúng ta chủ trƣơng phát triển nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng Xã hội chủ nghĩa thì việc giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội theo hƣớng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình độ quản lý và các nguồn lực vật chất 9 cần thiết khác cho nhu cầu đầu tƣ và phát triển của đất nƣớc là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tiến trình đẩy mạnh việc khai thác các nguồn lực quốc gia, chúng ta không thể không tính đến yếu tố nội lực. Nhìn lại các loại hình doanh nghiệp hiện nay mà pháp luật Việt Nam cho phép thành lập và hoạt động, tuy mỗi loại đều có những điểm mạnh nhất định đòi hỏi các nhà kinh doanh cần nắm bắt để khai thác và vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện của nền kinh tế. 1.3 Tổ chức quản lý của công ty cổ phần Do tính chất có nhiều chủ sở hữu của CTCP nên các cổ đông không thể trực tiếp vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ quản lý lãnh đạo công ty đó là: Đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc điều hành và kiểm soát viên. Cơ cấu của CTCP hoạt động chặt chẽ với sơ đồ sau:  Đại hội đồng cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần.  Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan tới mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông.  Ban kiểm soát: công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát, ban kiểm soát bầu một thành viên làm trƣởng ban kiểm soát, trƣởng ban kiểm soát phải là cổ đông. Ban kiểm soát về mô hình có vị thế tƣơng đối khá cao, tƣơng đƣơng với hội đồng quản trị và trên cả ban giám đốc.  Ban giám đốc: quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị và lên kế hoạch kinh doanh. 10 Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần. Theo sơ đồ trên thì trong cơ cấu tổ chức và điều lệ hoạt động của Công ty cổ phần có: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban giám đốc quản lý công ty. Mỗi bộ phận đều có những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau. 2. Cổ phần hoá 2.1 Khái niệm Cổ phần hoá nói chung diễn có thể diễn ra tại các doanh nghiệp tƣ nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và tại các Doanh nghiệp Nhà nƣớc. Cổ phần hoá theo nghĩa rộng là quá trình chuyển một doanh nghiệp từ các hình thức tổ chức kinh doanh khác sang hình thái CTCP. Cổ phần hoá DNNN là chuyển DNNN thành CTCP, trong đó chuyển toàn bộ hay một phần vốn và tài sản thuộc sở hữu Nhà nƣớc và các lĩnh vực lâu nay Nhà nƣớc độc quyền cho các cổ đông. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nƣớc không chỉ là quá trình chuyển sở hữu Nhà nƣớc sang các cổ đông thông qua việc bán một phần hay toàn bộ cổ phần doanh nghiệp mà còn có cả việc DNNN thu hút thêm vốn thông qua phát hành thêm cổ phiếu để trở thành CTCP. 11 Xét về bản chất cổ phần hoá DNNN là việc Nhà nƣớc bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp hoặc phát hành thêm cổ phiếu bán cho các đối tƣợng là tổ chức, cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trƣờng chứng khoán. Cổ phần hoá DNNN chính là phƣơng thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu Nhà nƣớc trong doanh nghiệp thành nhiều chủ sở hữu, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang đa chủ sở hữu thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp cho ngƣời khác để tạo ra một doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trƣờng, những ngƣời này trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp theo tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu. CPH DNNN chính là quá trình chuyển đổi toàn bộ những DNNN mà Nhà nƣớc không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần. CPH DNNN gắn liền với việc DNNN chuyển sang hoạt động dƣới tên công ty và luật CTCP, không còn là DNNN nữa. Ở Việt Nam, ngƣời ta thƣờng nhầm lẫn giữa cổ phần hoá và tƣ nhân hoá. Một số nghiên cứu cho rằng việc thực hiện tƣ nhân hoá các Doanh nghiệp cũng gần tƣơng đồng với quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam. Nhƣng tƣ nhân hoá DNNN là một khái niệm rộng và đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Có thể hiểu tƣ nhân hóa là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ Nhà nƣớc sang tƣ nhân, đồng thời, chuyển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ Nhà nƣớc độc quyền sang cho tƣ nhân đảm nhiệm. Nhƣng trên thực tế, CPH và tƣ nhân hoá DNNN về bản chất lại khác nhau ở một số điểm sau: Thứ nhất, CPH DNNN nhằm thực hiện đa dạng hoá sở hữu nhƣng Nhà nƣớc vẫn giữ tỷ lệ cổ phần chi phối 51% (đối với những Doanh nghiệp đƣợc xác định là quan trọng đối với nền kinh tế), Nhà nƣớc vẫn có thể chi phối doanh nghiệp sau CPH. Trong khi tƣ nhân hoá Nhà nƣớc thƣờng bán lại 12 toàn bộ doanh nghiệp cho tƣ nhân (có thể một vài cá nhân) hoặc nếu Nhà nƣớc có giữ lại cổ phần nhƣng thƣờng với tỷ lệ không lớn và không phải là cổ phần chi phối. Thứ hai, CPH DNNN nhằm tạo cho DN sau khi cổ phần hoá với cơ chế hoạt động nhiều chủ sở hữu hơn, không khẳng định tầm quan trọng của thành phần kinh tế nào hơn nhƣng với tƣ nhân hoá theo một số quan điểm lại là biện pháp nhằm tăng vai trò của thành phần kinh tế tƣ nhân, ví dụ nhƣ xoá bỏ điều tiết Nhà nƣớc, cho phép tƣ nhân tiếp cận thị trƣờng trƣớc cả doanh nghiệp Nhà nƣớc. 2.2 Nội dung của cổ phần hoá. Quá trình CPH DNNN bao gồm nhiều nội dung nhƣng chủ yếu phải xác định đƣợc đối tƣợng CPH DNNN, hình thức CPH DNNN và những vấn đề khác. 2.2.1 Đối tượng của cổ phần hoá Đối tƣợng cổ phần hoá là các DNNN thoả mãn một số điều kiện gắn với quan điểm của từng quốc gia, phụ thuộc vào nhận thức kinh tế và hoàn cảnh lịch sử của quốc gia đó. Nói chung đối tƣợng CPH là những doanh nghiệp mà Nhà nƣớc không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ. Ở Việt Nam cổ phần hoá đƣợc đặt trong chƣơng trình tổng thể đổi mới, sắp xếp DNNN. Các DNNN (kể cả các tổng công ty) đều là đối tƣợng cổ phần hoá (không phụ thuộc vào thực trạng sản xuất kinh doanh). Tuy nhiên, những DN này không nằm trong diện giải thể, phá sản và không thuộc lĩnh vực mà Nhà nƣớc cần nắm giữ 100% vốn điều lệ nhƣ: sản xuất cung ứng vật liệu nổ, hoá chất độc, phóng xạ, hệ thống truyền tải điện quốc gia, mạng thông tin, quốc phòng, an ninh… 2.2.2 Hình thức cổ phần hoá Cổ phần hoá DNNN có thể tiến hành theo hình thức nhƣ:  Giữ nguyên giá trị phần vốn Nhà nƣớc hiện có tại DN, phát hành thêm cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp. Hình thức này 13 nhằm thu hút vốn ngoài xã hội đầu tƣ, phát triển, tăng vốn hoạt động cho doanh nghiệp.  Bán toàn bộ phần giá trị thuộc vốn Nhà nƣớc hiện có tại doanh nghiệp. hình thức này đƣợc áp dụng cho những DNNN thuộc đối tƣợng mà Nhà nƣớc cần nắm giữ cổ phần.  Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nƣớc tại doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần, tức là Nhà nƣớc không còn nắm giữ cổ phần tại công ty. Mỗi hình thức CPH đều có những ƣu điểm và nhƣợc điểm riêng. Nhƣng sự đa dạng trong hình thức sẽ tạo thêm cho DN nhiều lựa chọn phù hợp với ngành nghề kinh doanh, loại hình DNNN đang tồn tại, mục đích của chủ sở hữu để tiến hành cổ phần hoá. 2.2.3 Các vấn đề về tài chính khi tiến hành cổ phần hóa Trƣớc khi có thể CPH DNNN, phải xem xét các vấn đề về tài chính trong quá trình CPH. Trƣớc hết, phải xác định đƣợc giá trị doanh nghiệp. Trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp thì phải xác định đƣợc những khoản nợ của doanh nghiệp để từ đó và xử lý các khoản nợ để tiến hành cổ phần hoá. Nếu không xử lý xong nợ, đặc biệt là những khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi thì cũng khó có thể CPH đƣợc. Với giá trị doanh nghiệp đã đƣợc xác định, thì cần phải bán cổ phần doanh nghiệp, đó là khâu cuối cùng kết thúc quá trình CPH DNNN. Khi bán cổ phần phải giải quyết nhiều vấn đề nhƣ: Xác định giá bán ban đầu, phƣơng thức bán, xử lý tiền thu về bán cổ phần,…thông qua bán cổ phần thì Nhà nƣớc mới thu đƣợc tiền về chuyển đổi sở hữu DNNN. Chính vì vậy, bán cổ phần có thể coi là một vấn đề về tài chính khi tiến hành CPH DNNN. 2.3 Những điều kiện cần có để thực hiện cổ phần hoá Chuyển hoá DNNN sang hình thức công ty cổ phần là một công việc phức tạp, không thể thực hiện trong thời gian ngắn và để quá trình hoạt động 14 có hiệu quả thì phải thực sự chuẩn bị những điều kiện cần thiết tạo môi trƣờng cho công ty cổ phần. Một là sớm tạo ra cơ sở pháp lý và cơ sở phƣơng pháp luận cho việc chuyển hoá sở hữu DNNN. Đó là việc dự thảo và thông qua các văn bản luật pháp và pháp quy, việc chủ động thực hiện và phối hợp hoạt động hệ thống các cơ quan chức năng có liên quan. Trong tất cả những công việc đó rất cần có một đội ngũ chuyên gia giỏi, nhạy bén, năng động với đủ trình độ nghiên cứu, xử lý những vấn đề phát sinh ở doanh nghiệp cần chuyển hoá sở hữu cũng nhƣ trong quá trình chuyển đổi sở hữu tiếp sau. Trong những văn bản nêu trên cần phải xác định những điều kiện pháp lý phổ biến nhƣ: cách tiếp cận các Doanh nghiệp để tiến hành cổ phần hoá, khả năng tham dự vào việc chuyển đổi của công ty, cách thức xem xét các ý kiến khác nhau của tập thể lao động, hình thức và phƣơng thức cổ phần hoá. Hai là, phải lập xong chƣơng trình tiến hành bao gồm những công việc chủ yếu: nhiệm vụ cụ thể của quá trình cổ phần hoá và phân loại tài sản và DNNN theo quy mô và xác định tỷ trọng chuyển đổi sở hữu trong chuyển đổi sở hữu trong từng loại nhỏ, trung bình, lớn và những doanh nghiệp không chuyển hoá sở hữu trong từng ngành, từng lĩnh vực, cải cách cơ chế quản lý ngân hàng, trình tự tiến hành kiểm kê và định rõ nguồn hình thành giá trị của các loại tài sản, vốn, quỹ xí nghiệp theo mức giá thị trƣờng… Ba là, phải có sự quyết tâm của Chính Phủ. Toàn bộ những bƣớc đi của quá trình chuyển hoá sở hữu các DNNN từ đặt vấn đề, đến xem xét môi trƣờng kinh doanh, những thay đổi về luật pháp, cách thức chuyển các DNNN sang cơ chế thị trƣờng. Không thể tiến hành nếu thiếu sự quyết tâm của chính phủ và thái độ kiên quyết của các cơ quan có trách nhiệm. Thứ tƣ là phải có sự thông hiểu và ủng hộ của quần chúng. Nếu muốn quá trình này đƣợc thực thi một cách suôn sẻ thì trƣớc hết phải công khai hoá nó qua đó sẽ tạo ra sự hƣởng ứng của dƣ luận xã hội, và xác lập một môi trƣờng cho việc mở rộng đầu tƣ trong nƣớc. 15 II. DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TẠI VIỆT NAM 1. Doanh nghiệp Nhà nƣớc 1.1 Khái niệm Theo luật doanh nghiệp Nhà nƣớc do Quốc hội nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hình ngày 20/4/1995 thì doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Doanh nghiệp nhà nƣớc là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc đầu tƣ vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nƣớc giao. Nhƣ vậy, DNNN là tổ chức kinh tế đƣợc Nhà nƣớc thành lập để thực hiện những mục tiêu do Nhà nƣớc giao. Và DNNN do Nhà nƣớc đầu tƣ vốn nên tài sản trong doanh nghiệp là thuộc sở hữu Nhà nƣớc, còn doanh nghiệp chỉ quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu là Nhà nƣớc. Doanh nghiệp Nhà nƣớc có tƣ cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Nghĩa là doanh nghiệp Nhà nƣớc chịu trách nhiệm hữu hạn về số nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số tài sản do doanh nghiệp quản lý. Tất cả các doanh nghiệp Nhà nƣớc đều là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc thành lập. Tài sản trong doanh nghiệp là một bộ phận của tài sản Nhà nƣớc do Nhà nƣớc đầu tƣ vốn và Nhà nƣớc sở hữu về vốn. Doanh nghiệp Nhà nƣớc là một chủ thể kinh doanh nhƣng chỉ có quyền quản lý kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nƣớc. Doanh nghiệp Nhà nƣớc là đối tƣợng quản lý trực tiếp của Nhà nƣớc, chịu trách nhiệm trƣớc Nhà nƣớc về việc bảo toàn và phát triển số vốn của Nhà nƣớc giao cho, đồng thời thực hiện các mục tiêu mà Nhà nƣớc giao. 16 Theo tinh thần của Nghị Quyết Đại hội Đảng lần IX và Hội nghị BCH TW lần thứ 3 khoá IX thì quan niệm về DNNN có đổi mới và đƣợc phát triển thêm một bƣớc quan trọng. Theo đó, DNNN không chỉ do Nhà nƣớc nắm giữ 100% vốn mà còn bao gồm cả DN do NN chiếm cổ phần chi phối. Theo điều I, Luật DNNN năm 2003 quy định: “DNNN là tổ chức kinh tế do NN sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có Cổ phần, vốn góp chi phối, đƣợc tổ chức dƣới hình thức Công ty Nhà nƣớc, Công ty Cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn”. Trong đó, Công ty Nhà nƣớc giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác là công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc là cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối đối với DN đó. Và quyền chi phối. Đối với doanh nghiệp là quyền định đoạt đối với hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và các quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp đó (Điều 3, khoản 7.8 Luật DNNN 2003). Trên quan điểm kế thừa và đổi mới Luật DNNN năm 2003, Điều 4, khoản 22 và khoản 1 Luật DNNN năm 2005 quy định: “DNNN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh trong đó Nhà nƣớc sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Nhƣ vậy, đối tƣợng doanh nghiệp thuộc diện DNNN đã đƣợc mở rộng ra, trong mọi trƣờng hợp, dù doanh nghiệp đƣợc hình thành dƣới bất kì hình thức nào, chỉ cần có trên 50% vốn điều lệ thuộc sở hữu Nhà nƣớc sẽ đƣợc coi là DNNN. Đặc biệt, điểm mới ở đây là sự giải phóng về mặt quản lý của Nhà nƣớc đối với doanh nghiệp khi loại bỏ điều kiện về “Cổ phần vốn góp chi phối” và “giữ quyền chi phối” đối với doanh nghiệp. Nhƣ vậy, khái niệm DNNN ở Việt Nam chỉ dựa trên cơ sở phần vốn điều lệ mà Nhà nƣớc nắm giữ. Tuy nhiên, do đặc thù nền kinh tế thị trƣờng 17 định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta, tỷ lệ này vẫn còn khá cao (50%) so với các nƣớc khác trên thế giới. 1.2 Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước DNNN tồn tại nhƣ là một tất yếu khách quan trong bất kì hình thức nền kinh tế nào. Trong cơ chế cũ xã hội chủ nghĩa các doanh nghiệp Nhà nƣớc tồn tại tràn lan và nay trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, các DNNN nhà nƣớc vẫn nắm giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và hệ thống kinh tế quốc doanh cần phải củng cố và phát triển trong ngành và lĩnh vực then chốt, quan trọng, có tác dụng mở đƣờng và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển. Doanh nghiệp Nhà nƣớc có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nƣớc đối với nền kinh tế thị trƣờng. Đây là yêu cầu có tình quy luật chung của sự phát triển kinh tế xã hội, vì bản thân nền kinh tế chứa đựng những khuyết tật mà muốn khắc phục nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nƣớc. Các doanh nghiệp NN bao gồm những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và những doanh nghiệp hoạt động công ích đƣợc củng cố và phát triển trong các ngành và lĩnh vực then chốt, tạo cơ sở hạ tầng và tiền đề tốt cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thông qua DNNN, Nhà nƣớc tạo nguồn dự trữ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trƣờng, thực hiện điều chỉnh các cân đối cơ bản của nền kinh tế. DN thực hiện việc đầu tƣ có định hƣớng để khắc phục bản chất của nền kinh tế thị trƣờng, duy trì môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, chống xu hƣớng độc quyền của tập đoàn tƣ nhân, đi đầu trong đổi mới công nghệ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hƣớng năng suất – chất lƣợng – hiệu quả. Nhƣ vậy, vai trò chủ đạo của DNNN xuất phát từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trƣờng nƣớc ta và đƣợc ghi thành chủ trƣơng, chính sách và pháp luật của Nhà nƣớc. Vai trò luật định này là yếu tố quan trọng chi 18 phối sự điều chỉnh pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của DNNN. Để thực hiện đƣợc vai trò đó trƣớc hết phải kiên quyết đổi mới hệ thống DN này. Việc đổi mới phải đƣợc đặt trong sự phát triển tổng thế nền kinh tế quốc dân và phải xuất xứ từ thực trạng DNNN nƣớc ta. 1.3 Hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước và hạn chế 1.3.1 Khái quát về hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước Các DNNN ở Việt Nam đƣợc hình thành từ năm 1954 ở miền Bắc, từ năm 1975 ở miền Nam và từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Từ nguồn vốn của ngân sách Nhà nƣớc, nguồn viện trợ hoặc đi vay hoặc là quốc hữu hoá xí nghiệp của các nhà tƣ sản. Tính tới thời điểm trƣớc đại hội Đảng lần thứ VI (1986), DNNN đã hình thành và phát triển với một cơ cấu tƣơng đối hoàn chỉnh, ở tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân nhƣ hàng không, hàng hải, bƣu điện, đƣờng sắt, nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá đến các dịch vụ đơn giản. Doanh nghiệp Nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và nắm 100% các ngành then chốt nhƣ điện khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy công cụ, hoá chất, nhiên liệu, xi măng, bƣu điện viễn thông, giao thông đƣờng sắt, đƣờng thuỷ, ngoại thƣơng, ngân hàng, quốc phòng và an ninh. Trong công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, lực lƣợng doanh nghiệp nhà nƣớc cũng chiếm tỉ trọng tuyệt đối lớn hoặc phần lớn đối với các sản phẩm chủ yếu nhƣ: 100% hàng dệt kim, thuốc chữa bệnh, bia. Các DNNN chiếm khoảng 85% vốn cố định của nền kinh tế, 90% lao động có kỹ thuật, cán bộ khoa học và quản lý đƣợc đào tạo của nƣớc. Nhà nƣớc cũng ƣu tiên dành nhiều nguồn lực để phát triển các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Chỉ tính riêng trong khoảng mƣời năm, từ 1976 tới 1985, Nhà nƣớc đã phân bố từ 60% - 70% vốn đầu tƣ của toàn bộ nền kinh tế và trên 90% vốn tín dụng với lãi suất ƣu đãi cho các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Tính cho tới thời điểm sau cải cách năm 1991, số lƣợng doanh nghiệp Nhà nƣớc còn 19
- Xem thêm -